LỜI CHÚC

BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT WEBSITE

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1

    bay-buoc-den-thanh-cong

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 12h:32' 05-03-2024
    Dung lượng: 854.3 KB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Bảy bước đến thành công
    Nguyễn Hiến Lê
    Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động

    Nguồn: http://vnthuquan.net

    ******

    Tải lên: Bookbb.com


    Nguyễn Hiến Lê
    Bảy bước đến thành công
    MỤC LỤC
    Viết phỏng theo quyển

    GIVE YOURSELF A CHANCE

    (The Seven Steps to Success)

    của GORDON BYRON


    Vài lời thưa trước



    Trong thời gian lánh cư tại Long Xuyên, cụ Nguyễn Hiến Lê vừa dạy học
    vừa học thêm và vừa viết sách. Trong Đời viết văn của tôi, cụ bảo:



    “2="">Trong chương XIII (bộ Hồi Kí) tôi đã nói muốn học một ngoại ngữ
    thì phải dịch. Tôi muốn nói thêm: học môn nào thì nên viết về môn đó (…)
    Để học tiếng Anh, tôi tập dịch sách Anh ra tiếng Việt cũng như trước kia để
    học bạch thoại tôi dịch Hồ Thích”.



    2="">Thật may mắn, ông Paulus Hiếu giới thiệu cho tôi hai cuốn How to
    win friends and influence people và How to stop worrying đều của Dale
    Carnegie và kiếm cho tôi được cả nguyên bản tiếng Mỹ với bản Pháp dịch.



    2="">(…) Tiếng Anh của tôi hồi đó còn non lắm, học trước sau chỉ được
    sáu tháng tích cực nên nhiều chỗ phải dựa vào bản Pháp dịch, và dịch xong
    How to win friends tôi đưa ông Hiếu coi lại, sửa chữa. Do đó mà chúng tôi
    ký tên chung. Tôi đặt cho nhan đề Đắc nhân tâm.



    2="">(…) Chủ trương của tôi dịch loại sách Học làm người như cuốn đó
    thì nên dịch thoát, có thể cắt bớt, tóm tắt, sửa đổi một chút cho thích hợp
    với người mình, miễn không phản nguyên tác; nhờ vậy mà bản dịch của

    chúng tôi rất lưu loát, không có dấu vết dịch, độc giả rất thích”.

       2="">Dịch xong cuốn How to win friends and influence people, cụ dịch
    tiếp cuốn How to stop worrying (nhan đề bản Việt dịch là Quẳng gánh lo
    đi), và sau đó, như lời cụ nói trong Đời viết văn của tôi:



    “Cũng trong năm 1951 tôi dịch thêm cuốn nữa: Give yourself a chance
    (The Seven steps to success) của Gordon Byron. Nhan đề tiếng Việt: Bảy
    bước đến thành công. Cuốn này nhà P. Văn Tươi cũng cho vào loại Học
    làm người, ích lợi cho thanh niên, gọn, sáng, dễ theo, nhưng không có gì
    đặc biệt. Có lẽ vì nhan đề hấp dẫn nên cũng được tái bản nhiều lần tuy thua
    xa hai cuốn trên”.

    Cụ không cho biết khi dịch cuốn này, cụ có “dựa vào bản Pháp dịch” hay
    không, nhưng chúng ta thấy trong chương VI, trang 153, cụ chú thích chữ
    “síp (chiffre)” như sau: “Chúng tôi dùng tiếng “số” để dịch tiếng
    “nombre”, tiếng “chữ” để dịch tiếng “lettre”, còn “mot” thì dịch là
    “tiếng”; mà các chữ chiffre, nombre, lettre, mot đều là chữ Pháp.



    Dịch cuốn này, cụ cũng “2="">sửa đổi một chút cho thích hợp với người
    mình, miễn không phản nguyên tác”, riêng chương V: Khéo dùng tiếng
    Việt, cụ cho biết:



    “Trong nguyên văn ông Gordon Byron chỉ cách khéo léo dùng tiếng Anh vì
    ông là người Anh. Chúng tôi theo đúng đại ý của ông áp dụng vào tiếng
    Việt, trừ những đặc điểm của tiếng Anh mà tiếng Việt không có, như về chủ
    âm thì tôi bỏ đi và thay vào một đoạn về âm hưởng của tiếng Việt”.

    Có lẽ do chương V đó, mà ta thấy cuốn Bảy bước đến thành công ghi là:
    “Viết phỏng theo quyển…”[1].



    Ebook này tôi chép theo bản của Nxb Văn hoá Thông tin, năm 2001 (về
    sau, trong các chú thích, tôi gọi tắt là bản Văn hoá Thông tin). Trong lúc gõ,

    khi gặp những chỗ ngờ sai, tôi tham khảo bản của Nxb Đồng Tháp, năm
    1995 (gọi tắt là bản Đồng Tháp) để nếu cần, tôi sẽ sửa lại cho đúng. Trong
    bản Văn hoá Thông tin, chương IV, tiết Thể dục, có một chú thích như sau:
    “Xin coi hình vận động trong bản in riêng ở cuối sách”, nhưng trong sách
    chẳng có hình nào cả, còn bản Đồng Tháp thì không in chú thích đó và cũng
    chẳng in hình ảnh nào cả. Theo cụ Nguyễn Hiến Lê thì cuốn Bảy bước đến
    thành công được tái bản nhiều lần, nhưng tôi chẳng có trong tay bản nào in
    trước năm 1975 nên không thể chép được các “hình vận động…” được.
    Tiếc thay!



    Goldfish

    Đầu tháng 11.2010

    Chú thích:
    [1]Viết phỏng theo quyển: mấy chữ này in trên trang bìa bản in của Nxb
    Nguyễn Hiến Lê, năm 1986. Bản in của Nxb Văn hoá Thông tin, năm 2001,
    ghi trên trang 3 là: Viết phóng theo quyển. Bản của Nxb Đồng Tháp, cũng
    trên trang 3, ghi là: Theo quyển.

    TỰA
    Nhìn nền trời thăm thẳm, lấp lánh sao vàng, người phương Tây tò mò muốn
    biết trên những vì tinh tú đó có gì và tìm cách chinh phục không trung để
    đến tận nơi quan sát thế giới huyền bí, xa xăm đó; còn người phương Đông
    ta chỉ nghĩ tới sự bé nhỏ của thân mình, sự yếu ớt của sức mình và cảnh
    phù du của đời mình. Họ chinh phục Thiên nhiên thì ta khuất phục Thiên
    nhiên. Mọi việc từ việc nước, việc nhà, tới việc ăn, việc uống, ta đã đều cho
    đã có Hoá công sắp đặt trước, gắng sức chẳng những đã vô ích mà còn trái
    đạo Trời nữa. Họ phấn đấu, tiến thủ, còn ta uỷ mị, an phận.



    Nhiều khi chúng ta cũng phải nhận rằng có số phận thật. Có những việc
    xảy ra trong đời mà ta chưa thể giảng được và cho là tại số. Khoa học sau
    này có giảng được không, chưa biết. Nhưng ta biết chắc một điều là phần
    động chúng ta đều không rõ trước được số ta sẽ ra sao hết. Vì chính khoa
    tướng số cũng nhận rằng Số không phải là cái gì chắc chắn như hai với hai
    là bốn, rằng Số vẫn có thể dùng sức người mà sửa được. Điều đó, may cho
    chúng ta vì nếu biết chắc đời ta Trời bắt sao phải chịu vậy thì kiếp trần này
    còn có chi đáng sống không? Còn việc chi đáng làm không?



    Vậy số mạng, cái bí mật của Hoá công chưa hiểu được ấy, cũng chỉ như
    một luồng nước. Ta không biết chắc nó sẽ qua đông hay qua tây, và nếu
    muốn, ta vẫn có thể chống với nó. Thế thì thái độ của ta nên ra sao? Nên
    như cánh bèo chơi vơi trên dòng, mặc cho gió táp sóng dồi, may mà tới
    được một bến có hoa có lá thì càng hay, chẳng may trôi ra biển cả, chìm
    xuống vực sâu thì cũng đành ư? Hay như con cá tìm nơi nước trong sóng
    lặng mà tới, vẫy vùng giữ dòng; nước xuôi thì mau đến mà nước có ngược
    cũng không bị lôi cuốn vào nơi vô định?




    Huống hồ phương Tây có câu: “Bạn hãy tự giúp mình đi rồi Trời sẽ giúp
    bạn”, mà phương Đông cũng có câu: “Khuynh giả, phúc chi, tài giả, bồi
    chi”. Ta chẳng thấy những người đang cơn bỉ, một hôm suy nghĩ phấn khởi
    lên, đầy lòng tự tín rồi như có thần linh mách bảo, có sức vô hình đưa đẩy,
    tâm hồn thay đổi hẳn, hoá ra quả quyết vui vẻ hoạt bát hơn, được lòng
    nhiều người hơn, thông minh hơn và đi từ thành công này đến thành công
    khác đấy ư? Đó chẳng phải tự mình giúp mình rồi Trời giúp ư?



    Cũng có khi họ thất bại một vài lần đầu, nhưng nếu họ kiên nhẫn thì trước
    sau gì họ cũng đạt được mục đích vì vận may không phải chỉ tới một lần
    trong đời người mà tới nhiều lần. Ta phải dự bị sẵn sàng rồi đợi, đừng để
    nó gõ cửa ta trong khi ta mê ngủ rồi than rằng nó không tới. Tóm lại, ta
    phải tự tạo lấy vận may.



    Thấy phần đông người mình thiếu tinh thần phấn đấu của phương Tây,
    sống lây lất, nhắm mắt đưa chân, tới đâu thì tới, cho nên chúng tôi dịch tác
    phẩm “Give yourself a chance”[2]của Gordon Byron để giới thiệu với các
    bạn một phương pháp tu thân luyện tính, một phương pháp tổ chức cuộc
    đời của người Âu[3].

    Gordon Byron là một người Anh. Ông đã thành công rực rỡ trong nhiều
    ngành hoạt động, hồi nhỏ ông đầu quân rồi lên tới chức đại uý trong đội
    Pháo binh của Anh Hoàng. Sau ông bắt đầu học nghề bán hàng và trở nên
    một viên chỉ huy trong công ty ông giúp việc. Ông lại làm cho một công ty
    quảng cáo và lên tới địa vị giám đốc. Ông chưa từng thất bại. Trong công
    việc trứ tác cũng vậy, ông viết trên 12 cuốn có ích, mà cuốn có danh nhất là
    cuốn “Give yourself a chance” xuất bản đầu năm 1946.



    Đọc cuốn ấy, độc giả sẽ được ông cầm tay dắt lần lần lên bảy bực thang để
    đến cửa đền của thành công.

    Bảy bước đó là:


    1. Luyện lòng tin và rèn nghị lực.

    2. Luyện nhân cách.

    3. Đắc nhân tâm.

    4. Luyện tập và giữ gìn thân thể.

    5. Khéo léo dùng tiếng mẹ đẻ.

    6. Luyện trí.

    7. Kiếm việc làm và dự bị để được thăng cấp.

    Toàn là những điều thực hành ngay được. Còn về kết quả thì trong sách tác
    giả đã đưa ra nhiều thí dụ có thật để chứng minh hiệu quả của phương
    pháp, nhưng chúng tôi tưởng chỉ có một quá khứ thành công của ông trong
    bốn ngành hoạt động khác nhau cũng đủ chứng thực nhiều rồi.

    Tôi biết có bạn sẽ nói: “Bảy bước thang đó có vẻ khó leo quá! Phải có nghị
    này, phải luyện tánh, luyện trí này…”. Cũng hơi khó thật. Nếu dễ thì ai
    chẳng thành công và cuốn này không cần phải viết nữa. Nhưng chúng ta
    thử nghĩ kỹ xem quả có khó lắm không? Để giật được bằng Tú tài hay Cử
    nhân – chưa xét tới những bằng cấp cao hơn – chúng ta mất bao công khó
    nhọc? Học luôn trong 10, 15 năm, học ngày học đêm thì chúng ta đủ nghị
    lực theo đuổi tới cùng mà luyện tinh thần, thân thể, tính tình mỗi ngày một
    giờ trong năm ba năm thì sao lại không đủ nghị lực? Mà sự thành công
    trong việc làm ăn của ta so với sự thành công ở nhà trường bên nào quan
    trọng? Tạo sao ra khỏi trường lại không chịu học nữa? Tại sao? Nền giáo
    dục hồi xưa trọng đức dục hơn trí dục. Nay thì trái lại. Cả hai đều thiên
    lệch hết. Tôi tin rằng sau này thế nào nhân loại cũng phải dung hoà cả hai,
    những cuốn sách như cuốn này sẽ được dùng làm sách giáo khoa trong ban
    Trung học. Ở trường, chúng ta đã chưa được học, thì ra đời, lại càng phải
    học. Mà có mất công gì đâu? Mỗi ngày chỉ cần một giờ thôi!



    Sách có ích cho mọi hạng người. Ta đang gặp cảnh gió xuôi ư, thì sách sẽ
    là cánh buồm căng thẳng đẩy thuyền ta mau tới bến. Ta đương lung tung
    trong cảnh gió ngược ư, sách sẽ lấy cây sào chống đỡ thuyền ta cho khỏi

    thụt lùi, khỏi đâm vào mõm đá, để tiến lên – dù rất chậm chạp – và đợi lúc
    gió đổi chiều. Vì gió sẽ phải đổi chiều. Ta phải luôn luôn dự bị sẵn sàng để
    đón gió.



    Vậy chúng tôi xin Độc giả đọc kỹ cuốn này. Nếu bạn có chút nghị lực thì nó
    sẽ đánh dấu một khúc quẹo trong đời của bạn và biết đâu chừng, nó chẳng
    mang lại cho bạn một ngọn gió mới để đưa bạn đến bến mà bạn hàng mong
    tưởng!



    Sau cùng, còn một điều nữa, xin thưa trước với các bạn. Khi chúng tôi cho
    ra cuốn Đắc nhân tâm, chúng tôi được nhiều bạn xa gần khuyến khích và
    khuyên nên tóm tắt lại, nhưng vẫn giữ đủ ý của tác giả, để giá sách bớt cao,
    nhiều người mua được. Vì vậy cuốn này đáng lẽ dịch hết (sách dày trên 300
    trang), chúng tôi thu lại còn khoảng 150 trang, và trong một vài đoạn,
    muốn cho được rõ ràng hơn chúng tôi đã sắp đặt lại ý của tác giả. Nhưng
    chúng tôi vẫn giữ đủ ý chính trong sách. Riêng về chương V, tác giả chỉ
    cách dùng tiếng Anh cho khéo, vì tác giả là người Anh, chúng tôi theo đúng
    đại ý mà áp dụng vào tiếng Việt. Ngoài ra, chúng tôi không dám thay đổi
    chút gì hết



       Long Xuyên, ngày 15-10-51



    Chú thích:

    [1] Ông Khổng nói rằng: "Tài giả bồi chi, khuynh giả phúc chi" nghĩa là
    mình tốt thì trời đất giúp thêm cho, mà mình đã nghiêng đổ thì trời đất lại
    xô đạp thêm. (Phan Chu Trinh, Đạo đức và Luân lý Đông Tây,
    http://www.icevn.org/vi/DucDuc/Dao-Duc-Va-Luan-Ly-Dong-Tay.
    (Goldfish).

    [2] Sách in trên trang 2 như thế này: “Copyrigh by Double and Company,
    Inc. New-Yort. Tác già Nguyễn Hiến Lê đã mua lại bản quyền phiên dịch”.

    (Goldfish).

    [3] Cuốn này là cuốn thứ ba trong loại “Tổ chức” của chúng tôi. Trong hai
    cuốn trước chúng tôi đã chỉ cách “Tổ chức công việc theo khoa học”, và tổ
    chức việc học (tức cuốn Kim chỉ nam của học sinh). Cuốn thứ tư là cuốn Tổ
    chức gia đình và cuốn thứ năm nhan đề là Tổ chức công việc làm ăn.

    [4] Trong cuốn “Tổ chức công việc theo khoa học”, chúng tôi lấy làm ngạc
    nhiên sao một môn quan trọng như vậy mà chưa được dạy trong các trường
    Đại học. Chúng tôi mới hay rằng ngày 20-8-1947 cả Quốc hội Pháp đã
    đồng lòng thoả thuận phải dạy môn đó trong các chương trình Đại học, và
    lần lần sẽ dạy trong các trường Trung học và Tiểu học nữa. Nền giáo dục
    hiện thời của chúng ta còn phải sửa đổi nhiều.

    [5] Bản của Nxb Đồng Tháp – năm 1995 (về sau gọi tắt là bản Đồng Tháp),
    không in bài Tựa của cụ Nguyễn Hiến Lê mà thay vào đó là Lời nói đầu
    của nhà xuất bản. (Goldfish).

    CHƯƠNG I - LUYỆN LÒNG
    TỰ TÍN VÀ RÈN NGHỊ LỰC
    LÒNG TỰ TÍN
    Bạn thường thấy một người đi chào khách hàng   đi đi lại lại cả chục lần
    trước một hãng nọ, do dự hoài mà không dám vào để mời mua hàng. Mà
    người đó biết chắc rằng chỉ bị mời ra là cùng, chứ không ai đánh đập gì hết.



    Vậy người đó do dự không phải vì thiếu can đảm mà thiếu lòng tự tín.
    Người đó không tin rằng mình đủ khéo léo để thành công trong bốn giai
    đoạn sau đây:

       - Làm cho người mình mời có thiện cảm với mình và chú ý tới món hàng
    của mình.

       - Giảng giải về những ích lợi của món hàng.

       - Chỉ cho người mình mời thấy rằng món hàng đó hợp với nhu cầu của
    họ.

       - Sau cùng, khéo nói sao cho họ mua.

       Không tin sẽ thành công, cho nên không chào khách hàng mà lại kiếm lý
    lẽ để tự bào chữa. Hôm nay thứ hai, sáng thứ hai thiên hạ hay quạu, có mời
    mua chỉ tốn công. Hoặc hôm nay trời mưa, mà ngày mưa mình hay buồn
    bực, không tươi tỉnh, ăn nói không hoạt bát, không thành công được. Thôi,
    để lần khác, tuần sau chẳng hạn.



    Thế là lỡ một cơ hội.



    Nếu người đó, trái lại, có lòng tự tín, thì cứ tươi cười gõ cửa chào khách,
    khéo léo khen họ để họ có thiện cảm với mình, rồi tuần tự làm cho họ chú ý
    tới món hàng, hăng hái tả những tiện lợi của nó, dẫn dụ cho họ tin rằng nó

    hợp với nhu cầu của họ. Tin ở mình, ở món hàng mình mời mua thì chắc
    chắc là bán được, mà nếu không, thì ít nhất cũng gây được mầm tốt, lần sau
    sẽ hái quả.



    Tự tín và có nghị lực là hai đức cần thiết cho sự thành công. Người nhút
    nhát mỗi khi thất bại, đáng lẽ phân tích sự thất bại đó, tìm nguyên nhân để
    sửa đổi, thì lại quá lo nghĩ, buồn tủi vì trót đã lầm lỡ để đến nỗi nghị lực
    nhụt đi, rồi tin rằng mình không sao thành công được hết.



    Tức như một người lái xe hơi cho sát bờ đường, lần đầu vụng về để bánh
    trước đụng lề. Nếu người đó tự chê: “Mình dở quá, không biết đoán đúng
    bánh xe còn cách lề bao xa hết” rồi tự trách hoài thì không bao giờ lái xe
    giỏi được. Còn nếu người đó cho xe lại một đường vắng, ngừng xe khi thấy
    mũi xe vừa mới che khuất lề, xuống xe đo xem bánh trước bên mặt còn
    cách lề bao xa, đoạn tập lần lần thì chẳng bao lâu sẽ giỏi.



    Vậy suy nghĩ, buồn rầu hoài nỗi lầm lỡ của mình, tức là diệt lòng tự tín; còn
    suy xét kỹ lưỡng nguyên nhân của thất bại là một cách để sửa lỗi và phát
    triển lòng tự tín.



    TỰ TÍN LÀ GÌ?



    Tự tín là tin ở năng lực của ta, tin nơi ta. Ông Gred Evans [2] , ngày nay
    làm chủ phòng bán hàng cho một công ty lớn, nhưng hai tháng trước ông
    thất nghiệp. Lúc đó, gặp ông tôi hỏi:



    - Ông đã xem xét kỹ nghệ làm phòng cách điện chưa? [3]



    Ông đáp:




    - Tôi chưa biết chút gì về kỹ nghệ ấy.



    Tôi khuyên ông để ý tới ngành hoạt động đó vì nó đương phát đạt, rồi chỉ
    cho ông vài nhà sản xuất chất cách điện.



    Hai tháng sau, gặp ông thì ông đã làm chủ phòng bán hàng cho một công ty
    sản xuất chất cách điện rồi.



    Ông sở dĩ thành công mau như vậy là nhờ:



    1. Ông biết rằng muốn giàu, phải buôn bán, mà bán hàng không phải là một
    mánh khoé gian giảo. Hễ tin món hàng của mình tốt, giúp ích chắc chắn cho
    người khác, thì sẽ bán được nó. Nghĩa là phải tin ở mình, ở sự ích lợi của
    món hàng.



    2. Ông lựa ba nhà sản xuất có danh tiếng nhất, nghiên cứu các mẫu hàng và
    cách bán của họ để phát triển lòng tin về phương pháp cách điện.



    3. Ông đi xem những phòng đã được ba nhà đó áp dụng phương pháp cách
    điện để phát triển về lòng tin ở công việc.



    4. Ông phỏng vấn những người chủ các phòng đó để biết ý kiến của họ, biết
    kết quả của phương pháp ra sao (mùa đông đỡ tốn bao nhiêu than; mùa hè
    phòng mát nhiều không). Như vậy là để phát triển lòng tin ở món hàng.



    5. Ông nghiên cứu kỹ lưỡng rồi lựa chọn một nhà sản xuất, đề nghị bán
    hàng giúp họ với hoa hồng là bao nhiêu đó. Mới đầu còn lạ, ông kiếm
    không đủ ăn, nhưng luôn luôn ông tin ở lời mời khách của ông và tin ở món
    hàng ông bán là hoàn hảo, ích lợi cho nên chẳng bao lâu ông thành công.




    Thấy ông tiến mau như vậy, tôi giới thiệu với ông một người khác, nhờ ông
    chỉ cho nghề bán chất cách điện. Người này cũng bỡ ngỡ, chưa biết chút chi
    hết, nhưng ông Evans khuyên cứ rán thử đi, rồi ông đưa cho người ấy một
    tấm danh thiếp, dặn sáng thứ hai trình diện với người bạn của ông ở một
    tỉnh gần đó, sẽ được người ta giúp cho. Mới cầm tấm thiếp, anh chàng kia
    đã hỏi ngay: “Làm sao đi tới tỉnh ấy được?”. Tôi bực mình, đáp: “Thì leo
    lên xe đò mà đi chứ còn gì nữa?”.



    Tuần sao y trở lại, thú thật y nghĩ công việc đó không khá được, cho nên
    thứ hai không đi, sợ tốn tiền xe, đợi tới thứ tư gặp xe quen, không tốn tiền
    mới đi; nhưng thứ tư tới thì bạn ông Evans mắc việc, không tiếp được.



    Tôi hỏi:



    - Ông ta biểu thày ra sao?



    - Ông ta biểu sáng thứ hai sau trở lại. Nhưng tôi nghĩ không biết chút gì về
    công việc ấy hết, có trở lại nữa, chỉ tốn mấy đồng bạc xe thôi.



    Chàng thanh niên đó không tin mình, cũng không tin sẽ được người giúp,
    không tin ở hảng mình xin việc và chỉ tìm cách tự bào chữa mà không nghĩ
    tới nguyên nhân của sự thất bại để tránh. Ông Evans thành công mà y thất
    bại, khác nhau chỉ ở chỗ đó.



    Nhưng tại sao ở đời có nhiều người thiếu lòng tự tín như vậy? Theo Alfred
    Adler, môn đệ của Freud, thì khi lọt lòng mẹ ra, loài người trần truồng như
    nhộng, yếu đuối không làm được việc gì hết. Tình trạng ấy ảnh hưởng đến
    tâm hồn ta, làm cho ta tự ti mặc cảm (complex d'infériorité). Cả những
    người rất tự tín nữa, nhiều khi cũng không tránh được mặc cảm đó và hoá ra

    sợ sệt. Tổng thống Abraham Lincoln kể chuyện khi ông tranh biện với
    Douglas[4] , hai đầu gối ông run lên vì ông thiếu lòng tự tín. Chính vì ai
    cũng có tự ti mặc cảm cho nên ta càng phải luyện tập để tăng lòng tự tín của
    ta.

    PHẢI TỰ XÉT MÌNH



    Muốn làm công việc gì cũng phải biết:



    - Bắt đầu từ đâu?



    - Mục đích là gì?



    - Làm sao đạt được mục đích đó?



    Muốn luyện lòng tự tín phải theo ba giai đoạn ấy. Trước hết phải tự biết
    mình đã. Bạn biết rõ bạn không? Chắc chắn là có. Dù ai nói sao, bạn vẫn
    biết bạn nhiều hơn là người khác biết bạn. Lẽ tự nhiên như vậy. Nhưng sự
    hiểu biết của bạn về đích thân bạn có tổ chức không? Nghĩa là có thiếu sót
    lầm lẫn không? Bạn có biết rõ sở trường, sở đoản của bạn không? Sự hiểu
    biết đó phải được luyện tập, tổ chức, có hệ thống, có qui củ mới được.



    Một phương pháp thực tế nhất để tự biết mình là tự hỏi nhiều câu hỏi rồi tự
    đáp lấy và so sánh những câu trả lời của mình với những câu trả lời của
    người khác để xem mình hơn hay kém người. Phải thường thường tự xét
    mình như vậy xem mình tiến hay thoái. Điều quan trọng nhất là phải hoàn
    toàn thành thật với mình, nghĩa là mình ra sao thì chép lại như vậy, đừng
    ghi những tài đức mà mình mới mong có chứ chưa có. Chỉ có như vậy mới
    tự sửa mình được thôi. Nếu bạn không hoàn toàn tin ở lòng thành thực của
    bạn – mấy ai đã tin được như vậy – thì nhờ một bạn công tâm xét bạn.




    Dưới đây tôi chép lại một bảng có nhiều câu hỏi thu thập trong sách của
    nhiều nhà tâm lý gia để giúp bạn tự xét mình. Mới đọc qua, chắc bạn cho là
    là có nhiều câu thừa, nhưng kinh nghiệm đã cho tôi thấy rằng bảng đó rất có
    ích. Nó chẳng những giúp bạn phát triển lòng tự tín và nghị lực, rèn luyện
    nhân cách mà còn chỉ cho bạn biết phải luyện lòng tự tín với trình độ nào để
    đạt được mục đích bạn đã tự vạch.



    Ông O. S. Marden nói: “Tự xét để biết rõ năng lực của ta thì mới có ích;
    còn nếu tự xét để an phận trong chỗ kém cỏi thì hại vô cùng”.



    Vậy bạn phải coi bảng đó như một tên hướng đạo dắt bạn tới thành công,
    chớ đừng dùng nó để biết tại sao bạn thất bại. Nếu bạn thấy mình còn kém
    ở phương diện nào thì đừng cam tâm chịu cảnh kém cỏi đó mà phải hăng
    hái tu thân để tiến tới.



    Có hai loại tự tín.



    Nếu bạn muốn làm một người hoạt động, có cá tính dồi dào, bộc lộ, như
    một nhà doanh nghiệp, một viên giám đốc, một người bán hàng, luôn luôn
    giao thiệp với nhiều người thì bạn phải luyện lòng tự tín tới một trình độ rất
    cao, để đủ can đảm nhìn đời, thản nhiên nhận những bất mãn chua chát, yên
    lặng chịu những thất bại đau lòng, rồi lại chiến đấu nữa, vững như đá trong
    sự quyết định cũng như trong lòng tự tín. Còn nếu bạn muốn làm một nghệ
    sĩ hoặc một nhà bác học, nghĩa là bạn muốn sáng tác, tìm tòi, nghiên cứu thì
    bạn nên có lòng tự tín một cách vừa phải thôi, để có thể nhận định rõ ràng
    những nỗi khó khăn, những ngành mình sẽ thất bại và những ngành mình sẽ
    thành công chắc chắn.



    Tóm lại, tự tín là điều kiện quan trọng nhất mà muốn tự tín thì phải biết
    mình.




    108 CÂU HỎI ĐỂ TỰ XÉT MÌNH



    Có thể trả lời những câu hỏi dưới đây, một cách rất gọn: “Có” hay
    “Không”. Tuy vậy, nên cho điểm như sau này:



    - Nếu là ít lắm hoặc không bao giờ hết thì cho…1 điểm



    - Nếu ít hoặc hiếm có thì cho……………………2 điểm



    - Nếu khá hoặc thường có cho…………………..3 điểm



    - Nếu tốt hoặc rất thường có cho………………..4 điểm



    - Nếu rất tốt hoặc luôn luôn có cho……………...5 điểm



    Có 108 câu hỏi, vậy nhiều nhất là 540 điểm. Được 320 điểm cũng đã khá
    rồi. Mỗi tháng nên xét lại một lần và nhất quyết mỗi tháng phải tăng được
    một số điểm nào đó; tăng được 25 điểm thì đáng mừng.



    1. Tôi hành động có nghị lực và quả quyết không?



    2. Tôi có nhiệt tâm với người và chủ nghĩa không?



    3. Tôi có tranh đấu cho địa vị khá hơn không?



    4. Tôi có quyết định rồi theo đúng quyết định đó không?



    5. Tôi có đòi hỏi ở tôi nhiều và làm thoả mãn những đòi hỏi đó không?




    6. Tôi có tránh sự phí thì giờ, phí công, phí tiền bạc cho tôi và cho người
    khác không?



    7. Tôi có tập trung tư tưởng để cương quyết làm việc, mặc dầu gặp sự quấy
    rối không?



    8. Tôi có tránh thói tự bào chữa và đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh
    không?



    9. Tôi có sáng kiến không?



    10. Tôi có tài điều khiển không?



    11. Tôi có tổ chức công việc của tôi không?



    12. Tôi đáng được người trông cậy không? Tôi có giữ lời hứa không?



    13. Tôi có óc tưởng tượng, biết ứng biến không?



    14. Tôi có quyết theo những gương cao cả và có lí tưởng trong hành động
    không?



    15. Tôi có tránh những nhượng bộ quá đáng không?



    16. Tôi có sẵn sàng gánh vác trách nhiệm không?



    17. Tôi có tránh tật tham lam, nhất là thói bủn xỉn không?



    18. Tôi có giữ nhân phẩm của tôi không?




    19. Tôi có giữ được bình tĩnh, cả những khi bực tức không?



    20. Tôi có tránh sự khoe khoang không?



    21. Tôi có tránh sự quá lố không?



    22. Tôi có vui vẻ cả trong lúc khó khăn không?



    23. Tôi có theo câu “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” [5] không?



    24. Tôi có khoan hồng với những ý kiến lỗi lầm của người không?



    25. Tôi có tránh sự vênh váo, sự chán nản, sự nguỵ biện không?



    26. Tôi có hiếu học không?



    27. Tôi có can đảm về thể chất lẫn tinh thần để bênh vực tin tưởng không?



    28. Tôi có ganh tị ghen ghét hay không?



    29. Tôi có điềm tĩnh khi được người ta khen hay nịnh không?



    30. Tôi có giữ vẹn tin tưởng và tư tưởng của tôi, không bị người khác hoặc
    ngoại vật ảnh hưởng không?



    31. Tôi có điềm tĩnh trong lúc nguy kịch không?



    32. Tôi có tránh được sự tự mãn, tự đắc không?



    33. Tôi có tránh thói châm biếm vô ý thức không?




    34. Gặp công việc không thích, tôi có làm ngay không cằn nhằn không?



    35. Tôi có suy nghĩ kỹ rồi mới xét đoán không?



    36. Tôi có tuỳ cơ ứng biến không?



    37. Tôi có chống cự nổi sự quyến rũ không?



    38. Tôi có tránh lòng oán giận, muốn trả thù không?



    39. Tôi có tránh tinh thần chủ bại không?



    40. Tôi có can đảm trước nỗi nguy không?



    41. Tôi có tự chỉ trích không?



    42. Tôi có tránh thói than thân trách phận không?



    43. Tôi có rán tự tạo một nhân sinh quan rõ ràng và sống đúng theo đó
    không?



    44. Tôi có sống trong hiện tại, chứ không sống trong dĩ vãng và tương lai
    không?



    45. Tôi có chống cự những lời mời mọc của người bán hàng không? Có
    tránh sự dễ bị ảnh hưởng không?



    46. Tôi có dễ thương không?




    47. Tôi có chăm chú nghe người khác nói không?



    48. Tôi có tập cho cử động của tôi được phong nhã không?



    49. Giọng nói của tôi có uyển chuyển không?



    50. Tôi có nói rõ ràng không?



    51. Những cử động của tôi có vừa phải, có ý nhị không?



    52. Tôi có tránh những cử chỉ và ngôn ngữ rởm làm cho người ta chán
    không?



    53. Tôi có tránh sự dễ ngã lòng không?



    54. Khi hẹn gặp ai tôi có mau mắn và đúng giờ không?



    55. Lỡ lâm vào một cảnh ngộ lố lăng, tôi có vui vẻ để cho người cười nhạo
    tôi không?



    56. Tôi có thật dùng hết tinh thần vào trò chơi hay công việc không?



    57. Tôi có óc hài hước không?



    58. Tôi có thể nói trước đám đông mà không rụt rè lúng túng không?



    59. Tôi có tự túc không?



    60. Tôi có tránh xen vào việc thiên hạ không?




    61. Tôi có tránh sự độc đoán không?



    62. Tôi có nhận lỗi của tôi không?



    63. Lúc thua, tôi có giữ được thái độ quân tử không?



    64. Tôi có biết hi sinh không?



    65. Tôi có được con nít mến không?



    66. Tôi có yêu thú vật không?



    67. Trong sự giao thiệp, tôi có giản dị và tự nhiên không?



    68. Tôi có tránh tính quạu quọ và biết làm cho những lời chỉ trích của tôi
    có ích lợi không?



    69. Người khác có thích lại gần, làm quen với tôi không?



    70. Tôi có giữ ý và tránh sự sỗ sàng không?



    71. Tôi có tránh thói bắt người khác nghe mình, phục mình không?



    72. Chữ tôi viết có dễ đọc không?



    73. Tôi có tránh sự ăn nói thô lỗ, nhất là trong khi say không?



    74. Tôi có tinh thần mã thượng (chevaleresque) và có phong nhã với đàn bà
    không?




    75. Tôi có giữ phép xã giao nhã nhặn và nhớ những lời “cảm ơn ông”, “xin
    phép ông”… không?



    76. Tôi có lịch sự trong khi mời mọc, giới thiệu không?



    77. Trong bữa ăn, tôi có lịch sự, nhã nhặn không?



    78. Nói chung, tôi có lễ độ không?



    79. Tôi có sự quân bình trong tâm hồn không?



    80. Tôi có tránh thói ti tiểu, nhất là trong vấn đề tiền nong không?



    81. Tôi có tránh sự gây lộn không?



    82. Tôi có đại lượng không?



    83. Tôi có hiếu khách không?



    84. Tôi có hành động theo tuổi tôi không?



    85. Tôi có hành động theo phái (nam hay nữ) của tôi không?



    86. Tôi có tránh thói đua đòi, phù hoa không?



    87. Tôi có tránh những trò đùa nhả không?



    88. Tôi có trả lời ngay những thư tôi nhận được không?



    89. Tôi có tinh thần cộng tác với người không?




    90. Tôi có quan tâm tới công dân sự vụ không?



    91. Tôi có tinh thần xã hội, đặt công ích trên tư lợi không?



    92. Tôi có bặt thiệt không?



    93. Tôi có biết thưởng thức mỹ thuật không?



    94. Tôi có biết thưởng thức âm nhạc không?



    95. Tôi có theo kịp trào lưu văn nghệ không?



    96. Tôi có rán tu bổ những khuyết điểm trong sự giáo dục của tôi không?



    97. Tôi có đi coi tuồng và hoà nhạc không?



    98. Tôi có sẵn sàng đón những ý mới không?



    99. Tôi có khiêu vũ giỏi không? [6]



    100. Tôi có nói đúng giọng không?



    101. Tôi có đọc báo chí có chính kiến rõ ràng không?



    102. Tôi có học dễ dàng không?



    103. Tôi có nhớ mau và bền không?



    104. Tôi có thích đi du lịch không?




    105. Tôi có luyện tập, dự bị trước khi làm công việc của tôi không?



    106. Tôi có môn tiêu khiển nào sở thích không?



    107. Tôi có hoạt động gì để sáng tác không?



    108. Lời nói của tôi có đúng ngữ pháp không? Tôi có tránh những tiếng
    lóng không? [7]

    Chú thích:



    [1]Ở Âu Mỹ có những người chuyên môn mang mẫu hàng lại nhà từng
    người để mời mua.

    [2]Gred Evans: bản Đồng Tháp in là: Fred Evans. (Với những chỗ khác biệt
    giữa hai bản mà tôi biết chắc rằng có một bản in đúng thì tôi theo bản in
    đúng, và để khỏi rườm, tôi sẽ không chú thích). (Goldfish).

    [3] Người ta dùng một chất cách điện (nghĩa là không dẫn điện và sức
    nóng) đắp vào một phòng để khi đóng hết các cửa lại, vách không dẫn hơi
    nóng hoặc hơi lạnh ở ngoài vào mà phòng luôn luôn được mát mẻ.

    [4] Tức Stephen Douglas, đối thủ của A. Lincoln trong cuộc tranh cử tổng
    thống Mỹ nhiệm kỳ thứ 16. (Goldfish).

    [5] Nghĩa là: Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác.
    (Goldfish).

    [6]Ở bên mình, điều này không cần.

    [7] Bảng đó có chỗ thiếu sót là không chỉ rõ đức tính nào quan trọng nhiều
    hay ít. Nhưng để giúp ta tự xét mình thì bảng đó rất đầy đủ.

    CHƯƠNG I -(B) LUYỆN
    LÒNG TỰ TÍN RA SAO?
    Ta nghiệm thấy rằng ta càng thành công bao nhiêu thì càng tự tín bấy
    nhiêu, còn nếu ta gặp toàn những thất bại thì lòng tự tín của ta mỗi ngày
    một tiêu ma. Vậy ta đừng đòi làm những chuyện lên cung trăng thăm chị
    Hằng để mà thất bại mà nhụt lòng tự tín. Câu phương ngôn: “Nếu bạn nghĩ
    rằng có thể thắng được thì bạn sẽ thắng” dùng để nung chí người ta thì rất
    tốt, nhưng trên thực tế, ta phải nhận rằng có những việc ta không thể nào
    làm được hết, dù lòng tự tín của ta mạnh tới đâu đi nữa.



    Vậy muốn phát triển lòng tự tín, ta phải phát triển những thành công của ta,
    dù những thành công đó lúc đầu nhỏ nhen, cũng không hại. Mà muốn thành
    công, ta phải luyện những đức tính nó giúp ta thành công. Đó là qui tắc thứ
    nhất. Tôi xin nhắc lại:



    Cách công hiệu nhất để phát triển lòng tự tín là phát triển những đức tính
    nó giúp ta thành công.



    Có biết bao người thất bại vì công việc phải làm ngay thì họ luôn luôn để
    ngày hôm sau. Phải bắt đầu tiến ngay từ bây giờ. Ngay hôm nay ta phải tự
    tạo lấy một vận mạng. Nếu bạn làm một việc nhỏ mà thành công thì tiếp tục
    làm nó đi. Mỗi lần thành công, bạn lại tự tín một chút, rồi lần lần bạn làm
    được việc lớn hơn mà cũng thành công như vậy.


    Có lần tôi nói với ông E. Hicks, tổng giám đốc một công ty lớn ở Nữu Ước,
    rằng ông ta có sẵn nhiều đức tính thành một diễn giả: những bộ tịch có thể
    lên diễn đàn được, một giọng nói rất tốt. Vậy chỉ còn việc tìm kiếm tài liệu
    cho bài diễn văn, mà công việc này không khác chi công việc ông làm hằng

    ngày ở hãng. Vậy nếu ông luyện những đức tính mà ông đã có sẵn đó thì
    ông sẽ thành công. Ông thú với tôi: “Không có gì làm tiêu mà lòng tự tín
    bằng một chuỗi thất bại liên tiếp. Trước khi biết lợi dụng những tài năng tôi
    có sẵn về nghệ thuật nói trước công chúng, tôi nhút nhát lắm và tìm đủ cách
    để khỏi phải nói trước đám đông”.



    Vậy qui tắc thứ nhì là: Đừng vô lí mà đòi lên cung trăng. Hãy bắt đầu làm
    những công việc ta đã thành công, rồi tấn công những vấn đề khó khăn
    hơn. Như vậy để tập cho quen thành công đi.



    Một thanh niên mới ở trường Trung học ra, lại hãng nọ xin một việc có thể
    lần lần đưa tới địa vị chỉ huy được, nhưng lại nhất định không chịu bán
    hàng. Phải khéo léo gạn hỏi, người đó mới chịu thú rằng đã thất bại cay
    đắng một lần rồi. Bán gì mà thất bại vậy? Bán một loại sách đắt tiền mà
    thanh niên ấy lại ít chịu gõ cửa từng nhà để chào khách. Thảo nào! Loại
    hàng đó khó bán nhất, phải có nhiều kinh nghiệm mới được. Người ấy thất
    bại mà mất lòng tự tín cũng phải.



    Tôi giảng giải cho người đó hiểu rằng muốn tới một địa vị chỉ huy thì bắt
    đầu phải tập bán hàng, rồi cho người đó tập bán những món dễ bán...
     
    Gửi ý kiến

    vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam