GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
21_de_thi_hsg_cap_truong_mon_van_12_co_dap_an

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:04' 27-01-2026
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:04' 27-01-2026
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
ĐỀ SỐ 1
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 12 CHƯƠNG TRÌNH THPT - TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ
Môn: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát
đề)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
(1) Đã tới lúc chúng ta cần tách ra khỏi đám đông, khước từ chuyên chế của nó. Người ta chỉ có thể lắng
nghe tiếng nói bên trong mình nếu bỏ được ra ngoài sự ồn ào xung quanh. Chúng ta cần đứng riêng để tìm
ra mình, để bảo vệ tư duy độc lập và nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm. Trong một loạt thí nghiệm nổi tiếng
của Solomon Asch cách đây 60 năm, người tham gia thí nghiệm ngồi cùng với một số người khác (thực chất
là những người đồng mưu với Asch). Mọi người trong nhóm được yêu cầu so sánh độ dài của một số đường
thẳng - một bài tập cho trẻ con. Tuy nhiên, nếu những người đồng mưu nhất loạt cùng chọn một câu trả lời
rõ ràng là sai thì tới 30% trường hợp người tham gia thí nghiệm sẽ từ bỏ đánh giá cá nhân của mình để vào
hùa với đám đông. Trạng thái một mình là cần thiết để phát triển bản sắc và nuôi dưỡng sự sáng tạo. Ralph
Waldo Emerson, nhà thơ lớn người Mỹ ở thế kỉ XIX viết: “Người gây cảm hứng vầ dẫn đường cần tách khỏi
những người khác, để không phải sống, thở, đọc và viết hằng ngày dưới gông cùm những ý kiến của họ.”
(2) Đứng một mình không dễ. Không những nó có thể làm ta không được ưa thích, khi một mình, nhà văn
Đan Mạch Dorthe Nors viết, chúng ta phải đối diện với cảm xúc của ta, quá khứ của ta, cuộc đời của ta,
những vấp váp, sai lầm của ta, ta sẽ cảm thấy mình nhỏ bé. Cần lòng dũng cảm để không lẩn tránh
chúng. Đổi lại, điều ta nhận được là một sự vững vàng mà không phải bám víu vào sự tung hô của người
khác. Một mình nhưng không cô đơn. Triết gia thế kỉ 19 Henry David Thoreau viết: “Tôi không cô đơn
hơn một cây mao nhị hay bồ công anh trên một đồng cỏ, hay một lá đậu, hay một cây chua me đất, hay
một con mòng, hay một con ong nghệ. Tôi không cô đơn hơn ngôi sao Bắc đẩu, hay một ngọn gió Nam,
hay một cơn mưa tháng Tư, hay băng tan tháng Giêng"
(3) Cuối cùng, một mình không có nghĩa là phải tách khỏi người khác một cách vật lí. Một mình là một
quan điểm sống, một trạng thái tinh thần độc lập, nó không được đo bởi khoảng cách vật lí giữa một cá
nhân và những người xung quanh. Các ẩn sĩ hiện đại không cần thiết phải lên núi. Họ vẫn ở trong xã hội,
yên lặng, quan sát và tìm hiểu thế giới. Họ tự do trước các con sóng của đám đông để có thể quan tâm tới
cộng đồng một cách sâu sắc hơn, đóng góp cho cộng đồng một cách hiểu biết hơn. Vẻ đẹp của người
đứng một mình là vẻ đẹp tự tại, với một niềm vui tự thân. Một niềm vui mà như nhà tu hành David
Steindl-Rast diễn tả, không phụ thuộc vào những điều đang xảy ra.
(Trích Vẻ đẹp của người đứng một mình, Đặng Hoàng Giang, in trong Bức xúc không làm ta vô can,
NXB Hội Nhà văn, 2016, tr.79-80)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Chỉ ra những bằng chứng khách quan về việc cần tách ra khỏi đám đông được sử dụng trong đoạn
(1)
Câu 2. Theo nội dung văn bản, vì sao chúng ta cần đứng một mình ?
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong việc làm nổi bật nội dung của đoạn trích sau:
Tôi không cô đơn hơn một cây mao nhị hay bồ công anh trên một đồng cỏ, hay một lá đậu, hay một cây
chua me đất, hay một con mòng, hay một con ong nghệ. Tôi không cô đơn hơn ngôi sao Bắc đẩu, hay một
ngọn gió Nam, hay một cơn mưa tháng Tư, hay băng tan tháng Giêng
Câu 4. Nhận xét về mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề văn bản Vẻ đẹp của người đứng
một mình.
Câu 5. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị rút ra thông điệp mà mình tâm đắc nhất và lý giải?
II. PHẦN VIẾT (16,0 điểm)
Câu 1. (6,0 điểm)
“... Tôi thích hình ảnh ngọn hải đăng. Những ngọn hải đăng đứng yên, đêm đêm sáng lên, để người lái
tàu nào cũng có thể nhìn thấy từ ngoài biển khơi và biết đó là bờ, biết đó là đích đến. Người ta cần có
một ngọn hải đăng trong tâm hồn mình. Ngọn hải đăng của tôi là niềm tin cậy vào cuộc đời có trước có
sau, trao yêu thương để nhận yêu thương, chân thành, tha thiết, hết lòng.”
(Đỗ Bích Thúy, Than đỏ dưới tro tàn, NXB Hội nhà văn, HN 2023, tr
7)
Từ những chia sẻ của Đỗ Bích Thúy, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận với chủ đề: Người ta cần có
một ngọn hải đăng trong tâm hồn mình.
Câu 2. (10,0 điểm)
Nhà phê bình Chu Văn Sơn từng nhận định: “Thơ là phần người được gửi vào ngôn ngữ, là phận người
cất thành tiếng, thậm chí, là mệnh người kí trú trong lời. Thơ đòi người thơ phải chưng cất chất người
trong mình mà tinh luyện thành ngôn từ”. (Trích “Sống ở thế gian bằng lục bát” – báo Nhân dân, ngày
30/01/2010; https://nhandan.vn/song-o-the-gian-bang-luc-bat)
Anh/Chị hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ nhận định qua thi phẩm Xuân không mùa của
Xuân Diệu:
Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Nếu vườn nào cây nhẳng bỗng ra hương,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu.
Là xuân đó. Tôi đợi chờ chi nữa?
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa,
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng,
Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Khi những em gặp gỡ giữa đường qua
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Ngừng mặt lại, để trao cười bỡ ngỡ.
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Ấy là máu báo tin lòng sắp nở
Xuân là lúc gió về không định trước.
Thêm một phen khi đã mấy lần tàn.
Đông đang lạnh, bỗng một hôm trở ngược,
Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian
Mây bay đi để hở một khung trời.
Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ.
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ
Như được nắm một bàn tay son sẻ...
Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay...
Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Ấy là thư hồi hộp đón trong tay;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Ấy dư âm giọng nói đã lâu ngày
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa
Một sớm tím bỗng dịu dàng đồng vọng...
Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
Miễn trời sáng, mà lòng ta giợn sóng,
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
Nếu lá úa trên cành bàng không rụng,
Mà hoa thưa ửng máu khác ngày thường.
Thế là xuân. Hà tất đủ chim hoa,
Kể chi mùa, thời tiết , với niên hoa,
Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng
(Trích: Xuân Diệu Thơ và Đời, NXB Văn học)
--------------------- Hết ------------------Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần
I
Câu
1
2
3
4
5
II
Yêu cầu cần đạt
ĐỌC HIỂU
Những bằng chứng khách quan về việc cần tách ra khỏi đám đông được sử
dụng trong đoạn (1):
- Thí nghiệm nổi tiếng của Solomon Asch
- Câu nói của Ralph Waldo Emerson, nhà thơ lớn người Mỹ.
Theo nội dung văn bản, chúng ta cần “đứng một mình” vì:
Để lắng nghe tiếng nói bên trong mình, để tìm ra mình, để bảo vệ tư duy độc
lập và nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm, để phát triển bản sắc và nuôi dưỡng
sự sáng tạo
- Biện pháp nghệ thuật: so sánh hoặc liệt kê…
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt; làm cho diễn đạt trở nên sinh
động, có nhịp điệu.
+ Nhấn mạnh, làm nổi bật vai trò của việc đứng một mình, giúp người đọc
nhận ra việc đứng một mình không hề cô đơn và đáng sợ.
Mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề văn bản Vẻ đẹp của
người đứng một mình: Nội dung nghị luận và nhan đề của văn bản có mối
quan hệ chặt chẽ vì nhan đề khái quát được nội dung chính của văn bản,
tất cả các thông tin chính của văn bản đều được trình bày để hướng đến
việc làm rõ “vẻ đẹp của người đứng một mình”.
HS rút ra bài học mà mình tâm đắc nhất, không vi phạm pháp luật, chuẩn
mực đạo đức và có sự lý giải hợp lý. Sau đây là một số gợi ý:
- Chúng ta cần tách khỏi đám đông để biết tư duy độc lập.
- Muốn tách khỏi đám đông cần phải dũng cảm.
- Vẻ đẹp của người đứng một mình là sự an nhiên, tự tại…
PHẦN VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận với chủ đề: Người ta cần có một ngọn hải
đăng trong tâm hồn mình.
Điểm
4,0
0,5
0,5
1,0
1,0
1,0
16,0
6,0
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
0,25
Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (khoảng
200 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn
dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích, song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Người ta cần có một ngọn hải 0,5
đăng trong tâm hồn mình.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: Xác định
được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
* Giải thích
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
- Ngọn hải đăng: Hình ảnh ngọn đèn biển, chỉ dẫn bằng ánh sáng cho mọi
tàu thuyền không lạc lối giữa mênh mông biển cả, từ đó có thể tìm đúng
đường về đất liền.
- Ngọn hải đăng trong tâm hồn: ẩn dụ cho những điều có ý nghĩa cao đẹp,
tỏa sáng trong tâm hồn của mỗi người, giúp cho họ luôn biết hướng
thượng.
=> Những chia sẻ của Đỗ Bích Thúy nhắc nhủ mỗi chúng ta cần có ngọn
hải đăng để soi sáng tâm hồn mình, kiên định với lí tưởng sống đúng đắn,
đẹp đẽ; để trong đời không lâm vào những lạc lối, u mê đáng tiếc.
* Bàn luận:
- Cuộc sống vốn nhiều phức tạp và cám dỗ, dễ khiến con người bị lung lạc
tinh thần. Vì thế, con người cần một ngọn hải đăng chiếu sáng tâm hồn để
không bị mất phương hướng trong cuộc đời, không bị những cám dỗ làm
cho lầm lạc.
- Ngọn hải đăng soi đường giúp con người kiên định với những điều đúng
đắn trong đời. Mặt khác, ánh sáng từ ngọn hải đăng đó sẽ khiến tâm hồn
con người hướng thượng, biết hướng đến những điều cao đẹp, tốt lành.
- Ngọn hải đăng vừa có tính chất soi sáng cho con đường riêng của mỗi
người, vừa là cột mốc tin cậy để con người tìm về sau những lầm lạc, u mê
trong cuộc đời.
- Mỗi chúng ta cần có một ngọn hải đăng trong tâm hồn, một ngọn hải
đăng của riêng mình như: tình yêu thương, khát vọng cao đẹp, lòng can
đảm, niềm tin yêu ... để sống một cuộc đời đẹp đẽ nhất.
( Thí sinh cần chọn dẫn chứng phù hợp, lập luận thuyết phục.)
* Bài học nhận thức, hành động
- Để ánh sáng của ngọn hải đăng luôn tỏa rạng trong tâm hồn, trở thành
nguồn sáng có ý nghĩa, bản thân mỗi cá nhân phải luôn có ý thức suy nghĩ
và hành động đúng đắn, kiên định theo những chỉ dẫn của ngọn hải đăng.
- Kiên định hướng theo ánh sáng của ngọn hải đăng tâm hồn mình không
có nghĩa là cá nhân khép mình trước ánh sáng những ngọn hải đăng của
người khác, hãy biết rộng mở tâm hồn đón nhận những nguồn ánh sáng tốt
lành, đẹp đẽ để bản thân ngày càng trở nên hoàn thiện hơn.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để
triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù
hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng.
1,0
2,5
0,5
0,5
đ. Diễn đạt
0,25
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
2
2.1.
đoạn văn.
0,5
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diện đạt mới mẻ.
Nhà phê bình Chu Văn Sơn từng nhận định:
10,0
“Thơ là phần người được gửi vào ngôn ngữ, là phận người cất thành
tiếng, thậm chí, là mệnh người kí trú trong lời.Thơ đòi người thơ phải
chưng cất chất người trong mình mà tinh luyện thành ngôn từ”.
(Trích “Sống ở thế gian bằng lục bát” – báo Nhân dân, ngày 30/01/2010;
https://nhandan.vn/song-o-the-gian-bang-luc-bat)
Anh/Chị hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ nhận định qua
thi phẩm Xuân không mùa của Xuân Diệu.
* Yêu cầu về kĩ năng
- Có kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học, biết huy động các kiến thức lí
luận, kiến thức về tác giả, tác phẩm để làm bài.
- Vận dụng tốt các thao tác lập luận; lí lẽ xác đáng; trình bày khoa học;
văn viết có cảm xúc, giọng điệu riêng; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi
chính tả, dùng từ, đặt câu.
* Yêu cầu về kiến thức
Học sinh có nhiều cách trình bày khác nhau song cần đạt được những nội
dung cơ bản sau:
Giải thích
1,0
- người thơ: con người thi sĩ, nhà thơ, tồn tại với tư cách là một cái tôi
mang cảm xúc cá thể, với sứ mệnh kiếm tìm những trải nghiệm cái đẹp.
- phần người, phận người, mệnh người, chất người: tình cảm, cảm xúc,
rung động sâu xa của con người, khi con người tự ý thức, đào sâu vào bản
thể. Đó là phần nhân tính nhất, mang tính riêng biệt, cá thể nhưng cũng có
sức lan tỏa, phổ quát.
- chưng cất chất người: đặc trưng quá trình lao động sáng tạo của nhà thơ
là sự chắt lọc, đào sâu cảm xúc, suy nghĩ, nghiền ngẫm; là khát vọng được
thành thực, được sống chân thành, trọn vẹn đến tận cùng cái tôi của mình.
- ngôn ngữ, tiếng, lời, ngôn từ: chất liệu của thơ ca, có cấu tạo, tổ chức đặc
biệt để gây ấn tượng thẩm mĩ với người đọc.
- tinh luyện ngôn từ: là quá trình nhà thơ chọn lọc, sắp xếp, cấu trúc các
yếu tố ngôn ngữ (âm điệu, vần điệu, thanh điệu, thể thơ,..) một cách công
phu, khổ nhọc. Kết quả tạo ra là ngôn từ thơ ca với vẻ đẹp tự thân: nhạc
điệu, âm vang, khơi gợi hình ảnh mới lạ, bất ngờ.
=> Ý kiến đặt ra yêu cầu cao về quá trình sáng tạo thơ ca. Một mặt thơ ca
đòi hỏi người nghệ sĩ đào sâu nội tâm, khai thác cái cá thể riêng biệt
nhưng vẫn có sức cộng hưởng, đồng vọng, phổ quát. Mặt khác, nhà thơ
cần tìm kiếm ngôn từ đẹp đẽ phù hợp nhất để truyền tải nội dung. Nội
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
2.2.
dung và hình thức trong thơ phải có sự thống nhất cao độ với nhau.
* Bàn luận:
3,0
Đây là ý kiến đúng đắn, khẳng định được đặc trưng của thể loại thơ ca và
quá trình lao động sáng tạo thơ ca.
- Thơ ca là loại hình nghệ thuật đặc biệt, kết tinh vẻ đẹp của cảm xúc
thăng hoa và vẻ đẹp ngôn từ hàm súc, giàu sức gợi.
- Đặc trưng của thể loại thơ ca: Đó là tiếng nói nội tâm sâu sắc, mãnh liệt
của nhà thơ trước con người và cuộc đời, có khả năng chạm tới cái chung
của cõi người tạo nên sự tri âm, đồng cảm để từ đó là phận người cất
thành tiếng, là mệnh người kí trú trong lời. Người thi sĩ khi sáng tác cũng
là lúc được sống với những cảm xúc, tình cảm, tư tưởng, cá tính riêng,
sống với thế giới ý thức và cả tiềm thức, vô thức sâu kín nhất của mình, do
đó, thơ là một hình thức thể hiện bản thể của chính nhà thơ, đòi người thơ
phải chưng cất chất người trong mình
- Bên cạnh đó, thơ ca cũng đòi hỏi nhà thơ phải in dấu ấn riêng của mình 4,0
trong quá trình tinh luyện ngôn từ. Thông qua cách tổ chức ngôn từ đặc
biệt, giàu tính thẩm mĩ (ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm, giàu hình
ảnh…) để tạo nên sức sống lâu bền của thơ ca.
* Chứng minh:
Thí sinh phân tích bài thơ Xuân không mùa (Xuân Diệu), quá trình phân
tích, bình giá cần chọn lọc dẫn chứng tiêu biểu và phân tích dẫn chứng cần
tập trung làm sáng tỏ ý kiến, sau đây là một số gợi ý:
- Phần người, phận người, mệnh người, chất người trong bài thơ được bộc
bạch qua tình cảm, cảm xúc mãnh liệt, thăng hoa và sự tự chiêm nghiệm,
tự ý thức về cái tôi của Xuân Diệu.
+ Thi sĩ giao hòa, đắm say ngắm nhìn, ghi lại từng vi mạch của sự sống,
những khoảnh khắc trở mình bất chợt của tạo vật... để hân hoan sống, đón
nhận sức sống đang bừng lên trong màu nắng, làn gió, áng mây…
+ Tâm hồn nghệ sỹ nhạy cảm, tài hoa tha thiết, đắm say trong khát vọng
giao hòa với thiên nhiên, đất trời, con người và cuộc sống. Trái tim Xuân
Diệu trẻ trung, yêu đời, khát sống luôn căng mở mọi giác quan để đón
nhận những chuyển giao của đất trời, tạo vật và lòng người.
+ Bài thơ là sự chưng cất chất người của một cái tôi Xuân Diệu với quan
niệm sống tích cực và nhân văn: Hãy sống lạc quan, yêu đời, sống hết
mình để giao hòa cùng thiên nhiên vũ trụ, để cảm nhận những biến
chuyển, những tín hiệu diệu kỳ của sự sống; hãy luôn sống tích cực, khát
khao cảm với cuộc đời, gắn bó với quê hương đất nước để có xuân không
mùa, xuân vĩnh viễn trong tâm hồn, trái tim mình.
- Cá tính sáng tạo với những cách tân giàu tính nghệ thuật trong quá trình
tinh luyện ngôn từ của thi nhân (ngôn ngữ, thể thơ, hình ảnh thơ, giọng
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
2.3.
điệu...): Thể thơ tự do, nhịp thơ linh hoạt; hình ảnh, ngôn từ chọn lọc giàu
gợi hình, gợi cảm, đặc sắc; phép liệt kê, điệp từ, điệp ngữ sử dụng uyển
chuyển, tinh tế...
* Đánh giá:
1,5
- Ý kiến là góc nhìn về thơ của một nhà phê bình nhưng cũng là sự khẳng
định đúng đắn về đặc trưng của thể loại thơ ca và quá trình sáng tạo thơ ca.
Những cảm xúc, tình cảm mãnh liệt chân thành, mang tính thẩm mĩ được
gửi gắm trong sự sáng tạo về hình thức biểu hiện sẽ làm nên sức sống đích
thực, lâu bền cho thơ.
- Bài học sáng tạo và tiếp nhận:
+ Nhà thơ cần có cảm xúc mãnh liệt, chân thành được chắt lọc, đào sâu
gửi gắm vào ngôn ngữ được trau chuốt, tinh luyện.
+ Người đọc cần tiếp cận tác phẩm trên nhiều phương diện: hình thức đến
nội dung để đồng điệu với cảm xúc của người nghệ sĩ và thâm nhập vào
thế giới vi diệu, bí ẩn của thơ ca.
* Sáng tạo
0,5
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề
nghị luận.
TỔNG ĐIỂM TOÀN BÀI
20,0
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
ĐỀ SỐ 2
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 12 CHƯƠNG TRÌNH THPT - TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ
Môn: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát đề)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
“Nghe quan họ đêm rằm anh bật khóc
Giờ biết lấy cớ gì anh dối mẹ Quan họ quên...
Lời chênh vênh uốn lượn mái chùa
rơi dọc tháng ngày
Vịn câu hát anh lần về cội gốc
Sợi tóc rụng như lá vườn lặng lẽ
Chợt thấy mình có lỗi với làng xưa...
Mẹ không còn và mắt anh cay
Bao mưa nắng đời anh chưa hiểu hết
Cứ ẩn hiện dáng đời trong câu hát
Giờ xót xa thương mẹ nhớ làng
Lòng mẹ ta nhân hậu vô vàn
Mẹ cho của hồi môn là câu hát
Vẻ thanh thoát nét hào hoa của trúc
(1)
Để con rời quê kiểng có hành trang
Cũng nói lên cốt cách của làng
Mẹ thường bảo làng ta giàu cổ tích
Đêm nay ngồi nghe em thay mẹ hát
Có bà tiên ông bụt giúp người
Trăng tròn người thẹn nón đầu che
Nhưng mẹ vẫn một đời áo rách
Chờ em hát đến “người ơi người ở...”
Cố giữ lành câu quan họ thôi
Hẳn lòng anh tủa rễ tựa cây đề”
Người để lại chiếc khăn hoa lý
(“Nhớ mẹ và làng quan họ”, Trương Nam
Em nhớ cho đời mẹ xưa nghèo,
Hương,Thơ Việt Nam thế kỉ XX, NXB Giáo
Vẫn thơm thảo mùi hương quả thị
Dục, 2004)
Với câu thề quán dốc trăng treo
Chú thích:
-(1)”Quê kiểng” ( phương ngữ, ít dùng): có vẻ dân dã, mộc mạc.
- Bài thơ từng đoạt giải B (không có giải A) cuộc thi thơ Tạp chí “Văn nghệ quân đội” năm 1989-1990.
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Xác định những hình ảnh thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Câu 3. Những ý nghĩa nào được gợi ra từ hai dòng thơ: “Mẹ cho của hồi môn là câu hát/ Để con rời quê
kiểng có hành trang” ?
Câu 4. Đánh giá hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: “Nhưng mẹ vẫn một đời
áo rách/ Cố giữ lành câu quan họ thôi.”
Câu 5. Lời của người mẹ trong bài thơ gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa quê hương và đời
sống tâm hồn con người.
II. PHẦN VIẾT (16,0 điểm)
Câu 1 (6,0 điểm)
“Con sâu bò cả ngày thì có thể di chuyển được 1 mét, nếu trước khi chết, nó muốn đi được 10 kilômét thì
phải làm thế nào đây? Phải gồng mình mà bò quyết liệt hơn? Không phải vậy. Phải biến thành bướm và
vỗ cánh bay đi”. (Theo Rando, “Trưởng thành sau ngàn lần tranh đấu”, NXB Hà Nội, 2016)
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
Từ câu chuyện trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) về chủ đề “Đổi mới cách
nghĩ và sáng tạo trong hành động”.
Câu 2 (10,0 điểm):
Nhà thơ Trương Nam Hương từng phát biểu: “Với tôi, thơ là nỗi ám ảnh của vô thức, sự sám hối của tâm
thức. Tôi giải thoát những nỗi buồn của tôi bằng thơ và chỉ có thể bằng thơ. Lúc ấy lòng tôi mới có thể trở
nên thanh thản như con chiên sau khi đã xưng tội trước Chúa vậy”.
Anh/ Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ quan điểm sáng tác của Trương Nam Hương qua
thi phẩm “Nhớ mẹ và làng quan họ” được nêu ở phần Đọc hiểu.
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần Câu Nội dung
I
Đọc hiểu
1
- Thể thơ của văn bản: Tự do
- Dấu hiệu để xác định thể thơ: Số chữ giữa các dòng thơ không đều nhau
2
Những hình ảnh thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ: “Nghe quan
họ… anh bật khóc”; “thấy mình có lỗi với làng xưa”; “xót xa thương mẹ nhớ
làng”; “Mẹ không còn và mắt anh cay”.
3
Những ý nghĩa nào được gợi ra từ hai dòng thơ: “Mẹ cho của hồi môn là câu hát/
Để con rời quê kiểng có hành trang”:
- “Của hồi môn” là để chỉ tài sản quý mà ông bà, cha mẹ để lại cho con cháu. “Câu
hát” là sản phẩm tinh thần, là biểu tượng vẻ đẹp văn hóa dân gian, là tài sản vô giá
của dân tộc.
- Mẹ không có tiền bạc, vật chất mà chỉ có “câu hát” cho con làm hành trang trên
chặng đường dài rộng của cuộc đời. Hai dòng thơ là sự nâng niu, trân trọng của mẹ
với giá trị văn hóa truyền thống và tình yêu thương vô bờ bến với nhân vật trữ tình.
Mẹ gửi trong câu hát tấm lòng, tình cảm và niềm hi vọng con khôn lớn, trưởng
thành.
4
- Hai dòng thơ sử dụng biện pháp tu từ tương phản- đối lập:
“mẹ… một đời áo rách”>< “Cố giữ lành câu quan họ”
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, biểu cảm cho sự diễn đạt, làm hình ảnh thơ sinh động, hấp
dẫn, câu thơ cân đối, hài hòa.
+ Nhấn mạnh dù có nghèo khổ, cơ cực, vất vả (“một đời áo rách”) mẹ vẫn cố giữ
gìn và lưu truyền câu ca quan họ (“giữ lành câu quan họ”)- nét đẹp văn hóa dân
gian của quê hương. Thể hiện thái độ trân trọng, cảm thông, niềm kính yêu vô hạn
của con với mẹ. Từ đó nhắc nhở mỗi người về thái độ sống ân nghĩa thủy chung
với cha mẹ, trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân
tộc.
5
- Lời của người mẹ được nhắc đến trong hai câu thơ: “Mẹ thường bảo làng ta giàu
cổ tích/ Có bà tiên ông bụt giúp người”. Người mẹ muốn nói với con rằng, người
làng ta sống rất nhân hậu, giàu niềm tin, luôn hướng đến những điều tốt đẹp (“giàu
cổ tích”), biết sẻ chia, giúp đỡ mọi người(giống “bà tiên, ông bụt”).
- Từ lời người mẹ, thí sinh bày tỏ suy nghĩ về mối quan hệ giữa quê hương và đời
sống tâm hồn con người. Có thể theo hướng sau: quê hư
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
ĐỀ SỐ 1
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 12 CHƯƠNG TRÌNH THPT - TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ
Môn: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát
đề)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
(1) Đã tới lúc chúng ta cần tách ra khỏi đám đông, khước từ chuyên chế của nó. Người ta chỉ có thể lắng
nghe tiếng nói bên trong mình nếu bỏ được ra ngoài sự ồn ào xung quanh. Chúng ta cần đứng riêng để tìm
ra mình, để bảo vệ tư duy độc lập và nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm. Trong một loạt thí nghiệm nổi tiếng
của Solomon Asch cách đây 60 năm, người tham gia thí nghiệm ngồi cùng với một số người khác (thực chất
là những người đồng mưu với Asch). Mọi người trong nhóm được yêu cầu so sánh độ dài của một số đường
thẳng - một bài tập cho trẻ con. Tuy nhiên, nếu những người đồng mưu nhất loạt cùng chọn một câu trả lời
rõ ràng là sai thì tới 30% trường hợp người tham gia thí nghiệm sẽ từ bỏ đánh giá cá nhân của mình để vào
hùa với đám đông. Trạng thái một mình là cần thiết để phát triển bản sắc và nuôi dưỡng sự sáng tạo. Ralph
Waldo Emerson, nhà thơ lớn người Mỹ ở thế kỉ XIX viết: “Người gây cảm hứng vầ dẫn đường cần tách khỏi
những người khác, để không phải sống, thở, đọc và viết hằng ngày dưới gông cùm những ý kiến của họ.”
(2) Đứng một mình không dễ. Không những nó có thể làm ta không được ưa thích, khi một mình, nhà văn
Đan Mạch Dorthe Nors viết, chúng ta phải đối diện với cảm xúc của ta, quá khứ của ta, cuộc đời của ta,
những vấp váp, sai lầm của ta, ta sẽ cảm thấy mình nhỏ bé. Cần lòng dũng cảm để không lẩn tránh
chúng. Đổi lại, điều ta nhận được là một sự vững vàng mà không phải bám víu vào sự tung hô của người
khác. Một mình nhưng không cô đơn. Triết gia thế kỉ 19 Henry David Thoreau viết: “Tôi không cô đơn
hơn một cây mao nhị hay bồ công anh trên một đồng cỏ, hay một lá đậu, hay một cây chua me đất, hay
một con mòng, hay một con ong nghệ. Tôi không cô đơn hơn ngôi sao Bắc đẩu, hay một ngọn gió Nam,
hay một cơn mưa tháng Tư, hay băng tan tháng Giêng"
(3) Cuối cùng, một mình không có nghĩa là phải tách khỏi người khác một cách vật lí. Một mình là một
quan điểm sống, một trạng thái tinh thần độc lập, nó không được đo bởi khoảng cách vật lí giữa một cá
nhân và những người xung quanh. Các ẩn sĩ hiện đại không cần thiết phải lên núi. Họ vẫn ở trong xã hội,
yên lặng, quan sát và tìm hiểu thế giới. Họ tự do trước các con sóng của đám đông để có thể quan tâm tới
cộng đồng một cách sâu sắc hơn, đóng góp cho cộng đồng một cách hiểu biết hơn. Vẻ đẹp của người
đứng một mình là vẻ đẹp tự tại, với một niềm vui tự thân. Một niềm vui mà như nhà tu hành David
Steindl-Rast diễn tả, không phụ thuộc vào những điều đang xảy ra.
(Trích Vẻ đẹp của người đứng một mình, Đặng Hoàng Giang, in trong Bức xúc không làm ta vô can,
NXB Hội Nhà văn, 2016, tr.79-80)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Chỉ ra những bằng chứng khách quan về việc cần tách ra khỏi đám đông được sử dụng trong đoạn
(1)
Câu 2. Theo nội dung văn bản, vì sao chúng ta cần đứng một mình ?
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong việc làm nổi bật nội dung của đoạn trích sau:
Tôi không cô đơn hơn một cây mao nhị hay bồ công anh trên một đồng cỏ, hay một lá đậu, hay một cây
chua me đất, hay một con mòng, hay một con ong nghệ. Tôi không cô đơn hơn ngôi sao Bắc đẩu, hay một
ngọn gió Nam, hay một cơn mưa tháng Tư, hay băng tan tháng Giêng
Câu 4. Nhận xét về mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề văn bản Vẻ đẹp của người đứng
một mình.
Câu 5. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị rút ra thông điệp mà mình tâm đắc nhất và lý giải?
II. PHẦN VIẾT (16,0 điểm)
Câu 1. (6,0 điểm)
“... Tôi thích hình ảnh ngọn hải đăng. Những ngọn hải đăng đứng yên, đêm đêm sáng lên, để người lái
tàu nào cũng có thể nhìn thấy từ ngoài biển khơi và biết đó là bờ, biết đó là đích đến. Người ta cần có
một ngọn hải đăng trong tâm hồn mình. Ngọn hải đăng của tôi là niềm tin cậy vào cuộc đời có trước có
sau, trao yêu thương để nhận yêu thương, chân thành, tha thiết, hết lòng.”
(Đỗ Bích Thúy, Than đỏ dưới tro tàn, NXB Hội nhà văn, HN 2023, tr
7)
Từ những chia sẻ của Đỗ Bích Thúy, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận với chủ đề: Người ta cần có
một ngọn hải đăng trong tâm hồn mình.
Câu 2. (10,0 điểm)
Nhà phê bình Chu Văn Sơn từng nhận định: “Thơ là phần người được gửi vào ngôn ngữ, là phận người
cất thành tiếng, thậm chí, là mệnh người kí trú trong lời. Thơ đòi người thơ phải chưng cất chất người
trong mình mà tinh luyện thành ngôn từ”. (Trích “Sống ở thế gian bằng lục bát” – báo Nhân dân, ngày
30/01/2010; https://nhandan.vn/song-o-the-gian-bang-luc-bat)
Anh/Chị hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ nhận định qua thi phẩm Xuân không mùa của
Xuân Diệu:
Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Nếu vườn nào cây nhẳng bỗng ra hương,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu.
Là xuân đó. Tôi đợi chờ chi nữa?
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa,
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng,
Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Khi những em gặp gỡ giữa đường qua
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Ngừng mặt lại, để trao cười bỡ ngỡ.
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Ấy là máu báo tin lòng sắp nở
Xuân là lúc gió về không định trước.
Thêm một phen khi đã mấy lần tàn.
Đông đang lạnh, bỗng một hôm trở ngược,
Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian
Mây bay đi để hở một khung trời.
Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ.
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ
Như được nắm một bàn tay son sẻ...
Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay...
Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Ấy là thư hồi hộp đón trong tay;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Ấy dư âm giọng nói đã lâu ngày
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa
Một sớm tím bỗng dịu dàng đồng vọng...
Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
Miễn trời sáng, mà lòng ta giợn sóng,
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
Nếu lá úa trên cành bàng không rụng,
Mà hoa thưa ửng máu khác ngày thường.
Thế là xuân. Hà tất đủ chim hoa,
Kể chi mùa, thời tiết , với niên hoa,
Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng
(Trích: Xuân Diệu Thơ và Đời, NXB Văn học)
--------------------- Hết ------------------Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần
I
Câu
1
2
3
4
5
II
Yêu cầu cần đạt
ĐỌC HIỂU
Những bằng chứng khách quan về việc cần tách ra khỏi đám đông được sử
dụng trong đoạn (1):
- Thí nghiệm nổi tiếng của Solomon Asch
- Câu nói của Ralph Waldo Emerson, nhà thơ lớn người Mỹ.
Theo nội dung văn bản, chúng ta cần “đứng một mình” vì:
Để lắng nghe tiếng nói bên trong mình, để tìm ra mình, để bảo vệ tư duy độc
lập và nuôi dưỡng ý thức trách nhiệm, để phát triển bản sắc và nuôi dưỡng
sự sáng tạo
- Biện pháp nghệ thuật: so sánh hoặc liệt kê…
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt; làm cho diễn đạt trở nên sinh
động, có nhịp điệu.
+ Nhấn mạnh, làm nổi bật vai trò của việc đứng một mình, giúp người đọc
nhận ra việc đứng một mình không hề cô đơn và đáng sợ.
Mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề văn bản Vẻ đẹp của
người đứng một mình: Nội dung nghị luận và nhan đề của văn bản có mối
quan hệ chặt chẽ vì nhan đề khái quát được nội dung chính của văn bản,
tất cả các thông tin chính của văn bản đều được trình bày để hướng đến
việc làm rõ “vẻ đẹp của người đứng một mình”.
HS rút ra bài học mà mình tâm đắc nhất, không vi phạm pháp luật, chuẩn
mực đạo đức và có sự lý giải hợp lý. Sau đây là một số gợi ý:
- Chúng ta cần tách khỏi đám đông để biết tư duy độc lập.
- Muốn tách khỏi đám đông cần phải dũng cảm.
- Vẻ đẹp của người đứng một mình là sự an nhiên, tự tại…
PHẦN VIẾT
Viết đoạn văn nghị luận với chủ đề: Người ta cần có một ngọn hải
đăng trong tâm hồn mình.
Điểm
4,0
0,5
0,5
1,0
1,0
1,0
16,0
6,0
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
0,25
Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (khoảng
200 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn
dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích, song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Người ta cần có một ngọn hải 0,5
đăng trong tâm hồn mình.
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: Xác định
được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
* Giải thích
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
- Ngọn hải đăng: Hình ảnh ngọn đèn biển, chỉ dẫn bằng ánh sáng cho mọi
tàu thuyền không lạc lối giữa mênh mông biển cả, từ đó có thể tìm đúng
đường về đất liền.
- Ngọn hải đăng trong tâm hồn: ẩn dụ cho những điều có ý nghĩa cao đẹp,
tỏa sáng trong tâm hồn của mỗi người, giúp cho họ luôn biết hướng
thượng.
=> Những chia sẻ của Đỗ Bích Thúy nhắc nhủ mỗi chúng ta cần có ngọn
hải đăng để soi sáng tâm hồn mình, kiên định với lí tưởng sống đúng đắn,
đẹp đẽ; để trong đời không lâm vào những lạc lối, u mê đáng tiếc.
* Bàn luận:
- Cuộc sống vốn nhiều phức tạp và cám dỗ, dễ khiến con người bị lung lạc
tinh thần. Vì thế, con người cần một ngọn hải đăng chiếu sáng tâm hồn để
không bị mất phương hướng trong cuộc đời, không bị những cám dỗ làm
cho lầm lạc.
- Ngọn hải đăng soi đường giúp con người kiên định với những điều đúng
đắn trong đời. Mặt khác, ánh sáng từ ngọn hải đăng đó sẽ khiến tâm hồn
con người hướng thượng, biết hướng đến những điều cao đẹp, tốt lành.
- Ngọn hải đăng vừa có tính chất soi sáng cho con đường riêng của mỗi
người, vừa là cột mốc tin cậy để con người tìm về sau những lầm lạc, u mê
trong cuộc đời.
- Mỗi chúng ta cần có một ngọn hải đăng trong tâm hồn, một ngọn hải
đăng của riêng mình như: tình yêu thương, khát vọng cao đẹp, lòng can
đảm, niềm tin yêu ... để sống một cuộc đời đẹp đẽ nhất.
( Thí sinh cần chọn dẫn chứng phù hợp, lập luận thuyết phục.)
* Bài học nhận thức, hành động
- Để ánh sáng của ngọn hải đăng luôn tỏa rạng trong tâm hồn, trở thành
nguồn sáng có ý nghĩa, bản thân mỗi cá nhân phải luôn có ý thức suy nghĩ
và hành động đúng đắn, kiên định theo những chỉ dẫn của ngọn hải đăng.
- Kiên định hướng theo ánh sáng của ngọn hải đăng tâm hồn mình không
có nghĩa là cá nhân khép mình trước ánh sáng những ngọn hải đăng của
người khác, hãy biết rộng mở tâm hồn đón nhận những nguồn ánh sáng tốt
lành, đẹp đẽ để bản thân ngày càng trở nên hoàn thiện hơn.
d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
- Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để
triển khai vấn đề nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.
- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù
hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng.
1,0
2,5
0,5
0,5
đ. Diễn đạt
0,25
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
2
2.1.
đoạn văn.
0,5
e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diện đạt mới mẻ.
Nhà phê bình Chu Văn Sơn từng nhận định:
10,0
“Thơ là phần người được gửi vào ngôn ngữ, là phận người cất thành
tiếng, thậm chí, là mệnh người kí trú trong lời.Thơ đòi người thơ phải
chưng cất chất người trong mình mà tinh luyện thành ngôn từ”.
(Trích “Sống ở thế gian bằng lục bát” – báo Nhân dân, ngày 30/01/2010;
https://nhandan.vn/song-o-the-gian-bang-luc-bat)
Anh/Chị hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ nhận định qua
thi phẩm Xuân không mùa của Xuân Diệu.
* Yêu cầu về kĩ năng
- Có kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học, biết huy động các kiến thức lí
luận, kiến thức về tác giả, tác phẩm để làm bài.
- Vận dụng tốt các thao tác lập luận; lí lẽ xác đáng; trình bày khoa học;
văn viết có cảm xúc, giọng điệu riêng; diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi
chính tả, dùng từ, đặt câu.
* Yêu cầu về kiến thức
Học sinh có nhiều cách trình bày khác nhau song cần đạt được những nội
dung cơ bản sau:
Giải thích
1,0
- người thơ: con người thi sĩ, nhà thơ, tồn tại với tư cách là một cái tôi
mang cảm xúc cá thể, với sứ mệnh kiếm tìm những trải nghiệm cái đẹp.
- phần người, phận người, mệnh người, chất người: tình cảm, cảm xúc,
rung động sâu xa của con người, khi con người tự ý thức, đào sâu vào bản
thể. Đó là phần nhân tính nhất, mang tính riêng biệt, cá thể nhưng cũng có
sức lan tỏa, phổ quát.
- chưng cất chất người: đặc trưng quá trình lao động sáng tạo của nhà thơ
là sự chắt lọc, đào sâu cảm xúc, suy nghĩ, nghiền ngẫm; là khát vọng được
thành thực, được sống chân thành, trọn vẹn đến tận cùng cái tôi của mình.
- ngôn ngữ, tiếng, lời, ngôn từ: chất liệu của thơ ca, có cấu tạo, tổ chức đặc
biệt để gây ấn tượng thẩm mĩ với người đọc.
- tinh luyện ngôn từ: là quá trình nhà thơ chọn lọc, sắp xếp, cấu trúc các
yếu tố ngôn ngữ (âm điệu, vần điệu, thanh điệu, thể thơ,..) một cách công
phu, khổ nhọc. Kết quả tạo ra là ngôn từ thơ ca với vẻ đẹp tự thân: nhạc
điệu, âm vang, khơi gợi hình ảnh mới lạ, bất ngờ.
=> Ý kiến đặt ra yêu cầu cao về quá trình sáng tạo thơ ca. Một mặt thơ ca
đòi hỏi người nghệ sĩ đào sâu nội tâm, khai thác cái cá thể riêng biệt
nhưng vẫn có sức cộng hưởng, đồng vọng, phổ quát. Mặt khác, nhà thơ
cần tìm kiếm ngôn từ đẹp đẽ phù hợp nhất để truyền tải nội dung. Nội
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
2.2.
dung và hình thức trong thơ phải có sự thống nhất cao độ với nhau.
* Bàn luận:
3,0
Đây là ý kiến đúng đắn, khẳng định được đặc trưng của thể loại thơ ca và
quá trình lao động sáng tạo thơ ca.
- Thơ ca là loại hình nghệ thuật đặc biệt, kết tinh vẻ đẹp của cảm xúc
thăng hoa và vẻ đẹp ngôn từ hàm súc, giàu sức gợi.
- Đặc trưng của thể loại thơ ca: Đó là tiếng nói nội tâm sâu sắc, mãnh liệt
của nhà thơ trước con người và cuộc đời, có khả năng chạm tới cái chung
của cõi người tạo nên sự tri âm, đồng cảm để từ đó là phận người cất
thành tiếng, là mệnh người kí trú trong lời. Người thi sĩ khi sáng tác cũng
là lúc được sống với những cảm xúc, tình cảm, tư tưởng, cá tính riêng,
sống với thế giới ý thức và cả tiềm thức, vô thức sâu kín nhất của mình, do
đó, thơ là một hình thức thể hiện bản thể của chính nhà thơ, đòi người thơ
phải chưng cất chất người trong mình
- Bên cạnh đó, thơ ca cũng đòi hỏi nhà thơ phải in dấu ấn riêng của mình 4,0
trong quá trình tinh luyện ngôn từ. Thông qua cách tổ chức ngôn từ đặc
biệt, giàu tính thẩm mĩ (ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm, giàu hình
ảnh…) để tạo nên sức sống lâu bền của thơ ca.
* Chứng minh:
Thí sinh phân tích bài thơ Xuân không mùa (Xuân Diệu), quá trình phân
tích, bình giá cần chọn lọc dẫn chứng tiêu biểu và phân tích dẫn chứng cần
tập trung làm sáng tỏ ý kiến, sau đây là một số gợi ý:
- Phần người, phận người, mệnh người, chất người trong bài thơ được bộc
bạch qua tình cảm, cảm xúc mãnh liệt, thăng hoa và sự tự chiêm nghiệm,
tự ý thức về cái tôi của Xuân Diệu.
+ Thi sĩ giao hòa, đắm say ngắm nhìn, ghi lại từng vi mạch của sự sống,
những khoảnh khắc trở mình bất chợt của tạo vật... để hân hoan sống, đón
nhận sức sống đang bừng lên trong màu nắng, làn gió, áng mây…
+ Tâm hồn nghệ sỹ nhạy cảm, tài hoa tha thiết, đắm say trong khát vọng
giao hòa với thiên nhiên, đất trời, con người và cuộc sống. Trái tim Xuân
Diệu trẻ trung, yêu đời, khát sống luôn căng mở mọi giác quan để đón
nhận những chuyển giao của đất trời, tạo vật và lòng người.
+ Bài thơ là sự chưng cất chất người của một cái tôi Xuân Diệu với quan
niệm sống tích cực và nhân văn: Hãy sống lạc quan, yêu đời, sống hết
mình để giao hòa cùng thiên nhiên vũ trụ, để cảm nhận những biến
chuyển, những tín hiệu diệu kỳ của sự sống; hãy luôn sống tích cực, khát
khao cảm với cuộc đời, gắn bó với quê hương đất nước để có xuân không
mùa, xuân vĩnh viễn trong tâm hồn, trái tim mình.
- Cá tính sáng tạo với những cách tân giàu tính nghệ thuật trong quá trình
tinh luyện ngôn từ của thi nhân (ngôn ngữ, thể thơ, hình ảnh thơ, giọng
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
2.3.
điệu...): Thể thơ tự do, nhịp thơ linh hoạt; hình ảnh, ngôn từ chọn lọc giàu
gợi hình, gợi cảm, đặc sắc; phép liệt kê, điệp từ, điệp ngữ sử dụng uyển
chuyển, tinh tế...
* Đánh giá:
1,5
- Ý kiến là góc nhìn về thơ của một nhà phê bình nhưng cũng là sự khẳng
định đúng đắn về đặc trưng của thể loại thơ ca và quá trình sáng tạo thơ ca.
Những cảm xúc, tình cảm mãnh liệt chân thành, mang tính thẩm mĩ được
gửi gắm trong sự sáng tạo về hình thức biểu hiện sẽ làm nên sức sống đích
thực, lâu bền cho thơ.
- Bài học sáng tạo và tiếp nhận:
+ Nhà thơ cần có cảm xúc mãnh liệt, chân thành được chắt lọc, đào sâu
gửi gắm vào ngôn ngữ được trau chuốt, tinh luyện.
+ Người đọc cần tiếp cận tác phẩm trên nhiều phương diện: hình thức đến
nội dung để đồng điệu với cảm xúc của người nghệ sĩ và thâm nhập vào
thế giới vi diệu, bí ẩn của thơ ca.
* Sáng tạo
0,5
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề
nghị luận.
TỔNG ĐIỂM TOÀN BÀI
20,0
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
ĐỀ SỐ 2
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 12 CHƯƠNG TRÌNH THPT - TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ
Môn: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian phát đề)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu:
“Nghe quan họ đêm rằm anh bật khóc
Giờ biết lấy cớ gì anh dối mẹ Quan họ quên...
Lời chênh vênh uốn lượn mái chùa
rơi dọc tháng ngày
Vịn câu hát anh lần về cội gốc
Sợi tóc rụng như lá vườn lặng lẽ
Chợt thấy mình có lỗi với làng xưa...
Mẹ không còn và mắt anh cay
Bao mưa nắng đời anh chưa hiểu hết
Cứ ẩn hiện dáng đời trong câu hát
Giờ xót xa thương mẹ nhớ làng
Lòng mẹ ta nhân hậu vô vàn
Mẹ cho của hồi môn là câu hát
Vẻ thanh thoát nét hào hoa của trúc
(1)
Để con rời quê kiểng có hành trang
Cũng nói lên cốt cách của làng
Mẹ thường bảo làng ta giàu cổ tích
Đêm nay ngồi nghe em thay mẹ hát
Có bà tiên ông bụt giúp người
Trăng tròn người thẹn nón đầu che
Nhưng mẹ vẫn một đời áo rách
Chờ em hát đến “người ơi người ở...”
Cố giữ lành câu quan họ thôi
Hẳn lòng anh tủa rễ tựa cây đề”
Người để lại chiếc khăn hoa lý
(“Nhớ mẹ và làng quan họ”, Trương Nam
Em nhớ cho đời mẹ xưa nghèo,
Hương,Thơ Việt Nam thế kỉ XX, NXB Giáo
Vẫn thơm thảo mùi hương quả thị
Dục, 2004)
Với câu thề quán dốc trăng treo
Chú thích:
-(1)”Quê kiểng” ( phương ngữ, ít dùng): có vẻ dân dã, mộc mạc.
- Bài thơ từng đoạt giải B (không có giải A) cuộc thi thơ Tạp chí “Văn nghệ quân đội” năm 1989-1990.
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2. Xác định những hình ảnh thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Câu 3. Những ý nghĩa nào được gợi ra từ hai dòng thơ: “Mẹ cho của hồi môn là câu hát/ Để con rời quê
kiểng có hành trang” ?
Câu 4. Đánh giá hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong hai dòng thơ: “Nhưng mẹ vẫn một đời
áo rách/ Cố giữ lành câu quan họ thôi.”
Câu 5. Lời của người mẹ trong bài thơ gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa quê hương và đời
sống tâm hồn con người.
II. PHẦN VIẾT (16,0 điểm)
Câu 1 (6,0 điểm)
“Con sâu bò cả ngày thì có thể di chuyển được 1 mét, nếu trước khi chết, nó muốn đi được 10 kilômét thì
phải làm thế nào đây? Phải gồng mình mà bò quyết liệt hơn? Không phải vậy. Phải biến thành bướm và
vỗ cánh bay đi”. (Theo Rando, “Trưởng thành sau ngàn lần tranh đấu”, NXB Hà Nội, 2016)
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
Từ câu chuyện trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) về chủ đề “Đổi mới cách
nghĩ và sáng tạo trong hành động”.
Câu 2 (10,0 điểm):
Nhà thơ Trương Nam Hương từng phát biểu: “Với tôi, thơ là nỗi ám ảnh của vô thức, sự sám hối của tâm
thức. Tôi giải thoát những nỗi buồn của tôi bằng thơ và chỉ có thể bằng thơ. Lúc ấy lòng tôi mới có thể trở
nên thanh thản như con chiên sau khi đã xưng tội trước Chúa vậy”.
Anh/ Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ quan điểm sáng tác của Trương Nam Hương qua
thi phẩm “Nhớ mẹ và làng quan họ” được nêu ở phần Đọc hiểu.
DeThi.edu.vn
21 Đề thi HSG cấp Trường môn Văn 12 (Có đáp án) - DeThi.edu.vn
HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần Câu Nội dung
I
Đọc hiểu
1
- Thể thơ của văn bản: Tự do
- Dấu hiệu để xác định thể thơ: Số chữ giữa các dòng thơ không đều nhau
2
Những hình ảnh thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ: “Nghe quan
họ… anh bật khóc”; “thấy mình có lỗi với làng xưa”; “xót xa thương mẹ nhớ
làng”; “Mẹ không còn và mắt anh cay”.
3
Những ý nghĩa nào được gợi ra từ hai dòng thơ: “Mẹ cho của hồi môn là câu hát/
Để con rời quê kiểng có hành trang”:
- “Của hồi môn” là để chỉ tài sản quý mà ông bà, cha mẹ để lại cho con cháu. “Câu
hát” là sản phẩm tinh thần, là biểu tượng vẻ đẹp văn hóa dân gian, là tài sản vô giá
của dân tộc.
- Mẹ không có tiền bạc, vật chất mà chỉ có “câu hát” cho con làm hành trang trên
chặng đường dài rộng của cuộc đời. Hai dòng thơ là sự nâng niu, trân trọng của mẹ
với giá trị văn hóa truyền thống và tình yêu thương vô bờ bến với nhân vật trữ tình.
Mẹ gửi trong câu hát tấm lòng, tình cảm và niềm hi vọng con khôn lớn, trưởng
thành.
4
- Hai dòng thơ sử dụng biện pháp tu từ tương phản- đối lập:
“mẹ… một đời áo rách”>< “Cố giữ lành câu quan họ”
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình, biểu cảm cho sự diễn đạt, làm hình ảnh thơ sinh động, hấp
dẫn, câu thơ cân đối, hài hòa.
+ Nhấn mạnh dù có nghèo khổ, cơ cực, vất vả (“một đời áo rách”) mẹ vẫn cố giữ
gìn và lưu truyền câu ca quan họ (“giữ lành câu quan họ”)- nét đẹp văn hóa dân
gian của quê hương. Thể hiện thái độ trân trọng, cảm thông, niềm kính yêu vô hạn
của con với mẹ. Từ đó nhắc nhở mỗi người về thái độ sống ân nghĩa thủy chung
với cha mẹ, trách nhiệm bảo vệ, giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống của dân
tộc.
5
- Lời của người mẹ được nhắc đến trong hai câu thơ: “Mẹ thường bảo làng ta giàu
cổ tích/ Có bà tiên ông bụt giúp người”. Người mẹ muốn nói với con rằng, người
làng ta sống rất nhân hậu, giàu niềm tin, luôn hướng đến những điều tốt đẹp (“giàu
cổ tích”), biết sẻ chia, giúp đỡ mọi người(giống “bà tiên, ông bụt”).
- Từ lời người mẹ, thí sinh bày tỏ suy nghĩ về mối quan hệ giữa quê hương và đời
sống tâm hồn con người. Có thể theo hướng sau: quê hư
 





