GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
14_de_thi_hsg_cap_tinh_mon_van_10_co_dap_an_D

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:22' 27-12-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 15h:22' 27-12-2025
Dung lượng: 1.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ SỐ 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 10 THPT
HẢI DƯƠNG
NĂM HỌC 2023 - 2024
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN 10
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 05 tháng 4 năm 2024
Câu 1. (4,0 điểm)
Chẳng có ai tẻ nhạt mãi trên đời
Mỗi số phận chứa một phần lịch sử
Mỗi số phận riêng, dù rất nhỏ
Chắc hành tinh nào đã sánh nổi đâu?
(“Chẳng có ai tẻ nhạt mãi trên đời” - Evgeny Evtushenko)
Những dòng thơ trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Câu 2. (6,0 điểm)
“Nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ. Người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính
mình”.
(Lưu Quý Kỳ)
Bằng trải nghiệm về thơ, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
---------- HẾT ---------(Thí sinh không sử dụng tài liệu, cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Họ và tên thí sinh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Số báo danh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Người coi thi số 1. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Người coi thi số 2. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
HƯỚNG DẪN CHẤM
A. YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm.
Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức độ điểm một cách hợp lí, khuyến khích
những bài viết có cảm xúc, sáng tạo.
- Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của đề, diễn
đạt tốt vẫn cho đủ điểm.
- Điểm bài thi có thể cho lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn.
B. YÊU CẦU CỤ THỂ
Câu 1 (4,0 điểm)
a. Yêu cầu về kĩ năng:
- Thí sinh nắm vững và biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội.
- Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận…;
dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc, lí lẽ thuyết phục…
- Bố cục rõ ràng, mạch lạc, hành văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
b. Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ của mình theo nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lí, có sức
thuyết phục và cần tập trung làm rõ những nội dung cơ bản sau:
Ý
Nội dung
Điểm
1
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Vai trò, giá trị của mỗi con người cá nhân
0,25
trong mối quan hệ với lịch sử và sự phát triển của xã hội.
2
Giải thích
- “Chẳng có ai tẻ nhạt”: không có ai trên đời là nhạt nhoà, vô nghĩa;
khẳng định vai trò, giá trị của con người cá nhân.
- “Mỗi số phận chứa một phần lịch sử”: mỗi cá nhân mang trong mình một
phần lịch sử phát triển của một cộng đồng, xã hội; góp phần làm nên sự đa
dạng, tạo nên nét đặc trưng cho cộng đồng.
- “Mỗi số phận riêng, dù rất nhỏ/Chắc hành tinh nào đã sánh nổi”: mỗi con
người dù hết sức nhỏ bé nhưng đều có thể đóng góp những giá trị lớn lao và trở
nên cao cả, vĩ đại.
Những dòng thơ đề cao vai trò và giá trị của mỗi con người cá nhân: mỗi
0,5
người sinh ra đều mang trong mình những điều kì diệu, đều góp phần làm nên
lịch sử của nhân loại; không điều gì có thể sánh được với sự cao cả, lớn lao của
con người.
3
Phân tích lí giải
2,5
- Mỗi cá nhân là một cá thể độc đáo, duy nhất, không lặp lại; đều có cuộc đời,
số phận, cá tính và những nét riêng đặc sắc.
- Không có cá nhân thì không thể có xã hội, cũng không thể có lịch sử phát
triển xã hội. Những nét riêng đặc sắc của mỗi cá nhân hợp thành màu sắc phong
phú, đa dạng cho xã hội.
- Mỗi cá nhân tuỳ theo từng khả năng của mình sẽ có những đóng góp nhất định
về vật chất, tinh thần cho xã hội, tạo nên sức mạnh to lớn cho cộng đồng, làm
nên những biến đổi trong lịch sử, thúc đẩy lịch sử phát triển. Soi vào số phận
mỗi con người ta thấy được bóng dáng của thời đại, của lịch sử.
- Mỗi cá nhân sẽ để lại dấu ấn riêng của bản thân mình với cuộc đời, thời đại.
Điều đó khiến con người trở nên lớn lao, vĩ đại và được trân trọng, tôn vinh.
(Trong quá trình phân tích, lí giải, HS cần có dẫn chứng phù hợp để minh hoạ)
4
Bàn luận, mở rộng vấn đề
0,5
- Đề cao vai trò, giá trị của cá nhân nhưng cũng cần tránh tư tưởng, thái độ tự
cao, tự đại.
- Phê phán những người sống không mục đích, không lí tưởng, không nỗ lực
khẳng định và nâng cao giá trị bản thân; không có tinh thần trách nhiệm và ý
thức đóng góp, cống hiến cho sự phát triển của cộng đồng và xã hội; có những
suy nghĩ, hành vi thiếu tôn trọng giá trị của con người.
5
Bài học nhận thức và hành động
- Có quan niệm đúng đắn về giá trị con người, về vai trò của mỗi cá nhân đối
với lịch sử và sự phát triển xã hội.
- Mỗi người cần nỗ lực phấn đấu để sống một cuộc đời phong phú, có ích cho
xã hội.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2 (6,0 điểm)
0,25
a. Về kĩ năng:
- Thí sinh tạo lập được một bài văn nghị luận văn học, vận dụng tốt các thao tác lập luận.
- Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận.
- Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý cơ bản sau:
Ý
Nội dung
Điểm
1
Giới thiệu vấn đề nghị luận
0,5
2
Giải thích
0,5
- “Nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ”: tác phẩm thơ thể hiện đời sống
tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ.
- “Người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính mình”: thơ ca đem đến sự
đồng cảm, đồng điệu, cảm thông và chia sẻ giữa nhà thơ và người đọc.
Nhận định đề cập đến đặc trưng cơ bản của thơ và khẳng định ý nghĩa sâu xa
của tiếng nói trữ tình trong thơ đối với con người.
3
Lí giải vấn đề
1,0
- “Nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ”: là một thể loại văn học thuộc
phương thức biểu hiện trữ tình, thơ là tiếng nói của tình cảm, là những rung
động của trái tim con người trước cuộc đời. Trong thơ, tác giả trực tiếp bộc lộ
tình cảm, cảm xúc, tư tưởng của mình, mang đậm tính chủ quan.
- “Người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính mình”:
+ Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác phẩm
thơ chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời,
về nhân loại.
+ Vì tình cảm trong thơ vừa mang tính cá thể, vừa có tính điển hình; vừa là nỗi
lòng riêng, vừa là tiếng lòng chung nên người đọc dễ dàng tìm được sự chia sẻ,
đồng điệu, được khơi dậy những rung động, những tình cảm phong phú.
4
Phân tích, chứng minh
Học sinh tự lựa chọn tác phẩm thơ và có thể trình bày theo những cách
khác nhau để làm sáng tỏ ý kiến. Khi chứng minh, học sinh cần làm rõ
được các vấn đề:
3,0
- Những sắc thái, cung bậc tình cảm, cảm xúc của nhà thơ được bộc lộ trong
tác phẩm; sự phù hợp giữa nội dung cảm xúc và hình thức biểu đạt.
- Những tình cảm, cảm xúc riêng tư nhưng vẫn mang ý nghĩa khái quát về con
người, cuộc đời, nhân loại; sự đồng điệu về cảm xúc, tình cảm của người đọc
với nhà thơ.
5
Đánh giá chung, mở rộng
0,75
- Nhận định đúng đắn, sâu sắc về đặc trưng và giá trị của tác phẩm thơ; gợi mở
tiêu chí để đánh giá một tác phẩm thơ ca chân chính. Thơ ca chân chính luôn là
điểm tựa tinh thần của con người, thoả mãn được nhu cầu đồng cảm và sẻ chia
giữa người đọc và người nghệ sĩ.
- Đối với người sáng tác: nhận định vừa là định hướng, vừa là yêu cầu với
người nghệ sĩ. Để tác phẩm từ “tâm tình” của một người trở thành “tâm tình”
của muôn người, nhà văn phải có tấm lòng tha thiết với con người, với cuộc
đời; phải có cảm xúc chân thành, mãnh liệt; có tài năng nghệ thuật điêu luyện.
- Đối với người đọc: định hướng về con đường tiếp nhận thơ ca từ đặc trưng
thể loại.
6
Kết thúc, khẳng định vấn đề nghị luận
---------- HẾT ----------
0,25
ĐỀ SỐ 2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH THPT
TỈNH QUẢNG NAM
NĂM HỌC 2023 – 2024 ĐỢT 2
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN 10 (CHUYÊN)
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 15/03/2024
Câu 1. (8. 0 điểm)
Anh/Chị hãy trình bày suy nghĩ về vấn đề đặt ra từ lời nhắn nhủ:
Đừng đối xử tệ với chính mình, đừng hy vọng kiếp sau vì có lẽ kiếp trước chúng ta cũng
từng hy vọng cuộc sống mới ở kiếp này rồi. Trời vẫn xanh, hoa vẫn nở, mong rằng chúng ta vẫn
sống với trái tim lương thiện giữa cuộc đời. (Lê Diễm Hằng)
(Dẫn theo: https://mosia. io/nhan-xet-cua-tac-gia-nha-bao-trung-nghia-ve-cuoc-thi-viet-lan-dautien/)
Câu 2. (12. 0 điểm)
Bàn về hoạt động sáng tạo nghệ thuật, Aragon cho rằng: “Tôi viết ra chỉ để nói ngược lại tôi,
chí ít là đối với những gì tôi vừa mới viết xong”.
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.
---------- HẾT ---------(Thí sinh không sử dụng tài liệu, cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Họ và tên thí sinh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Số báo danh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Người coi thi số 1. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Người coi thi số 2. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
HƯỚNG DẪN CHẤM
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Hướng dẫn chấm được xây dựng theo hướng đánh giá kĩ năng và kiến thức. Giám khảo cần
chủ động nắm bắt nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh để đánh giá một cách tổng quát.
- Cần linh hoạt khi vận dụng Hướng dẫn chấm. Phát hiện và trân trọng những bài làm thể hiện
tính sáng tạo, tư duy độc lập. Nếu học sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng yêu cầu và có
sức thuyết phục vẫn được chấp nhận.
- Tổng điểm toàn bài là 20,0 điểm, điểm lẻ tính đến 0,25 điểm.
B. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
Câu 1. (8,0 điểm)
Anh/Chị hãy trình bày suy nghĩ về vấn đề đặt ra từ lời nhắn nhủ:
Đừng đối xử tệ với chính mình, đừng hy vọng kiếp sau vì có lẽ kiếp trước chúng ta cũng
từng hy vọng cuộc sống mới ở kiếp này rồi. Trời vẫn xanh, hoa vẫn nở, mong rằng chúng ta vẫn
sống với trái tim lương thiện giữa cuộc đời. (Lê Diễm Hằng)
Dẫn theo https://mosia. io/nhan-xet-cua-tac-gia-nha-bao-trung-nghia-ve-cuoc-thi-viet-lan-dautien/
Nội dung yêu cầu
I. Yêu cầu về kĩ năng
Điểm
1. 0
- Nắm vững cách làm bài văn nghị luận xã hội.
- Bố cục đầy đủ 03 phần, kết cấu rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc
lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. . .
- Có những cách diễn đạt hay, hấp dẫn, văn phong sắc sảo, giàu hình ảnh, cảm xúc; dẫn
chứng giàu sức thuyết phục. . .
II. Yêu cầu về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày vấn đề theo nhiều cách. Sau đây là
7. 0
một số ý cơ bản cần hướng đến:
1. Giải thích
- Đừng đối xử tệ với chính mình: đừng gây ra những điều xấu xa và có hại cho bản thân.
- Đừng hy vọng kiếp sau. . . kiếp này rồi: đừng trông mong điều chưa đến, chưa xảy ra
mà hãy sống hết mình với hiện tại.
- Trái tim lương thiện: trái tim trong sáng, tốt đẹp, giàu yêu thương.
1. 0
Nội dung yêu cầu
Điểm
=> Vấn đề nghị luận: Hãy đối xử tử tế với bản thân, sống với hiện tại và sống lương thiện
giữa cuộc đời.
2. Bình luận, chứng minh
4. 0
- Đừng đối xử tệ với chính mình, trân trọng hiện tại
+ Mỗi người là phiên bản đặc biệt, có giá trị và vẻ đẹp riêng, xứng đáng được yêu thương
trong bất kỳ hoàn cảnh nào và vì lý do gì.
+ Yêu thương, đối xử tử tế với bản thân là để hạnh phúc và là cơ sở để con người cảm
thông, thấu hiểu, yêu thương người khác.
+ Quá khứ đã qua, tương lai chưa đến, chỉ có hiện tại mới là thời khắc mà chúng ta cảm
nhận rõ ràng về bản thân và cuộc sống. Vì vậy, sống trọn vẹn với hiện tại chính là đối xử
tử tế với bản thân.
- Hãy sống giữa cuộc đời bằng trái tim lương thiện
+ Trái tim lương thiện sẽ giúp ta sống tốt với chính mình: ý thức được giá trị, trân trọng
tất cả những gì thuộc về bản thân; tự tin, có động lực để vươn lên. . .
+ Trái tim lương thiện chính là cách sống tốt với đời:giúp con người xích lại gần nhau,
hàn gắn những tổn thương; hướng đến xây dựng cuộc đời tốt đẹp. . . .
3. Mở rộng
1. 0
- Đối xử tử tế và yêu thương bản thân không có nghĩa là vị kỷ.
- Một trái tim lương thiện phải gắn với tâm hồn đẹp, trí tuệ sáng suốt và lý tưởng đúng
đắn.
- Trân trọng hiện tại nhưng không được hững hờ với quá khứ và tương lai.
- Phê phán những người thờ ơ vô cảm; không biết yêu thương bản thân.
4. Bài học nhận thức và hành động
1. 0
- Nhận thức đúng đắn về giá trị bản thân và cuộc sống.
- Có lối sống đẹp vì mình, vì mọi người.
Câu 2. (12. 0 điểm)
Bàn về hoạt động sáng tạo nghệ thuật, Aragon cho rằng: “Tôi viết ra chỉ để nói ngược lại tôi, chí ít
là đối với những gì tôi vừa mới viết xong”.
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.
Nội dung yêu cầu
I. Yêu cầu về kĩ năng
Điểm
1. 0
- Nắm vững cách làm bài văn nghị luận văn học.
- Bố cục đầy đủ, kết cấu rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả,
dùng từ, ngữ pháp.
- Có những cách diễn đạt hay, hấp dẫn, văn phong sắc sảo, giàu hình ảnh, cảm xúc. . .
II. Yêu cầu về kiến thức
11. 0
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách. Sau đây là một số ý cơ bản cần hướng đến:
1. Giải thích
1. 0
- Nói ngược lại tôi: phủ định chính mình.
=> Ý kiến trên khẳng định người nghệ sĩ phải không ngừng sáng tạo, đổi mới, không lặp lại
chính mình.
1.
Bình luận
2. 1. Phân tích, lý giải.
- Sáng tạo là yếu tố then chốt, quyết định quy luật phát triển chung của văn học. Nghệ
thuật không chấp nhận sự lặp lại.
+ Đời sống phong phú và vận động không ngừng đòi hỏi văn học phải luôn đổi mới.
+ Nghệ thuật là lĩnh vực của cái đẹp mà sự độc đáo, mới mẻ là một tiêu chí quan trọng.
+ Độc giả luôn mong mỏi được thưởng thức những sáng tạo mới mẻ.
- Nhà văn phải không ngừng phủ định chính mình.
+ Nhà văn là chủ thể sáng tạo. Sự sáng tạo sẽ mang đến cho tác phẩm những điều mới mẻ,
tạo dấu ấn riêng cho tác giả.
+ Nhà văn luôn có nhu cầu và khao khát khẳng định chính mình. Nếu người nghệ sĩ không
tự làm mới thì tác phẩm sẽ trở nên nhàm chán, tên tuổi sẽ mờ nhạt trên văn đàn.
+ Sáng tạo của nhà văn phải hướng đến người đọc. Những tìm tòi mới mẻ của họ sẽ khơi
dậy hứng thú tiếp nhận cho độc giả.
- Sự sáng tạo của nhà văn ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật tác phẩm.
+ Về nội dung: Sự sáng tạo thể hiện ở tất cả các phương diện, nhưng nổi bật hơn là ở cái
nhìn và tư tưởng.
+ Về nghệ thuật: Các phương tiện nghệ thuật để chuyển tải nội dung tư tưởng.
Sự phủ định chính mình làm nên dấu ấn riêng của tác giả, tạo nên giá trị và thúc đẩy
4. 0
Nội dung yêu cầu
Điểm
sự phát triển văn học.
* Chứng minh
4. 0
Thí sinh linh hoạt lựa chọn một số tác giả, tác phẩm để làm sáng tỏ các luận điểm trên.
2. 2 Mở rộng:
1. 0
- Nhà văn phủ định chính mình nhưng phải giữ vững cá tính sáng tạo trong hành trình sáng
tác.
- Phủ định chính mình phải song hành với phủ định tha nhân.
=> Tất cả sự phủ định đều phải hướng tới lý tưởng nhân văn và cái đẹp.
3. Đánh giá
1. 0
- Câu nói trên đã khẳng định được sự cần thiết trong hành trình sáng tạo nghệ thuật. Người
nghệ sĩ phủ định mình nhưng thực chất là khẳng định chính mình.
- Từ đó, đặt ra yêu cầu đối với hoạt động sáng tác và tiếp nhận:
+ Nhà văn phải sống sâu với đời, có bản lĩnh sáng tạo.
+ Người đọc phải biết trân trọng những sáng tạo của nhà văn; đồng thời nâng cao năng lực
tiếp nhận văn học.
---------- HẾT ----------
ĐỀ SỐ 3
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 10 THPT
HÀ TĨNH
NĂM HỌC 2023 - 2024
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN 10
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
CHỦ ĐỀ: CON NGƯỜI VỚI THẾ GIỚI TỰ NHIÊN
Câu 1. (8.0 điểm)
“Người ta làm chủ tự nhiên bằng cách tuân phục nó“. (Francis Bacon)
(Dẫn theo Các vấn đề tư tưởng căn bản, Michael W.Alssid & Willam Kenney tuyển chọn, giới
thiệu, NXB Từ điển bách khoa, 2007, tr.481)
Anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên.
Câu 2. (12,0 điểm)
“Sau tấm màn hoang đường, thần thoại chứa đựng một nội dung hiện thực”.
(Dẫn theo Văn học dân gian Việt Nam, Đinh Gia Khánh, NXB Giáo dục, 1997, tr. 277)
Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng việc phân tích văn bản dưới đây, hãy làm sáng tỏ
điều đó.
NỮ THẦN LÚA
Từ thời vua Hùng dựng nước đã truyền lại câu truyện về nữ Thần Lúa, một vị thần xinh đẹp,
dáng người ẻo lả, và có tính hay hờn dỗi.
Nàng là con gái Ngọc Hoàng. Sau những trận lụt lội ghê gớm xảy ra, sinh linh cây cỏ đều bị
diệt hết, trời bèn cho những người còn sống sót sinh con đẻ cái trên mặt đất, sai nữ thần Lúa xuống
trần gian, nuôi sống loài người. Nữ thần làm phép cho những hạt giống gieo xuống đất nảy mầm,
mọc thành cây, kết bông mẩy hạt. Lúa chín tự về nhà không cần gặt và không phải phơi phóng gì
cả. Cần ăn, cứ ngắt bông vào nồi là lúa sẽ thành cơm.
Một hôm cô con gái nhà kia đang bận việc. Sân chưa quét dọn, cửa kho cũng chưa mở, lúa ở
ngoài đã ùn ùn kéo về. Cô gái cuống quít và đâm cáu. Sẵn tay đang cầm cái chổi, cô đập vào đầu
bông lúa mà mắng:
– Người ta chưa dọn dẹp xong đã bò về. Gì mà hấp tấp thế?
Nữ thần Lúa đang dẫn các bông lúa vào sân, thấy sân, đường bẩn thỉu rác rưởi đã bực trong
lòng, lại bị mang một cán chổi vào đầu, tức lắm. Cả đám lúa đều thốt lên:
– Muốn mệt thì ta cho mệt luôn. Từ nay có hái tre, liềm sắc cắt cổ ta, ta mới về.
Từ đó, nữ thần Lúa dỗi, nhất định không cho lúa bò về nữa. Người trần gian phải xuống tận
ruộng lấy từng bông. Thấy vất vả mệt nhọc quá, người ta mới chế ra liềm, hái để cắt lúa cho nhanh.
Và lúa cũng không tự biến thành cơm nữa, mà phải phơi phóng, xay, giã cho ra gạo. Sự hờn dỗi của
nữ thần Lúa còn đôi khi cay nghiệt hơn nữa. Nữ thần vẫn giận sự phũ phàng của con người, nên
nhiều lần đã cấm không cho các bông lúa nảy nở. Có kết hạt cũng chỉ là lúa lép mà thôi. Vì thế sau
này mỗi lần gặt xong là người trần gian phải làm lễ cúng hồn Lúa, cũng là cúng thần Lúa. Có nơi
không gọi như thế thì gọi là cúng cơm mới. Cúng hồn Lúa, cơm mới, do các các gia đình tổ chức
trong nhà mình. Các làng, các bản cũng phải mở những ngày hội chung để cúng thần Lúa. Trong
những ngày hội ấy, mở đầu cho các cuộc tế tự và trò vui, là một ”tiết mục” hấp dẫn, gọi là: Rước
bông lúa. Các trò Trám (Vĩnh Phú), trò Triềng (Thanh Hóa), trò thổi tù và cây Hống (Nghệ Tĩnh),
v.v… đều có rước bông lúa như vậy.
(Nữ thần lúa, theo Thần thoại Việt Nam chọn lọc, NXB Thanh Niên, 2019)
---------- HẾT ---------(Thí sinh không sử dụng tài liệu, cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Họ và tên thí sinh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Số báo danh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Người coi thi số 1. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Người coi thi số 2. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
HƯỚNG DẪN CHẤM
I. Hướng dẫn chung
– Do đặc trưng của kì thi nên Giám khảo cần nắm vững được nội dung, yêu cầu của đề bài để
đánh giá một cách tổng quát năng lực của thí sinh: Năng lực hiểu biết, vận dụng, sáng tạo và khả
năng tạo lập văn bản.
– Chủ động, vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, cân nhắc từng trường hợp cụ thể để cho
điểm: nếu thí sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản hoặc có những kiến
giải một cách sáng tạo, thuyết phục thì giám khảo vẫn có thể cho điểm tối đa; tránh việc đếm ý cho
điểm.
– Khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo, giàu chất văn, có lối tư duy phản biện;
kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.
– Những bài viết mắc vào lỗi kiến thức, chính tả, dùng từ, ngữ pháp thì tùy vào mức độ để cho
điểm.
II. Hướng dẫn cụ thể
Câu
1
Hình thức, kĩ năng và nội dung kiến thức
Trình bày suy nghĩ về vấn đề “Người ta làm chủ tự nhiên bằng cách tuân
Điểm
8.0
phục nó“. (Francis Bacon)
Yêu cầu về kĩ năng: HS phải biết huy động vốn hiểu biết về đời sống và kĩ năng
2.0
làm văn nghị luận xã hội để hoàn chỉnh bài viết. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt
trong sáng, lưu loát, không mắc lỗi chính tả và ngữ pháp.
Yêu cầu về kiến thức: Bài viết cần đảm bảo một số ý cơ bản sau đây
6.0
1. Giải thích ý kiến
– “Làm chủ” ở đây không phải là sự thống trị, chế ngự hay kiểm soát tự nhiên
một cách tàn bạo, mà là việc hiểu biết và sử dụng tri thức về tự nhiên một cách
khôn ngoan.
– “Tuân phục” tự nhiên không phải là sự nhượng bộ mà là sự tôn trọng và hòa
1.0
nhập
=> Quan điểm này không chỉ là một tuyên ngôn về sự cân bằng, mà còn là một
bài học sâu sắc về cách mà con người chúng ta tương tác, ứng xử và ảnh hưởng
lẫn nhau với thế giới tự nhiên.
2. Bình luận
4.0
a. Vì sao con người làm chủ tự nhiên bằng cách tuân phục nó: Bên cạnh các
quan hệ với xã hội, quan hệ với chính mình, mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên rất bền chặt, gắn bó trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình. Ở đó, con
người vừa là một phần, vừa là chủ thể của thế giới. Đó là quan hệ tương tác, cho
và nhận, ảnh hưởng hai chiều cả tích cực và tiêu cực phụ thuộc vào tính chất
ứng xử của chúng ta trước mẹ thiên nhiên.
b. Khi con người làm chủ tự nhiên:
– Con người học cách quan sát, nghiên cứu và hiểu được những quy luật tự
nhiên để có thể phát triển những công nghệ và phương pháp tiếp cận phù hợp
nhằm tối ưu hóa lợi ích từ tự nhiên. Điều này thể hiện rõ trong lĩnh vực nông
nghiệp, nơi mà việc hiểu biết về chu kỳ mùa vụ, điều kiện thổ nhưỡng và sinh
học của cây trồng đã dẫn đến những phương pháp canh tác tiên tiến, tăng năng
suất mà vẫn duy trì sự cân bằng sinh thái.
– Làm chủ tự nhiên giúp con người biết cách bảo vệ môi trường cũng là bảo vệ
sự tồn vong và tương lai của loài người.
c. Khi con người tuân phục tự nhiên:
– Khi con người chấp nhận rằng có những giới hạn và điều kiện không thể thay
đổi, chúng ta học cách thích nghi và làm việc trong khuôn khổ mà tự nhiên đặt
ra. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, nơi
mà sự hiểu biết và tôn trọng các quy luật tự nhiên không chỉ là vấn đề của sự
phát triển bền vững, mà còn là sự sống còn của chính chúng ta và các hệ sinh
thái mà chúng ta phụ thuộc.
– Ngoài ra, quan điểm này còn thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới. Trong nỗ lực để
“tuân phục” tự nhiên, con người đã phát minh ra nhiều công nghệ và giải pháp
sáng tạo, từ năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và gió, cho đến các
phương pháp bảo tồn nước và tái chế chất thải. Những phát kiến này không chỉ
giúp chúng ta sử dụng hiệu quả nguồn lực tự nhiên, mà còn giảm thiểu tác động
tiêu cực lên môi trường.
3. Mở rộng, phản đề
– Quan điểm “làm chủ tự nhiên bằng cách tuân phục nó” còn là một lời nhắc
nhở về trách nhiệm của chúng ta đối với thế giới tự nhiên. Sự tôn trọng này
0.5
không chỉ thể hiện qua việc bảo vệ môi trường, mà còn qua cách chúng ta xây
dựng và duy trì mối quan hệ hài hòa với tự nhiên. Điều này yêu cầu một sự thay
đổi trong tư duy: từ việc xem tự nhiên như một nguồn tài nguyên vô tận để khai
thác, sang việc coi tự nhiên như một đối tác quý giá cần được tôn trọng và bảo
vệ.
– Phê phán nhận thức, hành động, ứng xử đi ngược lại các quy luật tự nhiện làm
tổn hại đến thiên nhiên. Nhất là trong bối cảnh thế giới với sự phát triển như vũ
bão của khoa học công nghệ, toàn cấu hóa, nhiều cá nhân, tổ chức, quốc gia quá
coi trọng lợi nhuận, lợi ích trước mắt mà không ý thức được hậu họa lâu dài.
4. Bài học nhận thức và hành động
– Quan điểm “Con người làm chủ tự nhiên bằng cách tuân phục nó” giúp con
người nhận thức được vai trò quan trọng của tự nhiên. Nó nhấn mạnh sự cần
thiết của việc học hỏi, tôn trọng và thích nghi với tự nhiên.
– Quan điểm này cũng gợi ý về một mô hình phát triển bền vững, nơi con người
0.5
không chỉ là kẻ
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 10 THPT
HẢI DƯƠNG
NĂM HỌC 2023 - 2024
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN 10
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 05 tháng 4 năm 2024
Câu 1. (4,0 điểm)
Chẳng có ai tẻ nhạt mãi trên đời
Mỗi số phận chứa một phần lịch sử
Mỗi số phận riêng, dù rất nhỏ
Chắc hành tinh nào đã sánh nổi đâu?
(“Chẳng có ai tẻ nhạt mãi trên đời” - Evgeny Evtushenko)
Những dòng thơ trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Câu 2. (6,0 điểm)
“Nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ. Người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính
mình”.
(Lưu Quý Kỳ)
Bằng trải nghiệm về thơ, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
---------- HẾT ---------(Thí sinh không sử dụng tài liệu, cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Họ và tên thí sinh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Số báo danh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Người coi thi số 1. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Người coi thi số 2. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
HƯỚNG DẪN CHẤM
A. YÊU CẦU CHUNG
- Giám khảo phải nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm.
Vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức độ điểm một cách hợp lí, khuyến khích
những bài viết có cảm xúc, sáng tạo.
- Thí sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của đề, diễn
đạt tốt vẫn cho đủ điểm.
- Điểm bài thi có thể cho lẻ đến 0,25 điểm và không làm tròn.
B. YÊU CẦU CỤ THỂ
Câu 1 (4,0 điểm)
a. Yêu cầu về kĩ năng:
- Thí sinh nắm vững và biết cách làm kiểu bài nghị luận xã hội.
- Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận…;
dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc, lí lẽ thuyết phục…
- Bố cục rõ ràng, mạch lạc, hành văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
b. Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ của mình theo nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lí, có sức
thuyết phục và cần tập trung làm rõ những nội dung cơ bản sau:
Ý
Nội dung
Điểm
1
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Vai trò, giá trị của mỗi con người cá nhân
0,25
trong mối quan hệ với lịch sử và sự phát triển của xã hội.
2
Giải thích
- “Chẳng có ai tẻ nhạt”: không có ai trên đời là nhạt nhoà, vô nghĩa;
khẳng định vai trò, giá trị của con người cá nhân.
- “Mỗi số phận chứa một phần lịch sử”: mỗi cá nhân mang trong mình một
phần lịch sử phát triển của một cộng đồng, xã hội; góp phần làm nên sự đa
dạng, tạo nên nét đặc trưng cho cộng đồng.
- “Mỗi số phận riêng, dù rất nhỏ/Chắc hành tinh nào đã sánh nổi”: mỗi con
người dù hết sức nhỏ bé nhưng đều có thể đóng góp những giá trị lớn lao và trở
nên cao cả, vĩ đại.
Những dòng thơ đề cao vai trò và giá trị của mỗi con người cá nhân: mỗi
0,5
người sinh ra đều mang trong mình những điều kì diệu, đều góp phần làm nên
lịch sử của nhân loại; không điều gì có thể sánh được với sự cao cả, lớn lao của
con người.
3
Phân tích lí giải
2,5
- Mỗi cá nhân là một cá thể độc đáo, duy nhất, không lặp lại; đều có cuộc đời,
số phận, cá tính và những nét riêng đặc sắc.
- Không có cá nhân thì không thể có xã hội, cũng không thể có lịch sử phát
triển xã hội. Những nét riêng đặc sắc của mỗi cá nhân hợp thành màu sắc phong
phú, đa dạng cho xã hội.
- Mỗi cá nhân tuỳ theo từng khả năng của mình sẽ có những đóng góp nhất định
về vật chất, tinh thần cho xã hội, tạo nên sức mạnh to lớn cho cộng đồng, làm
nên những biến đổi trong lịch sử, thúc đẩy lịch sử phát triển. Soi vào số phận
mỗi con người ta thấy được bóng dáng của thời đại, của lịch sử.
- Mỗi cá nhân sẽ để lại dấu ấn riêng của bản thân mình với cuộc đời, thời đại.
Điều đó khiến con người trở nên lớn lao, vĩ đại và được trân trọng, tôn vinh.
(Trong quá trình phân tích, lí giải, HS cần có dẫn chứng phù hợp để minh hoạ)
4
Bàn luận, mở rộng vấn đề
0,5
- Đề cao vai trò, giá trị của cá nhân nhưng cũng cần tránh tư tưởng, thái độ tự
cao, tự đại.
- Phê phán những người sống không mục đích, không lí tưởng, không nỗ lực
khẳng định và nâng cao giá trị bản thân; không có tinh thần trách nhiệm và ý
thức đóng góp, cống hiến cho sự phát triển của cộng đồng và xã hội; có những
suy nghĩ, hành vi thiếu tôn trọng giá trị của con người.
5
Bài học nhận thức và hành động
- Có quan niệm đúng đắn về giá trị con người, về vai trò của mỗi cá nhân đối
với lịch sử và sự phát triển xã hội.
- Mỗi người cần nỗ lực phấn đấu để sống một cuộc đời phong phú, có ích cho
xã hội.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2 (6,0 điểm)
0,25
a. Về kĩ năng:
- Thí sinh tạo lập được một bài văn nghị luận văn học, vận dụng tốt các thao tác lập luận.
- Biết cách chọn và phân tích dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận.
- Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
b. Về kiến thức:
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo được các ý cơ bản sau:
Ý
Nội dung
Điểm
1
Giới thiệu vấn đề nghị luận
0,5
2
Giải thích
0,5
- “Nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ”: tác phẩm thơ thể hiện đời sống
tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ.
- “Người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính mình”: thơ ca đem đến sự
đồng cảm, đồng điệu, cảm thông và chia sẻ giữa nhà thơ và người đọc.
Nhận định đề cập đến đặc trưng cơ bản của thơ và khẳng định ý nghĩa sâu xa
của tiếng nói trữ tình trong thơ đối với con người.
3
Lí giải vấn đề
1,0
- “Nhà thơ gói tâm tình của mình trong thơ”: là một thể loại văn học thuộc
phương thức biểu hiện trữ tình, thơ là tiếng nói của tình cảm, là những rung
động của trái tim con người trước cuộc đời. Trong thơ, tác giả trực tiếp bộc lộ
tình cảm, cảm xúc, tư tưởng của mình, mang đậm tính chủ quan.
- “Người đọc mở ra bỗng thấy tâm tình của chính mình”:
+ Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác phẩm
thơ chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời,
về nhân loại.
+ Vì tình cảm trong thơ vừa mang tính cá thể, vừa có tính điển hình; vừa là nỗi
lòng riêng, vừa là tiếng lòng chung nên người đọc dễ dàng tìm được sự chia sẻ,
đồng điệu, được khơi dậy những rung động, những tình cảm phong phú.
4
Phân tích, chứng minh
Học sinh tự lựa chọn tác phẩm thơ và có thể trình bày theo những cách
khác nhau để làm sáng tỏ ý kiến. Khi chứng minh, học sinh cần làm rõ
được các vấn đề:
3,0
- Những sắc thái, cung bậc tình cảm, cảm xúc của nhà thơ được bộc lộ trong
tác phẩm; sự phù hợp giữa nội dung cảm xúc và hình thức biểu đạt.
- Những tình cảm, cảm xúc riêng tư nhưng vẫn mang ý nghĩa khái quát về con
người, cuộc đời, nhân loại; sự đồng điệu về cảm xúc, tình cảm của người đọc
với nhà thơ.
5
Đánh giá chung, mở rộng
0,75
- Nhận định đúng đắn, sâu sắc về đặc trưng và giá trị của tác phẩm thơ; gợi mở
tiêu chí để đánh giá một tác phẩm thơ ca chân chính. Thơ ca chân chính luôn là
điểm tựa tinh thần của con người, thoả mãn được nhu cầu đồng cảm và sẻ chia
giữa người đọc và người nghệ sĩ.
- Đối với người sáng tác: nhận định vừa là định hướng, vừa là yêu cầu với
người nghệ sĩ. Để tác phẩm từ “tâm tình” của một người trở thành “tâm tình”
của muôn người, nhà văn phải có tấm lòng tha thiết với con người, với cuộc
đời; phải có cảm xúc chân thành, mãnh liệt; có tài năng nghệ thuật điêu luyện.
- Đối với người đọc: định hướng về con đường tiếp nhận thơ ca từ đặc trưng
thể loại.
6
Kết thúc, khẳng định vấn đề nghị luận
---------- HẾT ----------
0,25
ĐỀ SỐ 2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP TỈNH THPT
TỈNH QUẢNG NAM
NĂM HỌC 2023 – 2024 ĐỢT 2
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN 10 (CHUYÊN)
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 15/03/2024
Câu 1. (8. 0 điểm)
Anh/Chị hãy trình bày suy nghĩ về vấn đề đặt ra từ lời nhắn nhủ:
Đừng đối xử tệ với chính mình, đừng hy vọng kiếp sau vì có lẽ kiếp trước chúng ta cũng
từng hy vọng cuộc sống mới ở kiếp này rồi. Trời vẫn xanh, hoa vẫn nở, mong rằng chúng ta vẫn
sống với trái tim lương thiện giữa cuộc đời. (Lê Diễm Hằng)
(Dẫn theo: https://mosia. io/nhan-xet-cua-tac-gia-nha-bao-trung-nghia-ve-cuoc-thi-viet-lan-dautien/)
Câu 2. (12. 0 điểm)
Bàn về hoạt động sáng tạo nghệ thuật, Aragon cho rằng: “Tôi viết ra chỉ để nói ngược lại tôi,
chí ít là đối với những gì tôi vừa mới viết xong”.
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.
---------- HẾT ---------(Thí sinh không sử dụng tài liệu, cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Họ và tên thí sinh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Số báo danh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Người coi thi số 1. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Người coi thi số 2. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
HƯỚNG DẪN CHẤM
A. HƯỚNG DẪN CHUNG
- Hướng dẫn chấm được xây dựng theo hướng đánh giá kĩ năng và kiến thức. Giám khảo cần
chủ động nắm bắt nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh để đánh giá một cách tổng quát.
- Cần linh hoạt khi vận dụng Hướng dẫn chấm. Phát hiện và trân trọng những bài làm thể hiện
tính sáng tạo, tư duy độc lập. Nếu học sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng yêu cầu và có
sức thuyết phục vẫn được chấp nhận.
- Tổng điểm toàn bài là 20,0 điểm, điểm lẻ tính đến 0,25 điểm.
B. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
Câu 1. (8,0 điểm)
Anh/Chị hãy trình bày suy nghĩ về vấn đề đặt ra từ lời nhắn nhủ:
Đừng đối xử tệ với chính mình, đừng hy vọng kiếp sau vì có lẽ kiếp trước chúng ta cũng
từng hy vọng cuộc sống mới ở kiếp này rồi. Trời vẫn xanh, hoa vẫn nở, mong rằng chúng ta vẫn
sống với trái tim lương thiện giữa cuộc đời. (Lê Diễm Hằng)
Dẫn theo https://mosia. io/nhan-xet-cua-tac-gia-nha-bao-trung-nghia-ve-cuoc-thi-viet-lan-dautien/
Nội dung yêu cầu
I. Yêu cầu về kĩ năng
Điểm
1. 0
- Nắm vững cách làm bài văn nghị luận xã hội.
- Bố cục đầy đủ 03 phần, kết cấu rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc
lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. . .
- Có những cách diễn đạt hay, hấp dẫn, văn phong sắc sảo, giàu hình ảnh, cảm xúc; dẫn
chứng giàu sức thuyết phục. . .
II. Yêu cầu về kiến thức: Thí sinh có thể trình bày vấn đề theo nhiều cách. Sau đây là
7. 0
một số ý cơ bản cần hướng đến:
1. Giải thích
- Đừng đối xử tệ với chính mình: đừng gây ra những điều xấu xa và có hại cho bản thân.
- Đừng hy vọng kiếp sau. . . kiếp này rồi: đừng trông mong điều chưa đến, chưa xảy ra
mà hãy sống hết mình với hiện tại.
- Trái tim lương thiện: trái tim trong sáng, tốt đẹp, giàu yêu thương.
1. 0
Nội dung yêu cầu
Điểm
=> Vấn đề nghị luận: Hãy đối xử tử tế với bản thân, sống với hiện tại và sống lương thiện
giữa cuộc đời.
2. Bình luận, chứng minh
4. 0
- Đừng đối xử tệ với chính mình, trân trọng hiện tại
+ Mỗi người là phiên bản đặc biệt, có giá trị và vẻ đẹp riêng, xứng đáng được yêu thương
trong bất kỳ hoàn cảnh nào và vì lý do gì.
+ Yêu thương, đối xử tử tế với bản thân là để hạnh phúc và là cơ sở để con người cảm
thông, thấu hiểu, yêu thương người khác.
+ Quá khứ đã qua, tương lai chưa đến, chỉ có hiện tại mới là thời khắc mà chúng ta cảm
nhận rõ ràng về bản thân và cuộc sống. Vì vậy, sống trọn vẹn với hiện tại chính là đối xử
tử tế với bản thân.
- Hãy sống giữa cuộc đời bằng trái tim lương thiện
+ Trái tim lương thiện sẽ giúp ta sống tốt với chính mình: ý thức được giá trị, trân trọng
tất cả những gì thuộc về bản thân; tự tin, có động lực để vươn lên. . .
+ Trái tim lương thiện chính là cách sống tốt với đời:giúp con người xích lại gần nhau,
hàn gắn những tổn thương; hướng đến xây dựng cuộc đời tốt đẹp. . . .
3. Mở rộng
1. 0
- Đối xử tử tế và yêu thương bản thân không có nghĩa là vị kỷ.
- Một trái tim lương thiện phải gắn với tâm hồn đẹp, trí tuệ sáng suốt và lý tưởng đúng
đắn.
- Trân trọng hiện tại nhưng không được hững hờ với quá khứ và tương lai.
- Phê phán những người thờ ơ vô cảm; không biết yêu thương bản thân.
4. Bài học nhận thức và hành động
1. 0
- Nhận thức đúng đắn về giá trị bản thân và cuộc sống.
- Có lối sống đẹp vì mình, vì mọi người.
Câu 2. (12. 0 điểm)
Bàn về hoạt động sáng tạo nghệ thuật, Aragon cho rằng: “Tôi viết ra chỉ để nói ngược lại tôi, chí ít
là đối với những gì tôi vừa mới viết xong”.
Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.
Nội dung yêu cầu
I. Yêu cầu về kĩ năng
Điểm
1. 0
- Nắm vững cách làm bài văn nghị luận văn học.
- Bố cục đầy đủ, kết cấu rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả,
dùng từ, ngữ pháp.
- Có những cách diễn đạt hay, hấp dẫn, văn phong sắc sảo, giàu hình ảnh, cảm xúc. . .
II. Yêu cầu về kiến thức
11. 0
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách. Sau đây là một số ý cơ bản cần hướng đến:
1. Giải thích
1. 0
- Nói ngược lại tôi: phủ định chính mình.
=> Ý kiến trên khẳng định người nghệ sĩ phải không ngừng sáng tạo, đổi mới, không lặp lại
chính mình.
1.
Bình luận
2. 1. Phân tích, lý giải.
- Sáng tạo là yếu tố then chốt, quyết định quy luật phát triển chung của văn học. Nghệ
thuật không chấp nhận sự lặp lại.
+ Đời sống phong phú và vận động không ngừng đòi hỏi văn học phải luôn đổi mới.
+ Nghệ thuật là lĩnh vực của cái đẹp mà sự độc đáo, mới mẻ là một tiêu chí quan trọng.
+ Độc giả luôn mong mỏi được thưởng thức những sáng tạo mới mẻ.
- Nhà văn phải không ngừng phủ định chính mình.
+ Nhà văn là chủ thể sáng tạo. Sự sáng tạo sẽ mang đến cho tác phẩm những điều mới mẻ,
tạo dấu ấn riêng cho tác giả.
+ Nhà văn luôn có nhu cầu và khao khát khẳng định chính mình. Nếu người nghệ sĩ không
tự làm mới thì tác phẩm sẽ trở nên nhàm chán, tên tuổi sẽ mờ nhạt trên văn đàn.
+ Sáng tạo của nhà văn phải hướng đến người đọc. Những tìm tòi mới mẻ của họ sẽ khơi
dậy hứng thú tiếp nhận cho độc giả.
- Sự sáng tạo của nhà văn ở cả nội dung và hình thức nghệ thuật tác phẩm.
+ Về nội dung: Sự sáng tạo thể hiện ở tất cả các phương diện, nhưng nổi bật hơn là ở cái
nhìn và tư tưởng.
+ Về nghệ thuật: Các phương tiện nghệ thuật để chuyển tải nội dung tư tưởng.
Sự phủ định chính mình làm nên dấu ấn riêng của tác giả, tạo nên giá trị và thúc đẩy
4. 0
Nội dung yêu cầu
Điểm
sự phát triển văn học.
* Chứng minh
4. 0
Thí sinh linh hoạt lựa chọn một số tác giả, tác phẩm để làm sáng tỏ các luận điểm trên.
2. 2 Mở rộng:
1. 0
- Nhà văn phủ định chính mình nhưng phải giữ vững cá tính sáng tạo trong hành trình sáng
tác.
- Phủ định chính mình phải song hành với phủ định tha nhân.
=> Tất cả sự phủ định đều phải hướng tới lý tưởng nhân văn và cái đẹp.
3. Đánh giá
1. 0
- Câu nói trên đã khẳng định được sự cần thiết trong hành trình sáng tạo nghệ thuật. Người
nghệ sĩ phủ định mình nhưng thực chất là khẳng định chính mình.
- Từ đó, đặt ra yêu cầu đối với hoạt động sáng tác và tiếp nhận:
+ Nhà văn phải sống sâu với đời, có bản lĩnh sáng tạo.
+ Người đọc phải biết trân trọng những sáng tạo của nhà văn; đồng thời nâng cao năng lực
tiếp nhận văn học.
---------- HẾT ----------
ĐỀ SỐ 3
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 10 THPT
HÀ TĨNH
NĂM HỌC 2023 - 2024
ĐỀ CHÍNH THỨC
Môn thi: NGỮ VĂN 10
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian giao đề)
CHỦ ĐỀ: CON NGƯỜI VỚI THẾ GIỚI TỰ NHIÊN
Câu 1. (8.0 điểm)
“Người ta làm chủ tự nhiên bằng cách tuân phục nó“. (Francis Bacon)
(Dẫn theo Các vấn đề tư tưởng căn bản, Michael W.Alssid & Willam Kenney tuyển chọn, giới
thiệu, NXB Từ điển bách khoa, 2007, tr.481)
Anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên.
Câu 2. (12,0 điểm)
“Sau tấm màn hoang đường, thần thoại chứa đựng một nội dung hiện thực”.
(Dẫn theo Văn học dân gian Việt Nam, Đinh Gia Khánh, NXB Giáo dục, 1997, tr. 277)
Anh/ chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng việc phân tích văn bản dưới đây, hãy làm sáng tỏ
điều đó.
NỮ THẦN LÚA
Từ thời vua Hùng dựng nước đã truyền lại câu truyện về nữ Thần Lúa, một vị thần xinh đẹp,
dáng người ẻo lả, và có tính hay hờn dỗi.
Nàng là con gái Ngọc Hoàng. Sau những trận lụt lội ghê gớm xảy ra, sinh linh cây cỏ đều bị
diệt hết, trời bèn cho những người còn sống sót sinh con đẻ cái trên mặt đất, sai nữ thần Lúa xuống
trần gian, nuôi sống loài người. Nữ thần làm phép cho những hạt giống gieo xuống đất nảy mầm,
mọc thành cây, kết bông mẩy hạt. Lúa chín tự về nhà không cần gặt và không phải phơi phóng gì
cả. Cần ăn, cứ ngắt bông vào nồi là lúa sẽ thành cơm.
Một hôm cô con gái nhà kia đang bận việc. Sân chưa quét dọn, cửa kho cũng chưa mở, lúa ở
ngoài đã ùn ùn kéo về. Cô gái cuống quít và đâm cáu. Sẵn tay đang cầm cái chổi, cô đập vào đầu
bông lúa mà mắng:
– Người ta chưa dọn dẹp xong đã bò về. Gì mà hấp tấp thế?
Nữ thần Lúa đang dẫn các bông lúa vào sân, thấy sân, đường bẩn thỉu rác rưởi đã bực trong
lòng, lại bị mang một cán chổi vào đầu, tức lắm. Cả đám lúa đều thốt lên:
– Muốn mệt thì ta cho mệt luôn. Từ nay có hái tre, liềm sắc cắt cổ ta, ta mới về.
Từ đó, nữ thần Lúa dỗi, nhất định không cho lúa bò về nữa. Người trần gian phải xuống tận
ruộng lấy từng bông. Thấy vất vả mệt nhọc quá, người ta mới chế ra liềm, hái để cắt lúa cho nhanh.
Và lúa cũng không tự biến thành cơm nữa, mà phải phơi phóng, xay, giã cho ra gạo. Sự hờn dỗi của
nữ thần Lúa còn đôi khi cay nghiệt hơn nữa. Nữ thần vẫn giận sự phũ phàng của con người, nên
nhiều lần đã cấm không cho các bông lúa nảy nở. Có kết hạt cũng chỉ là lúa lép mà thôi. Vì thế sau
này mỗi lần gặt xong là người trần gian phải làm lễ cúng hồn Lúa, cũng là cúng thần Lúa. Có nơi
không gọi như thế thì gọi là cúng cơm mới. Cúng hồn Lúa, cơm mới, do các các gia đình tổ chức
trong nhà mình. Các làng, các bản cũng phải mở những ngày hội chung để cúng thần Lúa. Trong
những ngày hội ấy, mở đầu cho các cuộc tế tự và trò vui, là một ”tiết mục” hấp dẫn, gọi là: Rước
bông lúa. Các trò Trám (Vĩnh Phú), trò Triềng (Thanh Hóa), trò thổi tù và cây Hống (Nghệ Tĩnh),
v.v… đều có rước bông lúa như vậy.
(Nữ thần lúa, theo Thần thoại Việt Nam chọn lọc, NXB Thanh Niên, 2019)
---------- HẾT ---------(Thí sinh không sử dụng tài liệu, cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Họ và tên thí sinh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Số báo danh:. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Người coi thi số 1. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Người coi thi số 2. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
HƯỚNG DẪN CHẤM
I. Hướng dẫn chung
– Do đặc trưng của kì thi nên Giám khảo cần nắm vững được nội dung, yêu cầu của đề bài để
đánh giá một cách tổng quát năng lực của thí sinh: Năng lực hiểu biết, vận dụng, sáng tạo và khả
năng tạo lập văn bản.
– Chủ động, vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, cân nhắc từng trường hợp cụ thể để cho
điểm: nếu thí sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản hoặc có những kiến
giải một cách sáng tạo, thuyết phục thì giám khảo vẫn có thể cho điểm tối đa; tránh việc đếm ý cho
điểm.
– Khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo, giàu chất văn, có lối tư duy phản biện;
kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.
– Những bài viết mắc vào lỗi kiến thức, chính tả, dùng từ, ngữ pháp thì tùy vào mức độ để cho
điểm.
II. Hướng dẫn cụ thể
Câu
1
Hình thức, kĩ năng và nội dung kiến thức
Trình bày suy nghĩ về vấn đề “Người ta làm chủ tự nhiên bằng cách tuân
Điểm
8.0
phục nó“. (Francis Bacon)
Yêu cầu về kĩ năng: HS phải biết huy động vốn hiểu biết về đời sống và kĩ năng
2.0
làm văn nghị luận xã hội để hoàn chỉnh bài viết. Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt
trong sáng, lưu loát, không mắc lỗi chính tả và ngữ pháp.
Yêu cầu về kiến thức: Bài viết cần đảm bảo một số ý cơ bản sau đây
6.0
1. Giải thích ý kiến
– “Làm chủ” ở đây không phải là sự thống trị, chế ngự hay kiểm soát tự nhiên
một cách tàn bạo, mà là việc hiểu biết và sử dụng tri thức về tự nhiên một cách
khôn ngoan.
– “Tuân phục” tự nhiên không phải là sự nhượng bộ mà là sự tôn trọng và hòa
1.0
nhập
=> Quan điểm này không chỉ là một tuyên ngôn về sự cân bằng, mà còn là một
bài học sâu sắc về cách mà con người chúng ta tương tác, ứng xử và ảnh hưởng
lẫn nhau với thế giới tự nhiên.
2. Bình luận
4.0
a. Vì sao con người làm chủ tự nhiên bằng cách tuân phục nó: Bên cạnh các
quan hệ với xã hội, quan hệ với chính mình, mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên rất bền chặt, gắn bó trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình. Ở đó, con
người vừa là một phần, vừa là chủ thể của thế giới. Đó là quan hệ tương tác, cho
và nhận, ảnh hưởng hai chiều cả tích cực và tiêu cực phụ thuộc vào tính chất
ứng xử của chúng ta trước mẹ thiên nhiên.
b. Khi con người làm chủ tự nhiên:
– Con người học cách quan sát, nghiên cứu và hiểu được những quy luật tự
nhiên để có thể phát triển những công nghệ và phương pháp tiếp cận phù hợp
nhằm tối ưu hóa lợi ích từ tự nhiên. Điều này thể hiện rõ trong lĩnh vực nông
nghiệp, nơi mà việc hiểu biết về chu kỳ mùa vụ, điều kiện thổ nhưỡng và sinh
học của cây trồng đã dẫn đến những phương pháp canh tác tiên tiến, tăng năng
suất mà vẫn duy trì sự cân bằng sinh thái.
– Làm chủ tự nhiên giúp con người biết cách bảo vệ môi trường cũng là bảo vệ
sự tồn vong và tương lai của loài người.
c. Khi con người tuân phục tự nhiên:
– Khi con người chấp nhận rằng có những giới hạn và điều kiện không thể thay
đổi, chúng ta học cách thích nghi và làm việc trong khuôn khổ mà tự nhiên đặt
ra. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, nơi
mà sự hiểu biết và tôn trọng các quy luật tự nhiên không chỉ là vấn đề của sự
phát triển bền vững, mà còn là sự sống còn của chính chúng ta và các hệ sinh
thái mà chúng ta phụ thuộc.
– Ngoài ra, quan điểm này còn thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới. Trong nỗ lực để
“tuân phục” tự nhiên, con người đã phát minh ra nhiều công nghệ và giải pháp
sáng tạo, từ năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời và gió, cho đến các
phương pháp bảo tồn nước và tái chế chất thải. Những phát kiến này không chỉ
giúp chúng ta sử dụng hiệu quả nguồn lực tự nhiên, mà còn giảm thiểu tác động
tiêu cực lên môi trường.
3. Mở rộng, phản đề
– Quan điểm “làm chủ tự nhiên bằng cách tuân phục nó” còn là một lời nhắc
nhở về trách nhiệm của chúng ta đối với thế giới tự nhiên. Sự tôn trọng này
0.5
không chỉ thể hiện qua việc bảo vệ môi trường, mà còn qua cách chúng ta xây
dựng và duy trì mối quan hệ hài hòa với tự nhiên. Điều này yêu cầu một sự thay
đổi trong tư duy: từ việc xem tự nhiên như một nguồn tài nguyên vô tận để khai
thác, sang việc coi tự nhiên như một đối tác quý giá cần được tôn trọng và bảo
vệ.
– Phê phán nhận thức, hành động, ứng xử đi ngược lại các quy luật tự nhiện làm
tổn hại đến thiên nhiên. Nhất là trong bối cảnh thế giới với sự phát triển như vũ
bão của khoa học công nghệ, toàn cấu hóa, nhiều cá nhân, tổ chức, quốc gia quá
coi trọng lợi nhuận, lợi ích trước mắt mà không ý thức được hậu họa lâu dài.
4. Bài học nhận thức và hành động
– Quan điểm “Con người làm chủ tự nhiên bằng cách tuân phục nó” giúp con
người nhận thức được vai trò quan trọng của tự nhiên. Nó nhấn mạnh sự cần
thiết của việc học hỏi, tôn trọng và thích nghi với tự nhiên.
– Quan điểm này cũng gợi ý về một mô hình phát triển bền vững, nơi con người
0.5
không chỉ là kẻ
 





