LỜI CHÚC

BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT WEBSITE

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1

    18_de_thi_hsg_cap_truong_mon_van_10_co_dap_an_

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 15h:22' 27-12-2025
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    DeThi.edu.vn

    ĐỀ SỐ 1
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
    TRƯỜNG THPT BÌNH CHIỂU

    ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI CẤP TRƯỜNG
    MÔN: NGỮ VĂN – KHỐI 10
    Thời gian: 120 phút

    Chủ đề: MẠCH ĐỜI SINH SÔI
    Vùng đất xứ Thanh không chỉ sinh ra những người con sẵn sàng xông pha khi Tổ quốc cần mà
    vẫn luôn nặng nợ ân tình với quê hương. Thương mảnh đất quê hương đói nghèo, ông Thảo luôn đau
    đáu: “Quê hương đã nuôi mình khôn lớn, cho mình một nền tảng để phát triển bản thân thì mình phải
    có trách nhiệm trả ơn nghĩa vời vợi đó”.
    Để rồi ngày hôm nay, sau hơn 40 năm thành công nơi xứ người, khi cảm thấy bản thân đã có đủ
    tiềm lực để đầu tư phát triển quê hương, đôi vợ chồng tiến sĩ quyết định trở về vùng đất biển một thuở
    xác xơ, dốc hết công sức, tiền của tích lũy, dành dụm hơn nửa đời người nuôi hy vọng đưa vùng biển
    Hải Tiến trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn du khách.
    Để xương rồng có thể nở hoa, miền cát bỏng hoang sơ biết “trả vàng trả bạc”. Hành trình mà
    vợ chồng Tiến sĩ Lê Xuân Thảo và vợ đã đi qua chác chắn không hề dễ dàng. Ông Thảo điềm tĩnh khái
    quát lại: “Làm việc gì lớn bao giờ chẳng gặp những khó khăn, thất thoát ban đầu. Nhưng từ những thất
    bại lại ló rạng cho chúng tôi ý tưởng sáng tạo mới”. Với ý chí phấn đấu không ngừng, nỗ lực vượt qua
    muôn vàn khó khăn, bằng tất cả tấm lòng yêu mến quê hương, ông Thảo cùng vợ đã gặt hái được
    những “quả ngọt” xứng đáng. Khu du lịch biển đã trở thành một khu du lịch đa chức năng, đạt tiêu
    chuẩn 3 sao, hệ thống các nhà hàng sang trọng, ... Nhìn cái cách mà những người con ưu tú đã và đang
    nỗ lực đóng góp cho sự phát triển của mảnh đất xứ Thanh này mới thấu hiểu hết ý nghĩa của hai tiếng
    quê hương.
    (Trích Đi xa để trở về, Hương Thảo, dẫn theo baothanhhoa.vn)
    Câu 1: (8.0 điểm)
    Từ những suy nghĩ mà văn bản trên gợi ra và từ trải nghiệm cuộc sống, em hãy viết bài văn trả lời
    cho câu hỏi sau:
    Điều gì khiến xương rồng nở hoa?
    Câu 2: (12.0 điểm)
    Bằng trải nghiệm văn học, em hãy viết bài văn về sự sinh sôi, phát triển của cuộc sống trong các
    tác phẩm văn chương.
    HẾT

    DeThi.edu.vn

    ĐÁP ÁN – BIỂU ĐIỂM
    Câu
    1

    Nội dung
    Bài Nghị luận xã hội
    a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài
    nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
    b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận; triển khai vấn đề nghị luận thành các luận
    điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút
    ra bài học nhận thức và hành động.
    Học sinh có thể đưa ra quan điểm riêng về cái tôi mà người trẻ cần tìm kiếm và xây
    dựng trong xã hội ngày nay. Sau đây là gợi ý cho một hướng giải quyết đề bài:
    1. Giải thích:
    - Xương rồng nở hoa: là một hiện tượng hiếm gặp trong môi trường tự nhiên. Xương
    rồng thường sống ở những vùng đất cằn cỗi, khô hạn. Để có thể nở ra những bông
    hoa đẹp, những miền hoang mạc phải chắt chiu những dưỡng chất quý giá hơn vàng
    bạc để cung cấp cho cây. Cũng giống như con người, muốn gặt hái được những
    thành công tốt đẹp, dù hoàn cảnh có khắc nghiệt đến đâu, con người phải luôn biết
    kiên trì, chịu khó, ấp ủ và vun đắp cho khát vọng của mình.
    - Ý kiến trên là lời khuyên sâu sắc, chân thành về cách thức để tồn tại và tiến tới
    thành công trong những điều kiện không thuận lợi. Với ý kiến đã nêu, tác giả câu nói
    đã đề cao tầm quan trọng của nghị lực sống bền bỉ trong mỗi con người.
    2. Bàn luận
    - Biểu hiện của một con người có nghị lực sống bền bỉ rất phong phú. Đó là những
    người sống luôn có ước mơ, lí tưởng và hoài bão, biết đặt ra cho mình những mục
    tiêu để phấn đấu, tiến về phía trước. Khi bắt tay vào thực hiện công việc, họ luôn cho
    thấy sự quyết tâm, nhiệt thành, năng nổ của bản thân. Đặc biệt, khi trải qua những
    khó khăn, gian khổ, họ luôn giữ vững một tinh thần kiên định, ý chí mãnh liệt và một
    niềm tin lạc quan về kết quả tốt đẹp từ sự cố gắng đã bỏ ra.
    - Người sống có nghị lực thường đạt được những thành công, những điều mà họ
    muốn. Bởi họ không bao giờ bỏ cuộc, hoang mang mà luôn tìm cách để giải quyết
    vấn đề vướng mắc. Họ biết học hỏi, lắng nghe ý kiến từ người khác; biết tận dụng cơ
    hội, dù ít hay nhiều, để phát triển bản thân. Vì thế, mà họ cũng thường nhận được sự
    ủng hộ, mến mộ từ mọi người xung quanh.
    - Người sống có nghị lực luôn mang trong mình một nguồn năng lượng tích cực, có
    những đóng góp ý nghĩa, thiết thực cho cộng đồng, xã hội. Không tấm gương sáng để
    người khác noi theo. Họ chính là những mầm xanh quý báu chỉ vậy, họ còn có khả
    năng lan tỏa tinh thần ấy đến mọi người xung quanh, là mọc lên từ những khắc
    nghiệt của đời thường.
    3. Bài học nhận thức và hành động
    - Nhưng trái lại, trong thực tế, có rất nhiều người lười nhác, yếu đuối, không biết
    vươn lên sau những khó khăn, thất bại, mà chỉ biết than vãn, đổ lỗi, buông xuôi.

    DeThi.edu.vn

    Điểm
    8.0
    1.0

    0.5

    4.0

    1.5

    Đây là

    DeThi.edu.vn

    một lối sống tiêu cực, dễ khiến con người lầm lạc vào những con đường bi quan, bế
    tắc.

    2

    - Sống phải biết tin tưởng vào năng lực của bản thân; từ đó, biết tận dụng mọi khả
    năng, cơ hội để đối mặt với hoàn cảnh, vươn lên trên những trở ngại và quyết tâm đạt
    được những mục tiêu đã đề ra. Dù gặp thất bại cũng không nản lòng mà kiên nhẫn
    theo đuổi đến cùng, tự tin đứng dậy để bước tiếp. Sống phải có niềm tin vào sự công
    bằng của đời sống. Khi ta có cố gắng, có nỗ lực, thì ta sẽ tìm thấy cho mình những
    điều tốt đẹp, ý nghĩa.
    c. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo; thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về
    vấn đề nghị luận.
    d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu
    Bài Nghị luận văn học
    a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài.
    Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn
    đề.
    b. Xác định đúng vấn đề; triển khai vấn đề thành các luận điểm; vận dụng tốt các
    phương thức biểu đạt; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
    Cấu trúc bài viết gợi ý:
    - Giới thiệu vấn đề nghị luận: Tác phẩm văn học phản ánh sự sinh sôi, phát triển của
    cuộc sống.
    - Phân tích tác phẩm để chỉ ta sự sinh sôi, phát triển của cuộc sống được phản ánh
    trong đó. Vd:
    + Sang thu: Sự chầm chậm, êm ả của dòng sông, sự vội vã, gấp rút của đàn chim
    phối hợp cùng hình ảnh “đám mây mùa hạ vắt nửa mình sang thu” ghi lại khoảnh
    khắc giao mùa đã tạo nên một nét thu chân thực, sinh động, mới mẻ. Mùa thu dần
    hòa vào đất trời với những nét êm nhẹ: nắng trải đầy vàng óng ánh, mang hơi thở ấm
    áp, mưa giảm dần chứ không ào ạt, xối xả và sấm không còn vang rền mà lặng dần
    trên những hàng cây đứng tuổi.
    + Mùa xuân nho nhỏ: Hình ảnh đất nước nổi bật với không khí náo nức, khẩn trương
    khi bước vào mùa xuân mới vừa bảo vệ vừa dựng xây Tổ quốc. Hai nhiệm vụ ấy đặt
    nặng trên vai của “người cầm súng” và “người ra đồng”, những người đã gieo mùa
    xuân, bảo vệ mùa xuân, tạo nên sức sống mùa xuân trên mọi miền đất nước. Từ đó,
    đất nước tỏa rạng lung linh như vì sao “cứ đi lên phía trước”, trường tồn, bất diệt.
    - Các tác phẩm đã phản ánh sự sinh sôi, phát triển của cuộc sống bằng hình thức đa
    dạng: truyện, thơ; bằng kết cấu linh hoạt, sáng tạo…
    - Đánh giá, khẳng định vấn đề.
    c. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo; thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn
    đề nghị luận,...

    0.5
    0.5
    12.0
    1.5
    9.0

    1.0

    ĐỀ SỐ 2
    HỘI CÁC TRƯỜNG CHUYÊN
    VÙNG DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
    TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN – HÀ NỘI

    ĐỀ THI HSG MÔN NGỮ VĂN KHỐI 10
    Thời gian làm bài: 180 phút

    Câu 1 (8 điểm)
    Lời của ngọn cỏ
    Một ngọn cỏ nói với một chiếc lá mùa thu rằng:
    “Ngươi rơi ồn ào quá! Ngươi làm tan tác mọi giấc mộng mùa đông của ta.”
    Tức mình, chiếc lá mùa thu đáp trả:
    “Đồ sinh chốn thấp hèn và ở nơi thấp hèn! Đồ không biết hát, đồ hay cáu kỉnh! Ngươi không sống giữa không khí
    trên cao và ngươi không thể nào phân biệt được thanh âm của giọng hát.”
    Nói xong, chiếc lá mùa thu nằm yên dưới đất và ngủ. Khi mùa xuân tới, nó lại thức giấc – và nó là một ngọn cỏ.
    Khi mùa thu sang và giấc ngủ mùa đông của nó kéo tới. Trên mình nó toàn bộ không khí lướt qua, những chiếc lá
    rơi xuống, và nó thì thầm với mình:
    “Ôi những chiếc lá mùa thu! Chúng ồn ào quá! Chúng làm tan tác mọi giấc mộng của ta!”
    (Mây trên đỉnh núi và kẻ mộng du – Kahlil Gibran
    – Công ty sách thời đại và NXB Văn học, 2012, trang 175)
    Câu chuyện trên gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì?
    Câu 2 (12 điểm)
    Bàn về ngôn ngữ thơ, nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương cho rằng:
    Thơ vừa là nghệ thuật ngôn từ, vừa là nghệ thuật vượt qua ngôn từ, “khắc phục ngôn từ” (D.Likhatshev).
    Trong thơ hình thức ngôn ngữ thường mờ đục, trái lại, trong văn xuôi ngôn ngữ thường trong suốt.
    (Tác phẩm và thể loại văn học –
    NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh – trang 143)
    Bằng hiểu biết văn học của mình, anh/chị hãy bàn luận ý kiến trên.
     

    HƯỚNG DẪN CHẤM
    Câu

    Ý

    1

    Câu 1

    2
    3

    3

    Nội dung chính cần đạt
    Điểm
    Giải thích
    – Lời phàn nàn của ngọn cỏ hay chiếc lá là câu chuyện về cách giao tiếp, ứng xử của
    con người khi không có lòng trắc ẩn, đồng cảm và thấu cảm.
    + Khi không ở vị trí của nhau, thường con người không thể hiểu hết được nhau, và
    thường xuyên xảy ra những trách móc, hiểu lầm.
    + Mọi xung đột, xung khắc, chiến tranh của con người đều bắt đầu từ chỗ không ai ở vị
    trí của nhau. Ngọn cỏ không là chiếc lá, chiếc lá không là ngọn cỏ.
    – Nhưng tại sao khi chiếc lá là ngọn cỏ, nó lại tiếp tục phàn nàn về lá, mà không chịu
    thông cảm.
    2,0
    => Đặt ra vấn đề lớn nữa của con người: con người không chỉ trách móc người khác
    khi không chịu thấu hiểu người khác, mà con người còn thường xuyên trách móc người
    khác khi họ mắc lỗi y như của mình, mắc những lỗi mà mình cũng đã từng mắc phải.
    Bởi con người rất mau quên những gì đã xảy ra với mình, và vì con người không chịu ý
    thức, phản biện lại bản thân.
    Bình luận, Chứng minh
    5
    – Việc thấu hiểu người khác để cảm thông, chia sẻ là việc đương nhiên, là bản tính của
    con người, nhưng tại sao con người lại khó khăn khi hiểu người khác?
    2
    => Việc thấu hiểu, thông cảm cho nhau là một việc rất khó, đòi hỏi con người phải biết
    vượt qua những định kiến, phán xét và thế giới chủ quan của cá nhân.
    2,5
    => “Muốn hiểu được một người người khác, anh phải nuốt trọn cả thế giới”
    – Vấn đề của việc con người không chịu thấu hiểu người khác là bởi, con người cũng
    thường xuyên không thấu hiểu chính mình. Con người không nhớ những sai lầm mình
    đã mắc phải, đã không sống chậm lại, ngẫm nghĩ về bản thân, phản tư lại chính mình.
    => Đặt ra vấn đề về sự cần thiết của việc phản biện chính mình, sự phản tư của cá
    nhân.
    => Con người không chỉ không có lòng trắc ẩn với người khác, mà còn không có lòng  2,5
    trắc ẩn và thấu cảm với chính bản thân.
    HS chọn lọc dẫn chứng phù hợp.
    Liên hệ thực tiễn, rút ra bài học
    Thế giới sẽ ra sao, nếu con người lúc nào cũng thấu hiểu nhau, thông cảm cho nhau?
    => Có thể con người sẽ không phát triển nữa. Đôi khi, chính những sự không thấu
    hiểu, va chạm giữa các giá trị giữa cá nhân này và cá nhân kia, sẽ khiến con người luôn
    nỗ lực và tìm ra mục đích sống của mình hơn.

    1,0

    Biểu điểm:
    – Điểm 7 – 8: đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, bài viết sâu sắc độc đáo, diễn đạt lưu loát, câu văn giàu hình ảnh,
    cảm xúc.
    – Điểm 5 – 6: Nội dung đầy đủ, có thể còn thiếu một vài ý nhỏ, bố cục rõ ràng, diễn đạt trôi chảy, câu văn có hình
    ảnh, cảm xúc.
    – Điểm 3 – 4:  Bài làm còn thiếu ý. Văn chưa hay nhưng rõ ý. Mắc không quá 7 lỗi chính tả, dùng từ, viết câu.
    – Điểm 1 – 2: Trình bày ý còn sơ sài, kết cấu không rõ ràng, còn nhiều lỗi diễn đạt (>7 lỗi).
     Câu 2 1
    Giải thích
     2,0
    – Thơ và văn xuôi: hai kiểu tổ chức ngôn từ nghệ thuật mà sự khác nhau thuần túy bề
    ngoài trước hết ở cơ cấu nhịp điệu.
    + Nhịp điệu của thơ được tạo ra do sự phân chia (theo những quy tắc mang tính số

    lượng) dòng ngôn ngữ tác phẩm thành những ngữ đoạn vốn không trùng hợp với sự
    phân chia dòng ngôn từ theo cú pháp.
    + Dòng ngôn từ ở văn xuôi được chia thành những câu và đoạn câu vốn có ở lời nói
    thường ngày, nhưng đã được tu chỉnh lại.
    – Nghệ thuật ngôn từ: thơ cũng như các thể loại văn học khác, lấy ngôn từ làm chất
    liệu để xây dựng hình tượng nghệ thuật.
    – Nghệ thuật vượt qua ngôn từ, khắc phục ngôn từ: ngôn từ trong thơ luôn mở rộng
    biên giới ý nghĩa. Người làm thơ luôn vượt qua giới hạn nghĩa thông thường của ngôn
    từ để tạo lập một “kiểu”, một “cách” hiểu mới cho ngôn từ (đôi khi khác hẳn với nghĩa
    quen dùng).
    – Hình thức ngôn ngữ mờ đục: khó hiểu, đa nghĩa do chồng chập nhiều cách hiểu,
    nhiều cách liên tưởng.
    – Ngôn ngữ trong suốt: sáng tỏ, tường minh, logic.
    => Ý kiến bàn về đặc điểm của ngôn ngữ thơ, một phương diện nổi bật của thể loại
    thơ, trong sự so sánh với thể loại văn xuôi.
    2

    Bình luận, Chứng minh
    8,0
    Đây là ý kiến đúng đắn, khẳng định được đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca.
    – Vì sao thơ vừa là nghệ thuật ngôn từ, vừa là nghệ thuật vượt qua ngôn từ, “khắc phục
    ngôn từ” (D.Likhatshev). Trong thơ hình thức ngôn ngữ thường mờ đục, trái lại, trong
    văn xuôi ngôn ngữ thường trong suốt?
    + Văn xuôi là cách thức tổ chức ngôn từ dựa trên nguyên tắc nhân quả và thứ tự biên
    niên. Nói cách khác, văn xuôi tự sự là sự kết hợp có tính kế tục, sự trần thuật diễn ra từ
    một đối tượng này đến một đối tượng khác, kế cận nhau theo trận tự nhân quả hay trật
    tự thời gian.
    → Diễn ngôn của văn xuôi gần với lời nói thường ngày
    → Đọc văn xuôi ít nhiều người đọc thấy sự gần gũi.
    + Thơ lại là một thứ ngôn ngữ đặc biệt, khác thường. Ngôn ngữ thơ không phụ thuộc
    vào nguyên tắc nhân quả và thứ tự biên niên.
    Tính chất bất thường của việc tổ chức ngôn từ ở câu thơ thể hiện ở ý nghĩa đặc biệt,
    bản chất đặc thù của phát ngôn: đó không phải là thông báo hay phán đoán lý thuyết
    mà là một hành vi ngôn ngữ tự tại.
    + So với văn xuôi:
    Ngôn ngữ thơ:
     Hàm súc
     Đa nghĩa
     Giàu liên tưởng
    → Lạ hóa
    → Nảy sinh như một sự phân lập khỏi ngôn ngữ thực tại, hình thức câu thơ đã như là
    tín hiệu của việc đưa thế giới nghệ thuật ra khỏi khuôn khổ tính xác thực thường ngày.
     – Thơ vừa là nghệ thuật ngôn từ, vừa là nghệ thuật vượt qua ngôn từ, “khắc phục ngôn
    từ” (D.Likhatshev). Trong thơ hình thức ngôn ngữ thường mờ đục, trái lại, trong văn
    xuôi ngôn ngữ thường trong suốt như thế nào?
    + Thơ là ngôn ngữ đặc biệt, khác thường, nhưng phải có những nguyên tắc nhất định:
    Cấu trúc của bài thơ dựa trên sự lặp lại của hình ảnh và nhịp điệu qua sự giống nhau
    hay tương phản của cái được biểu hiện.
    + Vì thế, việc vượt qua ngôn từ, hay mờ đục của thơ phải rất “nghệ thuật”, không thể
    tùy tiện.
     – Học sinh chọn và phân tích dẫn chứng tiêu biểu trong các tác phẩm đã học, đã đọc
    để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận.

    3

    – Có thể phân tích các dẫn chứng đan cài hoặc tách riêng với phần Bình luận nhưng
    cần có ý thức bám sát vấn đề nghị luận.
    (Nên chọn những tác phẩm ngôn ngữ lạ hóa, đa nghĩa: Nguyệt cầm, Tây Tiến, Đàn
    ghita của Lorca, thơ Hàn Mặc Tử, thơ Đường, thơ Haiku, …)
    Đánh giá, mở rộng
    – Ý kiến là góc nhìn về thơ của một nhà nghiên cứu nhưng cũng là sự khẳng định đúng
    đắn về đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca.
    – Cũng cần nhận thấy thêm rằng, không có sự phân tích quá rạch ròi giữa ngôn từ thơ
    và văn xuôi (nhiều tác phẩm văn xuôi cũng có ngôn ngữ vượt qua ngôn từ, khắc phục
    ngôn từ); và ngôn ngữ mờ đục hay không còn do khuynh hướng, trào lưu, phong cách
    2,0
    tác giả.
    – Bài học sáng tạo và tiếp nhận:
    + Nhà thơ cần nỗ lực sáng tạo ngôn ngữ trau dồi, tinh luyện.
    + Người đọc cần tiếp cận tác phẩm trên nhiều phương diện: hình thức đến nội dung để
    trân trọng sự sáng tạo của người nghệ sĩ và thâm nhập vào thế giới vi diệu, bí ẩn của
    thơ ca.

    Biểu điểm:
    – Điểm 11 – 12: đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, bài viết sâu sắc độc đáo, diễn đạt lưu loát, câu văn giàu hình
    ảnh, cảm xúc.
    – Điểm 8 – 10: Nội dung đầy đủ, có thể còn thiếu một vài ý nhỏ, bố cục rõ ràng, diễn đạt trôi chảy, câu văn có
    hình ảnh, cảm xúc.
    – Điểm 5 – 7:  Bài làm còn thiếu ý. Văn chưa hay nhưng rõ ý. Mắc không quá 7 lỗi chính tả, dùng từ, viết câu.
    – Điểm 3 – 4: Trình bày ý còn sơ sài, kết cấu không rõ ràng, còn nhiều lỗi diễn đạt (>7 lỗi).
    – Điểm 1 – 2: Không hiểu đề, không có kĩ năng nghị luận, mắc quá nhiều lỗi diễn đạt.
    Lưu ý: Giám khảo vận dụng linh hoạt biểu điểm. Có thể thưởng điểm cho những bài viết có sáng tạo nếu điểm
    toàn bài chưa đạt tối đa. Điểm cho lẻ đến 0,25.

    ĐỀ SỐ 3
    HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN
    KHU VỰC DUYÊN HẢI, ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
    TRƯỜNG THPT CHUYÊN BIÊN HOÀ, T. HÀ NAM

    ĐỀ THI CHỌN HSG GIỎI LẦN THỨ XIV
    MÔN THI: NGỮ VĂN – KHỐI 10
    Thời gian làm bài 180 phút

     
    Câu 1 (8,0 điểm): Nghị luận xã hội
    Đời ngắn đừng ngủ dài là nhan đề bản dịch tiếng Việt cuốn sách của Robin Sama – một chuyên gia hàng đầu thế
    giới về huấn luyện nghệ thuật lãnh đạo và phát triển bản thân.
    Suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa triết lý được gợi ra từ nhan đề cuốn sách.
    Câu 2 (12,0 điểm): Nghị luận văn học
    Một bài thơ hay, theo tôi là một bài thơ có thần thái, có linh hồn, một sinh linh được hiện hữu trong thân xác ngôn
    ngữ.
    (Mai Văn Phấn – Nhà thơ nói về thơ hay – Chuyện trong cuộc – Tạp chí Văn nghệ Quân đội 4/6/2019)
    Anh/Chị hiểu như thế nào về ý kiến trên? Bằng trải nghiệm văn học, hãy làm sáng tỏ vấn đề.
     
     

    HƯỚNG DẪN CHẤM
    Câu 1 (8,0 điểm): Nghị luận xã hội
    Yêu cầu về kỹ năng
    – Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội, huy động những hiểu biết về đời sống xã hội, kĩ năng tạo lập văn bản và
    khả năng bày tỏ quan điểm riêng.
    – Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ; diễn đạt trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; vận dụng tốt
    các thao tác lập luận; dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc.
    Yêu cầu về kiến thức
    Trên cơ sở hiểu ý nghĩa nhận định, bài làm của thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng phải có căn cứ xác
    đáng. Thí sinh được tự do bày tỏ quan điểm của mình nhưng phải có thái độ chân thành nghiêm túc, phù hợp với
    chuẩn mực đạo đức xã hội. Sau đây là một số định hướng:
    Giải thích (1,0 điểm)
    – Đời ngắn: là sự hữu hạn của cuộc đời mỗi con người.
    – Ngủ dài: chỉ giấc ngủ dài, ngủ lâu; cũng chỉ việc ngủ quên, quên cuộc đời, quên chính mình.
    -> Nhan đề cuốn sách là một nhắc nhở mỗi chúng ta về việc sống có ích, có ý nghĩa, không nên lãng phí cuộc đời.
    Bình (5,0 điểm)
    – Mỗi chúng ta chỉ có một cuộc đời. Thời gian cuộc đời là hữu hạn, nó qua đi là không bao giờ lấy lại được nữa.
    Trong quỹ thời gian ngắn ngủi đó của cuộc đời, chúng ta có và cần làm rất nhiều việc quan trọng và ý nghĩa.
    – Nếu chúng ta ngủ dài, chúng ta sẽ:
    + Lãng phí thời gian cuộc đời mình, không thực hiện được những việc chúng ta cần và mong muốn trong cuộc
    đời. Đến khi không còn đủ thời gian nữa thì chúng ta lại hối tiếc, ân hận. Cuộc đời có nhiều lần  Giá như là cuộc
    đời vô ích, nhàm chán.
    + Trở thành những con người lười biếng, chậm chạp, trây lì, trở thành sống không có lý tưởng, mục tiêu, tự buông
    thả bản thân mình và trở thành gánh nặng của gia đình, xã hội.
    + Bỏ phí những cơ hội, dịp may để thay đổi cuộc đời, làm mới cuộc đời và tương lai sẽ là bóng tối mù mịt, u ám.
    + Bị xã hội lên án, mọi người xa lánh, coi thường, tẩy chay.
    – Nếu chúng ta biết sống có ích, có ý nghĩa, chúng ta sẽ:

    + Tận dụng được tối đa thời gian cuộc đời mình để làm những việc cần thiết khiến mỗi ngày của chúng ta đều đẹp
    đẽ, có ích, vui vẻ. Như quan niệm của triết gia Marcus Aurelius: “Để sống như thể đây là ngày cuối cùng, đừng
    bao giờ hoang mang, đừng bao giờ hờ hững, đừng bao giờ kiểu cách – đó là một tính cách hoàn hảo”.
    + Là người nhanh nhẹn, hoạt bát, sáng tạo, yêu đời và xã hội cũng nhờ đó phát triển, hiện đại, văn minh.
    (Thí sinh lấy dẫn chứng chứng minh)
    Bàn luận, mở rộng vấn đề (1,0 điểm)
    – Khẳng định được ý nghĩa quan trọng của sống đẹp, sống có ích trong cuộc đời.
    – Tuy nhiên, đừng ngủ dài không có nghĩa là luôn sống gấp, sống vội, sống chạy đua với cuộc đời mà không biết
    sắp xếp thời gian nghỉ ngơi, tận hưởng, sống chậm. Những giây phút được ngủ cũng là phương thuốc di dưỡng
    tâm hồn để nạp thêm năng lượng cho những công việc tiếp theo
    – Phê phán những người sống không hết mình, không có lý tưởng, chỉ muốn tận hưởng mà không cống hiến.
    Bài học nhận thức và hành động (1,0 điểm)
    Cách cho điểm
    – Điểm 7-8: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày vấn đề một cách sâu sắc, thuyết phục; văn phong chuẩn
    xác, biểu cảm; có thể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả và dùng từ.
    – Điểm 5-6: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày vấn đề cơ bản rõ ràng nhưng chưa thật sâu sắc; mắc
    một số lỗi nhỏ về diễn đạt và chính tả.
    – Điểm 3- 4: Trình bày được khoảng một nửa yêu cầu về kiến thức; còn mắc lỗi về diễn đạt và chính tả.
    – Điểm 1-2: Bài viết tỏ ra chưa hiểu rõ vấn đề, lúng túng trong cách giải quyết, mắc nhiều lỗi diễn đạt và chính tả .
    – Điểm 0: Bài viết lạc đề, hiểu sai vấn đề hoặc không viết gì.
    Câu 2 (12,0 điểm): Nghị luận văn học
    Yêu cầu về kỹ năng
    – Nắm chắc phương pháp, kĩ năng làm bài nghị luận văn học.
    – Biết vận dụng kiến thức lí luận văn học để bàn luận, chứng minh vấn đề một cách hợp lí, thuyết phục.
    – Bố cục rõ ràng, mạch lạc; lập luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, có cảm xúc; không mắc lỗi chính tả, dùng từ,
    đặt câu.
    Yêu cầu về kiến thức

    Thí sinh có thể trình bày, sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách nhưng về cơ bản cần đảm bảo những nội dung
    sau:
    Giải thích (1,0 điểm)
    – Thơ: là hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người, theo phương thức trữ tình, thực sự hình thành khi con
    người có nhu cầu tự biểu hiện. Thơ phản ánh cuộc sống qua những cảm xúc dạt dào, chất chứa, những liên tưởng,
    tưởng tượng mạnh mẽ, ngôn ngữ hàm súc và gợi cảm, hình ảnh phong phú và rất giàu nhịp điệu…
    – Thần thái: là phong cách mang nét đẹp được thể hiện cả ở vẻ bên ngoài và giá trị bên trong.
     – Linh hồn, sinh linh: là cơ thể sống có cuộc đời mang giá trị tinh thần to lớn.
    – Thân xác ngôn ngữ: là hình thức bên ngoài được tạo nên bởi chất liệu ngôn từ.
     -> Bằng cách diễn đạt theo lối nêu định nghĩa, nhà thơ Mai Văn Phấn đã nêu một quan niệm về một bài thơ hay.
    Một bài thơ hay phải mang những nội dung, tư tưởng, tinh thần lớn lao tạo nên phong thái, sức sống lâu bền phía
    trong lớp vỏ ngôn từ văn chương. Đó là đặc trưng và cũng là yêu cầu của một bài thơ hay.
    Bình (3,0 điểm)
    – Ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện để biểu hiện mang tính đặc trưng của văn chương. M. Gorki từng viết:
    “Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ – công cụ chủ yếu của nó – và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của
    cuộc sống – là chất liệu của văn học”. Ngôn ngữ văn học nói chung và ngôn ngữ thơ ca nói riêng là quá trình lao
    động công phu của người nghệ sĩ nhằm gửi gắm những tư tưởng, tình cảm sâu sắc đến người đọc. Bởi vậy thân
    xác ngôn từ phải mang đến cho mỗi bài thơ một thần thái, linh hồn, sinh linh. Nếu không, thứ ngôn từ kia chỉ là
    ngôn từ vô tri
     
    Gửi ý kiến

    vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam