LỜI CHÚC

BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT WEBSITE

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1

    Ai rồi cũng chết

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 14h:57' 11-03-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    AI RỒI CŨNG CHẾT!
    Nguyên tác: Being Mortal
    —★—
    Tác giả: Atul Gawande
    Người dịch: Phan Nguyễn Khánh Đan
    NXB Thông tin và Truyền thông
    ebook©vctvegroup
    06-04-2018

    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    SCAN - OCR: annie_tuongminh
    Soát lỗi: annie_tuongminh,
    Bọ Cạp,
    Gassie,
    Mỹ Giang,
    SWAK13,
    tiendungtmv,
    Võ Hoàng Nhật An,
    Trần Nguyễn Hoàng Bảo,
    Chanhvan1987
    Ebook: Gassie

    Mục lục
    Vì sao Bạn nên đọc “AI RỒI CŨNG CHẾT!” ?
    Vì sao tôi viết quyển sách này?
    1. Cái tôi độc lập
    2. Vụn vỡ
    3. Lệ thuộc
    4. Chăm sóc
    5. Sống tốt hơn
    6. Ra đi
    7. Những cuộc trò chuyện khó khăn
    8. Dũng cảm
    Lời bạt
    Lời cảm ơn
    Vài nét về tác giả
    Vài nét về dịch giả

    Vì sao Bạn nên đọc

    “AI RỒI CŨNG CHẾT!”
    “Ai rồi cũng chết!” là một tuyệt phẩm đánh động lòng người được viết
    nên bởi bác sĩ kiêm tác giả best-seller Atul Gawande. Cuốn sách không chỉ
    có khả năng lay chuyển ngành y học hiện đại, mà nó còn sẽ giúp làm biến
    đổi hoàn toàn cuộc sống của muôn người - bao gồm chính Bạn!
    Ngành y học thế giới đã có nhiều bước phát triển vượt bậc trong những
    năm qua: giảm thiểu tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh, nâng cao tỉ lệ sống sót sau
    chấn thương, chữa trị và kiểm soát được nhiều loại bệnh tật - bao gồm cả
    nhiều căn bệnh từng được xem là không có thuốc chữa trong quá khứ.
    Nhưng dù có bành trướng hùng mạnh đến đâu, y học vẫn muôn đời bất
    lực trước quy luật sinh-lão-bệnh-tử bất biến của con người: Mỗi khi con
    người phải đối diện với Tuổi Già và Cái Chết, những công cụ y học vốn dĩ
    quyền năng bỗng chốc phản bội lại chính lý tưởng cứu nhân độ thế mà
    chúng đang phục vụ.
    Bằng những công trình nghiên cứu khoa học giá trị và những câu
    chuyện sống động từ các bệnh nhân và người thân của chính mình, bác sĩ
    Gawande bóc trần cho chúng ta thấy những hệ lụy và nỗi đau mà con
    người phải gánh chịu bởi nghịch lý trên. Viện dưỡng lão vốn dĩ được lập ra
    với mục đích ban đầu tốt đẹp là giúp cho người cao tuổi có một cuộc sống
    hạnh phúc và viên mãn bất chấp tuổi già, nhưng nhiều nhà dưỡng lão
    ngày nay bị biến tướng thành những tòa nhà khép kín không khác gì nhà
    tù, nơi mà người già không được phép ăn những món ăn họ thích và
    không được phép làm những gì mình muốn. Nhiều bác sĩ được đào tạo
    xuất sắc về mặt chuyên môn, nhưng lại không biết cách làm thế nào để
    nói cho bệnh nhân biết sự thật về bệnh tình của họ; thay vào đó, bác sĩ lại
    vin vào những hy vọng hão huyền về khả năng cứu sống người bệnh của y

    học và đề xuất cho bệnh nhân hàng loạt biện pháp chữa trị để nuôi những
    hy vọng hão đó. Rốt cuộc, hành động này chỉ khiến cho người bệnh và cả
    thân nhân của họ thêm hao mòn khổ sở chứ không hề mang lại ích lợi gì
    cho họ cả về mặt thể xác lẫn tinh thần.
    Trong những cuốn sách bán chạy trước của mình, bác sĩ phẫu thuật
    Atul Gawande đã dùng ngòi bút mạnh mẽ không chút sợ hãi của mình
    tiết lộ cho chúng ta biết sự thật đằng sau ngành y cũng như những cuộc
    chiến mà các thầy thuốc như ông phải đối mặt và tranh đấu vượt qua. Lần
    này, với tác phẩm “Ai rồi cũng chết!”, ông phơi bày cho chúng ta thấy những
    giới hạn và nhược điểm của ngành y - trong cả chuyên môn của ông lẫn
    những chuyên ngành khác - khi cuộc sống con người bị đe dọa bởi sự lão
    hóa và cái chết. Qua đó, ông cũng đồng thời khám phá ra rằng mọi chuyện
    đều có cách giải quyết, rằng chúng ta hoàn toàn có thể làm khác đi, để
    mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người cũng như cho chính bản
    thân chúng ta.
    Để khai phá ngọn nguồn mọi vấn đề cũng như giải pháp, bác sĩ
    Gawande đã theo chân một nữ y tá làm công việc chăm sóc bệnh nhân tại
    gia, phỏng vấn nhiều người trong giới bác sĩ lão khoa và sinh hoạt cùng
    họ, và tiếp xúc với những nhà quản lý viện dưỡng lão có tư tưởng cấp tiến
    và nhân văn. Ông tìm thấy những con người biết cách nói lên sự thật và
    chứng minh cho cả thế giới thấy, rằng mỗi người chúng ta đều có thể và
    có quyền mưu cầu cho mình một cuộc sống tốt đẹp và hạnh phúc bất
    chấp tuổi già sức yếu mà không phải hy sinh những giá trị sống mà chúng
    ta yêu quý hoặc tôn thờ.
    Với cách kể chuyện chân thực, sống động, mê hoặc và đánh động lòng
    người của tác giả, quyển sách “Ai rồi cũng chết!” khẳng định với chúng ta
    rằng: Mỗi con người sinh ra không phải chỉ để ăn, ngủ hay tồn tại qua
    ngày, mà chính là để được sống một cuộc sống đúng nghĩa; rằng mục đích
    cuối cùng của y học không phải để kéo dài sự tồn tại vô nghĩa của con

    người, mà chính là để giúp chúng ta có một cuộc sống mãi mãi đong đầy
    hạnh phúc - cho đến tận phút lâm chung!

    Các giải thưởng mà
    “Ai rồi cũng chết!” đã đạt được

    Những Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 của AARP;
    Top 100 Tác Phẩm Hay Nhất năm 2014 của Amazon;
    Top 10 Tựa sách iBooks Hay Nhất năm 2014 của Apple;
    Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 của Nhà sách Astoria;
    Top những Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 của Book Riot;
    Danh mục những Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 do thời báo
    Chicago Tribune bình chọn;
    Top Những Ý Tưởng Xuất Sắc Nhất năm 2014;
    Những Tựa Sách của Năm 2014 do The Economist bình chọn;
    Những Tựa Sách Hay Nhất năm 2014 của báo Financial Times (Anh
    Quốc), tuyển chọn bởi Lucy Kellaway;
    Top 100 Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 do tạp chí The Globe and
    Mail (Canada) bình chọn;
    Danh mục Sách Tâm Lý Hay Nhất năm 2014 của thời báo The
    Guardian;
    Những Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 của Houston Chronicle;
    Những Tựa Sách Khoa Học Công Nghệ Hay Nhất năm 2014 do thời
    báo Los Angeles Times bình chọn;
    Những Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 của đài phát thanh New
    Hamsphire;
    Cuốn Sách của Năm (2014) của thời báo The New Statesman (Anh

    Quốc), tuyển chọn bởi John Simpson;
    100 Quyển Sách Đáng Nhớ năm 2014 do thời báo New York Times
    bình chọn;
    Những Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 của NPR;
    Top 10 Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 của Politics & Prose;
    Những Tựa Sách Hay Nhất năm 2014 do thời báo Street Journal bình
    chọn;
    Top 10 Cuốn Sách Hay Nhất năm 2014 do thời báo Washington Post
    bình chọn

    Gửi Sara Bershtel

    “Giờ ta nhìn thấy nó – cả thế gian trôi nhanh trong phút chốc.”
    • Chiến binh Karna
    --sử thi Mahabharata

    “Họ yên nghỉ trong mọi ngõ ngách
    Mọi con phố họ đã đi qua.”
    • Philip Larkin
    --“Những chiếc xe cứu thương”

    “Hãy nhớ, thời gian của bọn ta hữu hạn...
    Kể từ tuổi 30, cơ thể bạn bắt đầu lão hóa, khiến bạn đánh mất dần sức khỏe,
    nhan sắc và khá năng tự chủ, chôn vùi dần những ước mơ và nguyện vọng còn
    dang dở của bạn...
    Bạn làm gì để đối diện với sự thật đó?”

    Một cuốn sách cảm động, giàu tình yêu thương và thiết thực đối với bất kỳ
    ai! "Ai rồi cũng chết!" không chỉ tiết lộ sự thật về cái chết của con người và
    những giới hạn của y học, nhưng nó cũng đồng thời truyền cảm hứng cho chúng
    ta sống cuộc đời mình một cách ý nghĩa, tự chủ, cao quý và hạnh phúc hơn.
    • KATHERINE BOO

    Từ trước đến nay, chúng ta đã luôn đánh đồng tuổi già, sự sa sút sức khỏe và
    cái chết như những thứ bệnh tật đáng ghét và nguy hiểm mà các y bác sĩ cần
    phải giúp bệnh nhân loại bỏ bằng mọi giá. Nhưng sự thật là khi con người ta
    trở nên già yếu, điều họ cần không chỉ là thuốc thang hay những liệu pháp y
    học, mà quan trọng hơn, họ muốn được Sống - một cuộc sống đúng nghĩa, năng
    động đong đầy yêu thương và hạnh phúc nhất có thể. "Ai rồi cũng chết!" không
    chi là một cuốn sách cảm động giàu tri thức và tính nhân văn, mà nó đích thị là
    tác phẩm quan trọng bậc nhất và không-thế-không-đọc của thời đại chúng ta,
    đặc biệt khi nó được chắp bút bời - một bác sĩ kiêm nhà văn kiệt xuất.
    • OLIVER SACKS

    “Ai rồi cũng chết!” nhắc nhở chúng ta rằng nền y học bấy lâu nay của chúng
    ta luôn rất sẵn lòng kéo dài sự sống của con người, nhưng lại khiếm khuyết
    trong việc giúp chúng ta chuẩn bị cho cái chết - vốn dĩ không thể tránh khỏi.
    Đây đích thị là cuốn sách xuất sắc và đánh động lòng người nhất của bác sĩ Atul
    Gawande.
    • MALCOLM GLADWELL
    --Tác giả của “Điểm bùng phát”, “Trong chớp mắt” và nhiều tựa sách kỹ
    năng nổi tiếng khác.

    Vì sao tôi viết quyển sách này?
    Tôi được học rất nhiều thứ trong trường y, nhưng trong đó không có
    điều nào nói về cái chết cũng như sự mong manh của sinh mệnh con
    người. Mặc dù ngay từ khi trở thành sinh viên y khoa năm nhất, chúng tôi
    đã được trực tiếp thực hành trên những xác người dai khô vô hồn, đó chỉ
    đơn thuần là một phương pháp học giải phẫu cơ thể người không hơn
    không kém. Toàn bộ những cuốn sách giáo khoa và giáo trình y học của
    chúng tôi không đả động gì đến sự lão hóa, cái chết cũng như sự mong
    manh của cuộc sống con người. Con người tiếp nhận cái chết như thế nào,
    họ cảm nhận và trải qua những điều gì trong quá trình đó, và toàn bộ quá
    trình chết đi tuy tất yếu nhưng nghiệt ngã này tác động như thế nào đến
    những người thân xung quanh họ - tất cả những điều này đang bị đối xử
    như những đứa con ghẻ không được thừa nhận của y học. Hiện nay, tất cả
    những nhận thức của chúng ta về y học, nhận thức của các bác sĩ và
    chuyên gia trong ngành, và mục đích đào tạo của khoa y trong mọi trường
    đại học đều tập trung vào nhiệm vụ cứu sống và duy trì cuộc sống con
    người, chứ không phải để phục vụ cho sự qua đời không thể tránh khỏi
    của họ.
    Lần duy nhất trong nhà trường mà chúng tôi được bàn luận về sự khả
    tử của con người chính là buổi thảo luận chuyên đề kéo dài một giờ đồng
    hồ về truyện ngắn Cái chết của Ivan Ilyich của đại văn hào Tolstoy. Nó là
    một buổi thuộc chương trình thảo luận chuyên đề mang tên “Bệnh nhân
    và Bác sĩ,” được nhà trường tổ chức hàng tuần nhằm bồi dưỡng tinh thần
    cũng như trau dồi tâm hồn và nhân cách cho các bác sĩ tương lai, giúp
    chúng tôi trở thành những người thầy thuốc vẹn toàn và đức độ hơn. Một
    số chuyên đề cho chúng tôi cơ hội được thực hành các phép tắc và nghi
    thức đúng đắn trong việc khám và chữa bệnh cho con người; trong vài
    chuyên đề khác, chúng tôi được học về những hiệu ứng và tác động của

    bối cảnh kinh tế xã hội và chủng tộc lên sức khỏe con người. Cho đến một
    buổi chiều khó quên nọ, chúng tôi được ngẫm nghĩ và chiêm nghiệm về
    sự đau đớn của Ivan Ilyich trong suốt thời gian ông ta nằm liệt giường,
    chịu đựng sự giày vò càng lúc càng gia tăng của một căn bệnh nan y
    không tên trong tác phẩm văn học kinh điển.
    Trong truyện, Ivan Ilyich là một công tố viên bốn mươi lăm tuổi ở
    Saint Petersburg. Cuộc sống của ông ta xoay quanh những vụ án dân sự
    nhỏ nhặt liên quan đến địa vị và giai cấp xã hội. Một ngày nọ, ông ta leo
    lên một chiếc thang đứng, vì một chút bất cẩn mà trượt chân ngã, dẫn đến
    một cơn đau điếng ở hông. Tưởng chừng đó chỉ là một chấn thương nhẹ và
    cơn đau sẽ sớm dịu đi, ấy vậy mà suốt thời gian dài sau đó, Ilyich càng lúc
    càng đau đớn hơn, đến nỗi không thể đi làm được nữa. Từ một người đàn
    ông “thông minh, sáng láng, bảnh bao và thân thiện,” bộ dạng ông ta trông
    càng lúc càng gầy yếu và thảm hại. Vợ của Ilyich tốn kém biết bao nhiêu
    tiền của để mời được những thầy lang giỏi nhất đến chữa bệnh cho ông.
    Với căn bệnh lạ lùng của ông, mỗi thầy thuốc lại chẩn đoán một kiểu
    không ai giống ai, để rồi tất cả bọn họ đưa cho ông những phương thuốc
    và liệu pháp chẳng hề có một chút tác dụng nào. Đối với Ilyich, điều đó
    chẳng khác nào cực hình, khi suốt một thời gian dài ông ta phải chịu
    đựng sự giày vò của cơn đau và những cơn bốc hỏa không ngớt vì bệnh tật.
    “Điều khiến cho Ivan Ilyich đau đớn nhất,” Tolstoy viết, “chính là sự
    dối trá, những lời nói đầu môi chót lưỡi giả tạo mà người ta mặc nhiên
    chấp nhận vì những lý do không tên, rằng ông ta chỉ đang mắc phải một
    căn bệnh thông thường nào đó chứ không phải sắp chết, rằng ông chỉ cần
    nằm đó nghỉ ngơi, dưỡng bệnh theo lời khuyên của các thầy lang, rồi kết
    quả tốt đẹp sẽ đến.” Những lời nói dối đó khiến cho Ivan Ilyich không
    ngừng hy vọng vào sự hồi phục, để rồi ông phải đối diện với thực tế nghiệt
    ngã rằng căn bệnh của ông đang càng lúc càng chuyển biến tồi tệ hơn,
    khiến ông ngày một yếu ớt và hao mòn, đến nỗi ông phải tự mình ngộ ra
    điều sắp xảy đến với mình. Trong suốt thời gian nằm chờ chết, ông ta phải

    sống trong những âu lo và nỗi sợ chết chất chồng từng ngày. Mặc dù Ilyich
    đã nhìn thấy cái chết dần dần hiện rõ mồn một trước mắt mình, không
    một ai trong số những người xung quanh ông - từ các thầy lang, bạn bè,
    cho đến tất cả người thân trong gia đình ông - đề cập đến nó, dù chỉ là
    trên nét mặt. Đây mới chính là điều khiến cho Ilyich cảm thấy bất hạnh
    và đau đớn hơn cả.
    “Chẳng ai thương xót ông đúng như ước nguyện của bản thân ông,”
    Tolstoy viết. “Sau những cơn đau dai dẳng của thể xác, đã có những lúc
    ông ta mong nhìn thấy những người xung quanh mình (mặc dù ông
    không thể bày tỏ mong muốn này vì sợ xấu hổ) xót xa cho mình, giống
    như cách người ta xót thương một đứa trẻ bị bệnh. Ông muốn được chăm
    sóc, muốn được an ủi và vỗ về. Ông biết mình đã là một tay công chức già,
    với một bộ râu quai nón đã bạc phơ, rằng mong muốn của ông là vớ vẩn và
    viễn vông, nhưng ông vẫn cứ mong.”
    Đối với các sinh viên y khoa chúng tôi, khi những người có mặt bên
    cạnh Ivan Ilyich trong những ngày cuối đời của ông không dám thừa
    nhận tình trạng bệnh thực sự của ông và không thể cho ông một sự an ủi
    vỗ về cần thiết để giúp ông lạc quan hơn, đó là một sự thất bại về mặt
    phẩm cách và văn hóa. Bối cảnh nước Nga vào thế kỷ mười chín dưới ngòi
    bút của Tolstoy hiện lên thật tàn nhẫn và hủ lậu đối với chúng ta. Đọc
    xong câu chuyện, hẳn là chúng ta sẽ tin rằng y học hiện đại thừa sức trị
    dứt bệnh cho Ivan Ilyich bất kể đó là bệnh gì, và chúng ta cũng sẽ cho rằng
    sự trung thực và tử tế là những phẩm chất cơ bản cần phải có của người
    thầy thuốc hiện đại. Chúng ta tự tin rằng mình hoàn toàn có thể ứng xử
    một cách đạo đức và nhân văn hơn trong tình huống đó.
    Điều đáng lo ngại đối với chúng ta chính là kiến thức. Trong khi phần
    lớn chúng ta đều biết cách cảm thông với người bệnh, chúng ta không thể
    chắc chắn rằng mọi sự chẩn đoán hay điều trị của mình là tuyệt đối chính
    xác. Chúng ta đóng học phí cho nhà trường để được học về những quy

    trình diễn ra bên trong cơ thể, những cơ chế bệnh học phức tạp của nó, và
    hàng loạt những khám phá và phát minh công nghệ không ngừng được
    phát triển để giúp con người chống lại bệnh tật. Là bác sĩ, chúng ta không
    thể tưởng tượng rằng mình còn phải có nghĩa vụ quan tâm đến những
    vấn đề khác ngoài những kiến thức chuyên môn đó. Và thế là chúng ta
    tống khứ cả Ivan Ilyich ra khỏi tâm trí mình.
    Vậy mà chỉ trong vòng vài năm, khi bản thân tôi chính thức hành nghề
    và thực nghiệm các ca phẫu thuật, tôi đã phải chứng kiến biết bao nhiêu
    bệnh nhân đau đớn chống chọi với sự ăn mòn cơ thể của bệnh tật và cái
    chết, và tôi xót xa nhận ra rằng mình chẳng thể làm gì để giúp được họ cả.

    * * *

    Tôi bắt đấu viết lách từ khi còn là một bác sĩ nội trú tập sự; một trong
    những bài viết đầu tiên của tôi kể câu chuyện về một người đàn ông mà
    tôi gọi là Joseph Lazaroff. Ông ấy là một viên chức của thành phố; trước
    đó vài năm, vợ ông đã qua đời vì bệnh ung thư phổi. Giờ đây, ở tuổi ngoài
    sáu mươi, Joseph đang là nạn nhân của một căn bệnh không có thuốc
    chữa - bệnh ung thư tuyến tiền liệt đã di căn. Từ khi mắc bệnh, ông càng
    lúc càng trở nên gầy mòn, sụt hơn hai mươi ký. Cả phần bụng, bìu dái và
    chân của ông giờ đầy ngập đầy dịch lỏng. Trong một ngày nọ thức giấc,
    ông thấy mình không còn khả năng cử động chân phải, không còn kiểm
    soát được sự tiêu hóa của mình nữa. Ông được chuyển vào bệnh viện, nơi
    tôi gặp ông với tư cách là một thực tập sinh khoa giải phẫu thần kinh.
    Chúng tôi khám cho ông và nhận thấy khối u ung thư đã di căn đến đoạn
    cột sống ở ngực, và ở đó, nó đang chèn ép toàn bộ dây cột sống của ông.
    Tình trạng của ông không còn có thể cứu chữa được nữa, nhưng chúng tôi
    vẫn cố gắng tin vào một phép màu. Tuy nhiên, các biện pháp xạ trị đã

    không thể làm suy yếu khối u trong người ông, và thế là vị bác sĩ giải phẫu
    thần kinh đã cho ông hai lựa chọn: Lazaroff có thể được chăm sóc chu đáo
    ở bệnh viện cho đến ngày cuối cùng, hoặc ông sẽ phải trải qua một ca
    phẫu thuật để loại bỏ khối u trên cột sống của mình, ông chọn phương án
    phẫu thuật. Lúc bấy giờ, với tư cách là một thực tập sinh, tôi có nhiệm vụ
    yêu cầu ông ký vào biên bản xác nhận rằng ông đã đồng ý, rằng ông đã
    hiểu và chấp nhận mọi rủi ro có thể xảy ra trong quá trình phẫu thuật.
    Tôi đứng ngoài phòng bệnh của Lazaroff với bệnh án và biên bản của
    ông trên tay mình, cố gắng nghĩ xem mình nên bắt đầu cuộc nói chuyện
    như thế nào một khi bước chân vào đó. Kỳ thực, ca phẫu thuật chỉ nhằm
    mục đích trì hoãn quá trình hủy hoại dây cột sống. Nó không giúp tiêu
    diệt khối u, không thể trị dứt căn bệnh ung thư quái ác của ông, cũng như
    không thể nào trả lại cho ông một cuộc sống bình thường khỏe mạnh như
    trước. Kể cả khi ca phẫu thuật có thành công tốt đẹp đi chăng nữa, ông
    cũng chỉ có thể sống thêm vài tháng là cùng, chưa kể đây là một lựa chọn
    nguy hiểm đến tính mạng của ông. Trong ca phẫu thuật đó, bác sĩ sẽ mở
    toang lồng ngực của ông, cưa bỏ đi một chiếc xương sườn, và tác động một
    bên phổi để tiếp cận cột sống của ông. Sự mất máu ồ ạt là không thể tránh
    khỏi. Quá trình phục hồi sau phẫu thuật sẽ diễn ra vô cùng khó khăn mà
    trong đó, cơ thể của Lazaroff sẽ rất yếu. Suốt khoảng thời gian đó, ông còn
    phải đối mặt với hàng loạt nguy cơ biến chứng có thể khiến cho thể xác
    ông mỗi lúc một yếu ớt gầy mòn hơn. Nếu ca phẫu thuật không thành
    công, hậu quả là bệnh của ông thêm trầm trọng, với khả năng tử vong cao
    hơn và có thể đến vào bất kỳ lúc nào. Thế mà vị bác sĩ giải phẫu thần kinh
    của Lazaroff đã không nói gì với ông về những nguy cơ đó, khiến cho ông
    càng thêm niềm tin và hy vọng vào lựa chọn phương án phẫu thuật của
    mình. Và thế là tôi phải đảm nhiệm phần việc liên quan đến thủ tục và
    giấy tờ này.
    Nằm trên giường bệnh, Lazaroff trông thật hốc hác và xanh xao. Tôi tự
    giới thiệu với ông rằng tôi là một thực tập sinh, và tôi đến để lấy chữ ký

    của ông về việc ông đã đồng ý làm phẫu thuật cũng như đã nhận thức
    được mọi rủi ro có thể xảy ra. Tôi nói với ông rằng tuy ca phẫu thuật có
    thể loại bỏ khối u, nhưng nó có thể để lại cho ông nhiều biến chứng nguy
    hiểm, chẳng hạn như liệt hay đột quỵ, thậm chí ông vẫn có thể tử vong
    sau đó. Tôi cố gắng trình bày các nguy cơ một cách thật rõ ràng nhưng nhẹ
    nhàng hết mức có thể, ấy vậy mà những gì tôi nói vẫn khiến ông phải cố
    gắng bật dậy để tiếp chuyện. Lúc đó con trai ông cũng đang ở trong phòng,
    tỏ vẻ không thích những lời lẽ nhẹ nhàng hoa mỹ đến mức hơi lố của tôi.
    Và Lazaroff cũng không hài lòng chút nào.
    “Các người vẫn chưa chịu buông tha cho tôi sao,” ông nói, “Các người
    đã làm tất cả những gì có thể cho tôi rồi còn gì.” Sau khi ông ấy ký biên
    bản, cậu con trai của ông dẫn tôi ra ngoài phòng bệnh. Anh kể rằng mẹ
    của anh đã trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh với hàng đống dây
    nhợ và máy móc cắm vào người bởi sự chăm sóc quá mức đầy đủ của các
    bác sĩ, và khi đó, bố anh đã nói rằng ông không muốn điều tương tự tái
    diễn với mình. Ấy vậy mà ngay lúc này đây, ông đang quyết tâm làm “mọi
    điều có thể với căn bệnh hiểm nghèo của mình.
    Tôi cho rằng ông Lazaroff đã có một quyết định tồi, và tôi tin điều này.
    Ông quyết tâm chọn một phương án tồi tệ và nguy hiểm đến tính mạng
    chẳng phải vì sợ chết, mà bởi ngay cả ca phẫu thuật cũng chẳng thể trả lại
    cho ông những điều mà ông thực sự muốn: một sức khỏe bình thường,
    một cơ thể biết tự chủ, và cái cuộc sống bình yên mà ông từng có. Ông chỉ
    đang theo đuổi một ảo tưởng, với nguy cơ khủng khiếp là một cái chết kéo
    dài và đau đớn – điều quả thật đã xảy ra với ông.
    Ca phẫu thuật thành công về mặt kỹ thuật. Suốt tám tiếng rưỡi đồng
    hồ, các bác sĩ đã loại bỏ được cái khối chất gặm nhắm cột sống của
    Lazaroff và hồi phục phần đốt sống bị cắt bỏ bằng hợp chất xi-măng
    acrylic. Áp lực lên cột sống của ông đã được dỡ bỏ thành công. Nhưng kết
    cuộc là sức khỏe của ông không còn được như hồi trước khi phẫu thuật.

    Trong quá trình điều trị sau đó, cơ thể ông xuất hiện những triệu chứng
    bất thường về mặt hô hấp, với sự truyền nhiễm thẩm thấu khắp cơ thể.
    Tình trạng bất động của ông khiến máu bị vón cục, rồi ông lại mất máu
    khi chúng tôi dùng chất làm loãng trên cơ thể ông. Cứ mỗi ngày trôi qua,
    chúng tôi càng thêm lực bất tòng tâm. Cuối cùng, chúng tôi phải thừa
    nhận rằng ông Lazaroff sắp chết. Đến ngày điều trị thứ mười bốn, con trai
    ông yêu cầu chúng tôi hãy để cho ông được ra đi thanh thản.
    Lần này, tôi lại là người được giao nhiệm vụ rút ống thở của Lazaroff thứ đã giúp duy trì cuộc sống của ông suốt thời gian qua. Tôi kiểm tra
    lượng morphine được truyền vào cơ thể ông để đảm bảo rằng ông sẽ
    không đau đớn vì khó thở. Để chắc rằng ông nghe thấy những gì tôi nói,
    tôi lại gần bên ông và bảo rằng mình sẽ lấy chiếc ống thở cồng kềnh kia ra
    khỏi miệng ông. Khi tôi rút nó ra, ông ho lên vài tiếng, mở mắt trong một
    khoảnh khắc ngắn ngủi, rỗi lịm dần. Hơi thở của ông càng lúc càng gấp
    gáp hơn, rồi ngưng bặt. Tôi đặt ống nghe lên lồng ngực ông chỉ để cảm
    nhận thấy trái tim đang dần dần ngừng đập của ông.
    Giờ đây, sau hơn một thập kỷ kể từ lần đầu tiên tôi viết lại câu chuyện
    của Lazaroff, điều khiến tôi trăn trở nhất không phải là quyết định mạo
    hiểm của ông vào ngày đó, mà chính là việc làm sao mà chúng ta lại
    không thể hành xử trung thực với bệnh nhân về những lựa chọn sinh tử
    mà họ phải đối mặt. Chúng ta có thừa kiến thức và kinh nghiệm để giải
    thích cho bệnh nhân những nguy cơ cụ thể của mỗi lựa chọn trong việc
    điều trị, nhưng lại chẳng bao giờ dám nhìn thẳng vào thực trạng bệnh của
    họ. Tất cả bác sĩ, chuyên gia xạ trị, bác sĩ phẫu thuật và các thầy thuốc
    khác sẵn sàng duy trì sự sống cho một bệnh nhân suốt hàng tháng trời vì
    một căn bệnh mà họ biết chắc là không thể nào chữa khỏi. Chúng ta nhất
    quyết không chịu chấp nhận hiện thực hiển nhiên về tình trạng của
    người bệnh, không thẳng thắn thừa nhận giới hạn của chính mình, càng
    không quan tâm đến cảm nhận của bệnh nhân trong những ngày tháng
    cuối cùng chống chọi với bệnh tật trước khi qua đời. Nếu người bệnh đang

    đặt niềm tin vào một phép màu hay một ảo tưởng hồi phục không thể xảy
    ra, chúng ta cũng hành xử y như vậy. Trong khi ở đây, chúng ta đang có
    một bệnh nhân phải nhập viện vì ung thư trong tình trạng bị liệt do ảnh
    hưởng của một khối u đã di căn khắp cơ thể ông ta. Khả năng ông có thể
    hồi phục và lấy lại được một cuộc sống bình thường vẹn nguyên như trước
    đó vài tuần là chuyện không tưởng. Việc thừa nhận sự thật cũng như giúp
    bệnh nhân đón nhận và thích nghi với sự thật đó có vẻ như nằm ngoài
    khả năng của giới bác sĩ chúng ta. Vì không chịu thừa nhận thực tế, nên
    chúng ta cũng chẳng an ủi người bệnh, không làm gì để chỉ dẫn cho họ,
    cũng như không hề chia sẻ cho bệnh nhân những thông tin họ cần biết để
    vượt qua những ngày u ám còn lại của đời mình. Thay vào đó, chúng ta
    bày thêm một hai phương pháp điều trị mà họ có thể thử, với một hy vọng
    vô căn cứ là điều kỳ diệu nào đó sẽ xảy đến.
    Làm như thế, chúng ta chẳng khác nào những người thầy lang nhẫn
    tâm của Ivan Ilyich - chúng ta không chỉ khiến cho bệnh tật của bệnh
    nhân thêm trầm trọng, mà còn vô tình bồi thêm cho họ những sự hành
    hạ đau đớn khác về mặt thể xác. Ai mới đang là kẻ tàn nhẫn nhất ở đây,
    nếu không phải là chúng ta?

    * * *

    Sự phát triển của khoa học hiện đại đã và đang biến đổi đáng kể số
    phận con người. Con người ngày nay sống khỏe hơn và thọ hơn so với ông
    bà mình vào những thế kỷ trước. Nhưng đồng thời, khoa học tân tiến cũng
    đã và đang biến quá trình già và chết đi của con người thành những trải
    nghiệm y học mà ở đó, giới bác sĩ và chuyên gia y tế được trao toàn quyền
    quản lý và quyết định. Thật đáng tiếc là phần lớn các y bác sĩ cũng như
    giới y khoa nói chung chúng ta chưa thực sự được chuẩn bị đầy đủ cho sứ

    mệnh cao cả ấy.
    Đó là một thực tế đang bị che giấu ẩn tàng một cách tàn nhẫn trong
    thời đại ngày nay, bởi lẽ những kỹ thuật chữa bệnh tân tiến đã và đang
    giúp giảm thiểu tỉ lệ tử vong đến mức khái niệm “những ngày cuối đời
    trên giường bệnh” ngày càng trở nên xa lạ hơn với hầu hết dân chúng. Cho
    đến năm 1945, phần lớn người dân qua đời ngay trong nhà mình. Đến
    những năm 1980, chỉ có 17 phần trăm dân chúng trút hơi thở cuối cùng
    của mình trong gia đình, chủ yếu là do chết đột ngột hoặc không kịp
    chuyển đến bệnh viện - với những nguyên nhân chẳng hạn như bất ngờ
    lên cơn đau tim, trụy tim, hoặc những chấn thương quá nghiêm trọng đến
    mức không thể di chuyển; hoặc do những người đó sống tách biệt với cộng
    đồng nên đến khi chết, không có ai biết để mà chạy đến đưa đi cấp cứu.
    Không chỉ ở Hoa Kỳ, mà ngay đến cả những quốc gia công nghiệp khác,
    hầu hết người dân trải qua tuổi già sức yếu và những ngày cuối đời của
    mình trong bệnh viện hoặc nhà dưỡng lão.
    Hồi tôi trở thành bác sĩ, tôi được chính thức bước qua phía bên kia
    cánh cổng bệnh viện chỉ để nhận ra rằng, mọi thứ trong đó đều quá mới
    mẻ với mình - kể cả khi tôi đã lớn lên với hai bác sĩ trong gia đình mình.
    Tôi chưa bao giờ phải nhìn thấy người ta chết ngay trước mặt mình, nên
    khi xảy ra, tôi đã rất sốc, không phải vì hình ảnh đó khiến tôi liên tưởng
    đến cái chết của chính mình hay đại loại như thế. Kỳ thực, tôi chưa bao
    giờ có ý niệm đó, kể cả khi tôi chứng kiến cái chết của những người trạc
    tuổi mình. Tôi thì mặc blouse trắng, còn họ phải mặc áo dành riêng cho
    bệnh nhân. Tôi chưa bao giờ có suy nghĩ rằng mọi việc sẽ thế nào nếu tôi
    là người mặc bộ đồ đồng phục bệnh nhân kia. Tuy nhiên, tôi từng lo lắng,
    rằng sẽ thế nào nếu những bệnh nhân đó là gia đình tôi. Tôi đã từng phải
    chứng kiến người thân của mình - vợ tôi, bố mẹ tôi, và cả các con của tôi trải qua những căn bệnh hiểm nghèo. Kể cả trong những hoàn cảnh thập
    tử nhất sinh nhất, y học vẫn đủ sức kéo họ vượt qua cơn nguy kịch và trở
    lại cuộc sống bình thường. Vì vậy, tôi bị sốc nặng khi phải nhìn thấy bệnh

    nhân của mình tử vong, khi y học đã không thể cứu sống họ như mình đã
    hy vọng. Hiển nhiên, về mặt lý thuyết, tôi thừa biết rằng những bệnh
    nhân đó đều có nguy cơ tử vong, nhưng cứ mỗi khi phải lặng nhìn một
    người trút hơi thở cuối cùng, tôi vẫn cảm thấy tim mình đau nhói, như
    thể cái luật chơi mà tôi vẫn hằng tin tưởng lại bị phá vỡ không thương
    tiếc. Mặc dù tôi không rõ trò chơi này là gì và kẻ được lợi là ai, nhưng tôi
    chỉ biết rằng, gã ta đã luôn chiến thắng.
    Quá trình hấp hối và cái chết của con người là những điều mà các y tá
    và bác sĩ lính mới như chúng tôi phải thường xuyên đối mặt. Trong lần
    đầu tiên chứng kiến bệnh nhân qua đời, không ngạc nhiên khi nhiều
    người trong chúng tôi bật khóc, một số thì sững người không nói được
    nên lời, một số người khác thậm chí không dám nhìn. Trong vài lần chứng
    kiến người ta chết đầu tiên của mình, tôi cố gắng kìm nén thật mạnh cảm
    xúc bản thân để không bật khóc. Nhưng tối đến, tôi luôn nằm mơ thấy họ.
    Suốt khoảng thời gian đó, tôi thường xuyên có những cơn ác mộng mà
    trong đó, tôi nhìn thấy xác chết của những bệnh nhân đó ngay trong nhà
    mình - thậm chí là trên giường ngủ của mình.
    “Làm thế nào mà người này lại xuất hiện ở đây?” tôi phát hoảng trong
    giấc mơ.
    Tôi biết mình sẽ gặp rắc rối to, thậm chí là dính dáng đến pháp luật
    hình sự, nếu tôi không thể mang xác chết trở lại bệnh viện một cách bình
    an vô sự và không ai biết. Tôi cố gắng mang vác cái xác để bỏ vào cốp sau
    ô-tô, nhưng ông ta quá nặng. Cũng có những bữa tôi mơ thấy mình đã đặt
    được cái xác vào cốp, chỉ để nhìn thấy xác chết rỉ máu xối xả như suối không chỉ là máu, mà còn là một thứ chất lỏng màu đen sền sệt như dầu
    hắc ín - cho đến khi toàn bộ cốp xe ngập máu. Cũng có khi tôi mơ thấy
    mình vận chuyển cái xác đến bệnh viện một cách thành công, đặt nó lên
    băng-ca rồi đẩy nó đi qua hết thảy mọi khu sảnh và lối đi của bệnh viện
    chỉ để tìm kiếm trong vô vọng căn phòng nơi cái xác thuộc về. “Này anh

    kia!” ai đó la lớn phía sau lưng tôi và đuổi theo tôi. Tôi sợ hãi tỉnh giấc chỉ
    để thấy vợ mình nằm bên cạnh, còn tôi thì thở hổn hển trong bộ dạng ướt
    đẫm mồ hôi và tối mắt tối mũi. Những khi đó, tôi có cảm giác như thể
    mình vừa hại chết những người đó. Tôi thấy mình như một kẻ bại trận
    đáng bị nguyền rủa.
    Hiển nhiên, cái chết không phải là một sự thất bại. Cái chết là một
    hiện tượng bình thường và tất yếu. Nhiều người trong chúng ta có thể
    xem cái chết là kẻ thù, nhưng nó là một quy luật tự nhiên của vạn vật. Tôi
    thừa biết những sự thật đó, nhưng tôi đã không muốn hiểu nó một cách
    cụ thể trên từng con người - rằng nó là một thế lực chi phối không chỉ
    toàn bộ nhân loại, mà nó còn trực tiếp chạm tay vào người bệnh đang
    hiện hữu trước mắt tôi - người mà tôi có trách nhiệm phải cứu sống khỏi
    nó.
    Trong quyển sách Chúng ta chết như thế nào của mình, tác giả kiêm bác
    sĩ giải phẫu Sherwin Nuland đã đau xót viết nên rằng: “Chiến thắng cuối
    cùng của Thần Chết đã được thừa nhận và chấp thuận bởi cha ông ta từ
    ngàn xưa. Thời đó, giới thầy thuốc luôn làm việc trong tâm thế sẵn sàng
    đón nhận kết quả thất bại chứ không dám cao ngạo chối bỏ nó.” Nhưng
    khi tôi được chứng kiến sự phát triển của con người trong thế kỷ hai mươi
    mốt với vô vàn thành tựu và phát minh khoa học kỹ thuật mới bao gồm cả
    lĩnh vực y học, tôi không còn dám khẳng định thế nào thì mới gọi là
    “không cao ngạo.”
    Bạn quyết định trở thành bác sĩ bởi trong tâm trí c...
     
    Gửi ý kiến

    vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam