LỜI CHÚC

BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT WEBSITE

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1

    Di Tim Le Song - Viktor E. Frankl

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:26' 09-03-2024
    Dung lượng: 1.0 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Đi Tìm Lẽ Sống
    Viktor E. Frankl
    Nguyên tác: Trotzdem Ja zum Leben sagen: Ein Psychologe
    erlebt das Konzentrationslager
    Biên dịch: Đặng Ngọc Thảo - Giang Thủy - Ngọc Hân
    Công ty phát hành: First News - Trí Việt
    Nhà xuất bản: NXB Trẻ
    Số trang: 224 trang
    Ngày xuất bản: 08-2011
    ∞∞∞∞∞
    Đánh máy: notrinos
    Soát lỗi & đóng gói: Bố Bủm Xì
    Ngày hoàn thành: 29-05-2016
    Nguồn: http://tve-4u.org

    Viktor Emil Frankl (1905 - 1977)
    Một lần, mọi người yêu cầu Viktor Frankl tóm gọn ý nghĩa
    cuộc sống của ông trong chỉ một câu. Ông đã viết câu trả lời
    trên giấy và hỏi lại các sinh viên xem họ đoán ông đã viết gì.
    Sau một hồi im lặng, một sinh viên phát biểu: “Ý nghĩa
    cuộc sống của thầy là giúp người khác tìm ra ý nghĩa cuộc
    sống của họ”.
    “Chính xác” - Frankl nói. - “Đó chính là những lời mà tôi
    đã viết”.

    Mục lục
    LỜI NÓI ĐẦU
    LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN ẤN BẢN NĂM 1992
    PHẦN 1 NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG TRẠI TẬP
    TRUNG
    PHẦN 2 SƠ LƯỢC VỀ LIỆU PHÁP Ý NGHĨA
    TÁI BÚT 1984
    LỜI CUỐI

    LỜI NÓI ĐẦU
    Đi tìm lẽ sống của Viktor Frankl là một trong những quyển
    sách kinh điển của thời đại. Thông thường, nếu một quyển
    sách chỉ có một đoạn văn, một ý tưởng có sức mạnh thay đổi
    cuộc sống của một người, thì chỉ riêng điều đó cũng đã đủ để
    chúng ta đọc đi đọc lại và dành cho nó một chỗ trên kệ sách
    của mình. Quyển sách này có nhiều đoạn văn như thế.
    Trước hết, đây là quyển sách viết về sự sinh tồn. Giống như
    nhiều người Do Thái sinh sống tại Đức và Đông Âu khi ấy,
    vốn nghĩ rằng mình sẽ được an toàn trong những năm 1930,
    Frankl đã trải qua khoảng thời gian chịu nhiều nghiệt ngã
    trong trại tập trung và trại hủy diệt của Đức quốc xã. Điều kì
    diệu là ông đã sống sót, cụm từ “thép đã tôi thế đấy” có thể lột
    tả chính xác trường hợp này. Nhưng trong quyển sách này, tác
    giả ít đề cập đến những khó nhọc, đau thương, mất mát mà
    ông đã trải qua, thay vào đó ông viết về những nguồn sức
    mạnh đã giúp ông tồn tại. Nhiều lần trong quyển sách này,
    Frankl hay trích dẫn lời của Nietzche[1]: “Người nào có lý do
    để sống thì có thể tồn tại trong mọi nghịch cảnh”. Ông chua
    xót kể về những tù nhân đã đầu hàng cuộc sống, mất hết hy
    vọng ở tương lai và chắc hẳn là những người đầu tiên sẽ chết.
    Ít người chết vì thiếu thức ăn và thuốc men, mà phần lớn họ
    chết vì thiếu hy vọng, thiếu một lẽ sống. Ngược lại, Frankl đã
    nuôi giữ hy vọng để giữ cho mình sống sót bằng cách nghĩ về
    người vợ của mình và trông chờ ngày gặp lại nàng. Ông còn
    mơ ước sau chiến tranh sẽ được thuyết giảng về các bài học
    tâm lý ông đã học được từ trại tập trung Auschwitz. Rõ ràng
    có nhiều tù nhân khao khát được sống đã chết, một số chết vì
    bệnh, một số chết vì bị hỏa thiêu. Trong tập sách này, Frankl
    tập trung lí giải nguyên nhân vì sao có những người đã sống
    sót trong trại tập trung của phát xít Đức hơn là đưa ra lời giải
    thích cho câu hỏi vì sao phần lớn trong số họ đã không bao giờ
    trở về nữa.
    Những trải nghiệm kinh hoàng của tác giả trong trại tập
    trung Auschwitz đã củng cố một trong những quan điểm chính
    của ông: Cuộc sống không phải chỉ là tìm kiếm khoái lạc, như

    Freud[2] tin tưởng, hoặc tìm kiếm quyền lực, như Alfred
    Adler[3] giảng dạy, mà là đi tìm ý nghĩa cuộc sống. Nhiệm vụ
    lớn lao nhất của mỗi người là tìm ra ý nghĩa trong cuộc sống
    của mình. Frankl đã nhìn thấy ba nguồn ý nghĩa cơ bản của
    đời người: thành tựu trong công việc, sự quan tâm chăm sóc
    đối với những người thân yêu và lòng can đảm khi đối mặt với
    những thời khắc gay go của cuộc sống. Đau khổ tự bản thân
    nó không có ý nghĩa gì cả, chính cách phản ứng của chúng ta
    mới khoác lên cho chúng ý nghĩa. Frankl đã viết rằng một
    người “có thể giữ vững lòng quả cảm, phẩm giá và sự bao
    dung, hoặc người ấy có thể quên mất phẩm giá của con người
    và tự đặt mình ngang hàng loài cầm thú trong cuộc đấu tranh
    khắc nghiệt để sinh tồn”. Ông thừa nhận rằng chỉ có một số ít
    tù nhân của Đức quốc xã là có thể giữ được những phẩm chất
    ấy, nhưng “chỉ cần một ví dụ như thế cũng đủ chứng minh
    rằng sức mạnh bên trong của con người có thể đưa người ấy
    vượt lên số phận nghiệt ngã của mình”.
    Frankl luôn trung thành với quan điểm: Những thế lực vượt
    quá khả năng kiểm soát của bạn có thể lấy đi mọi thứ mà bạn
    có, chỉ trừ một thứ, đó là sự tự do chọn lựa cách bạn phản ứng
    trước hoàn cảnh. Tôi luôn áp dụng quan điểm này của Frankl
    trong suốt cuộc đời mình cũng như trong vô số tình huống tư
    vấn. Bạn không thể kiểm soát điều gì sẽ xảy ra trong đời mình,
    nhưng bạn luôn có thể kiểm soát cách đón nhận cũng như cách
    phản ứng trước mọi tình huống của cuộc sống.
    Có một cảnh trong vở kịch Incident at Vichy (Sự cố tại
    Vichy) của Arthur Miller, trong đó, một người đàn ông trung
    lưu xuất hiện trước chính quyền Đức quốc xã, vốn đang chiếm
    đóng thị trấn của ông và trưng ra bằng cấp của mình: tấm bằng
    đại học, các lá thư tham khảo do những người có tiếng tăm
    viết, v.v. Tên lính Đức quốc xã hỏi ông: “Mày chỉ có thế thôi
    sao?”. Người đàn ông gật đầu. Tên lính quăng tất cả vào sọt
    rác và nói: “Tốt, giờ mày chẳng còn gì nữa”. Người đàn ông
    cảm thấy bị tổn thương nặng nề. Frankl đã nói rằng chúng ta
    sẽ không bao giờ mất đi tất cả nếu chúng ta vẫn còn được tự
    do lựa chọn cách phản ứng với sự việc.
    Trải nghiệm tôn giáo của tôi đã cho tôi thấy chân lý trong
    quan điểm của Frankl. Tôi biết có nhiều doanh nhân thành

    công sau khi nghỉ hưu, đã mất hết mọi nhiệt huyết với cuộc
    sống. Với họ, dường như ý nghĩa cuộc sống chỉ xoay quanh
    hai chữ “công việc”. Vì vậy, khi không có việc làm nữa, họ
    cảm thấy cuộc sống trở nên vô vị. Mỗi ngày qua đi, họ lặng lẽ
    ngồi trong nhà băn khoăn thấy mình “không biết làm gì”. Tôi
    biết nhiều người đã trưởng thành từ khả năng chịu đựng phi
    thường của họ một khi họ có lòng tin rằng những tai họa,
    nghịch cảnh của họ đang chịu đựng không vô ích. Đa phần đối
    với mọi người, việc có một lý do để sống khiến cho họ có thể
    chịu được Mọi hoàn cảnh, có thể đó là mong muốn được cùng
    mọi người trong gia đình gánh vác một trọng trách nào đó
    hoặc hy vọng các bác sĩ sẽ tìm ra phương thuốc điều trị căn
    bệnh của họ.
    Tuy Frankl và tôi có những trải nghiệm không giống nhau
    song những gì chúng tôi rút ra được từ những bài học cuộc
    sống có nhiều điểm tương đồng. Những quan điểm trong tập
    sách When bad Things Happen to Good People (Khi điều tồi tệ
    xảy ra với người tốt) có được sự tín nhiệm của độc giả bởi vì
    chúng được rút ra từ chính những trải nghiệm của tôi trong
    quá trình tìm hiểu căn bệnh dẫn đến cái chết của con trai mình.
    Trong khi đó, học thuyết về liệu pháp ý nghĩa của Frankl trình
    bày phương thức chữa trị vết thương cho tâm hồn bằng cách
    dẫn dắt nó đi tìm ý nghĩa cuộc sống, những trang viết được
    đúc kết từ trải nghiệm mà tác giả phải chịu ở Auschwitz đã lập
    tức nhận được sự đồng cảm và ủng hộ của độc giả. Bạn không
    thể tiếp nhận toàn bộ giá trị sâu sắc của tập sách này nếu chỉ
    đọc phần sau mà bỏ qua nửa đầu của cuốn sách.
    Một điểm rất có ý nghĩa nữa, là lời đề tựa cho ấn bản năm
    1962, được viết bởi Gordon Allport - một nhà tâm lý học nổi
    tiếng, còn trong lần này, lời đề tựa được viết bởi một giáo sĩ.
    Đây là một quyển sách có bàn về những nội dung rất sâu sắc
    liên quan đến lĩnh vực tôn giáo. Nó thể hiện tư tưởng chủ đạo
    của tác giả là cuộc sống co ý nghĩa và chúng ta phải học cách
    nhìn cuộc sống theo hướng có ý nghĩa bất kể hoàn cảnh nào đi
    nữa. Tác phẩm cũng nhấn mạnh một điều: cuộc sống này có
    một ý nghĩa tối hậu. Và trong bản gốc, trước khi bổ sung phần
    tái bút, Frankl đã kết thúc quyển sách bằng những lời đậm chất
    tôn giáo nhất của thế kỉ hai mươi:

    Chúng ta đã đến chỗ biết được Con người thực sự là gì. Rốt
    cuộc, con người là hữu thể đã tạo ra phòng hơi ngạt ở
    Auschwitz, nhưng cũng là hữu thể hiên ngang bước vào phòng
    hơi ngạt với kinh Lạy Cha hoặc câu kinh Shema Yisrael[4] trên
    môi.
    HAROLD S. KUSHNER[5]

    LỜI GIỚI THIỆU CHO LẦN ẤN BẢN
    NĂM 1992
    Cho đến nay, quyển sách này được phát hành gần 100 lần
    bằng tiếng Anh và đã được xuất bản dưới 21 ngôn ngữ. Chỉ
    riêng các bản tiếng Anh đã được bán hơn 3 triệu bản.
    Những thông số trên hoàn toàn là sự thật, và có lẽ chúng là
    lí do tại sao các phóng viên của nhiều tờ báo ở Mỹ, nhất là các
    đài truyền hình Mỹ thường bắt đầu buổi phỏng vấn, sau khi đã
    liệt kê các con số thực tế, bằng lời ca tụng: “Thưa tiến sĩ
    Frankl, cuốn sách của ông luôn nằm trong danh sách những ấn
    phẩm được đông đảo độc giả đánh giá cao. Ông cảm thấy thế
    nào về thành công này?”. Lúc ấy tôi luôn trả lời rằng trước hết,
    tôi không hề xem tình trạng ăn khách của cuốn sách là một
    thành tựu hay thành công gì về phía bản thân tôi cho bằng đó
    là biểu hiện cho nỗi bất hạnh của thời đại: nếu hàng trăm ngàn
    người tìm kiếm một cuốn sách mà tiêu đề của nó hứa hẹn sẽ
    giải quyết vấn đề về ý nghĩa cuộc sống, thì đây chắc hẳn là
    một vấn đề gai góc với họ.
    Hiển nhiên, ấn tượng của cuốn sách còn nhờ đến những yếu
    tố khác nữa. Phần hai nặng tính lý thuyết hơn, và có thể nói nó
    đã cô đọng thành bài học mà người đọc có thể rút ra từ phần
    đầu cuốn sách, phần tự thuật. Trong khi đó, phần một có tác
    dụng như những bằng chứng xác thực, là cơ sở thực tế cho các
    lý thuyết của tôi. Như vậy, cả hai phần đều giúp cho nhau có
    được tính thuyết phục.
    Vào năm 1945, khi thực hiện tập sách này, trong đầu tôi
    chưa bao giờ có ý niệm rằng mình viết sách để trở thành người
    nổi tiếng hay đạt được thành công gì đó. Trong suốt 9 ngày
    liên tiếp, tôi đã trăn trở rất nhiều trước khi đi đến quyết định
    không tiết lộ tên người viết. Sự thật là, bản in đầu tiên bằng
    tiếng Đức đã không có tên tôi trên trang bìa, mặc dù vào phút
    cuối, trước khi sách được xuất bản, tôi đồng ý để tên mình
    trong trang tiêu đề theo lời khuyên của bạn bè. Trong tôi luôn
    đinh ninh một điều rằng một tác phẩm khuyết danh sẽ không
    thể nào đem lại tên tuổi cho tác giả. Mục đích của tôi đơn

    thuần chỉ là muốn chuyển tải đến độc giả một ví dụ cụ thể, cho
    thấy rằng trong mọi hoàn cảnh, cuộc sống bao giờ cũng chứa
    đựng một ý nghĩa nào đó, cho dù đó là hoàn cảnh khắc nghiệt
    nhất. Và tôi cho rằng nếu một quan điểm được minh họa từ
    những trải nghiệm khắc nghiệt như ở trại tập trung thì cuốn
    sách của tôi sẽ thêm tính thuyết phục. Vì vậy, tôi cảm thấy có
    trách nhiệm viết ra những gì mình đã trải qua, bởi vì tôi nghĩ
    rằng nó có thể giúp được những người đang trên bờ tuyệt
    vọng.
    Và vì thế, điều khiến tôi cảm thấy kì lạ và chú ý là - trong
    số hàng chục cuốn sách mà tôi là tác giả thì chính cuốn này,
    cuốn sách mà tôi có ý định giữ kín tên tuổi lại đạt được thành
    công. Vì vậy, rất nhiều lần, tôi đã răn bảo các học trò của mình
    ở châu Âu và ở Mỹ rằng: “Đừng nhắm vào thành công - vì các
    em càng nhắm vào nó, và muốn đạt tới nó, thì các em càng dễ
    trượt qua nó. Vì thành công, cũng giống như hạnh phúc, không
    thể tìm kiếm mà có; nó phải tự sản sinh ra, và chỉ có thể xuất
    hiện khi một người cống hiến hết mình, hoặc sống vì người
    khác hơn là vì bản thân mình. Hạnh phúc sẽ đến, và thành
    công cũng sẽ xuất hiện: các em phải để nó diễn ra bằng cách
    đừng quan tâm đến nó. Tôi muốn các em lắng nghe những gì
    mà lương tâm các em ra lệnh phải làm và tiếp tục thực hiện hết
    mình. Và các em sẽ thấy rằng về lâu dài - tôi nhấn mạnh là về
    lâu dài - thành công sẽ đến với các em bởi vì các em đã quên
    nghĩ về nó!”.
    Các độc giả có thể thắc mắc tại sao tôi không tìm cách thoát
    ly sau khi Hitler chiếm Áo. Hãy để tôi trả lời bằng cách kể lại
    câu chuyện sau. Ngay trước khi nước Mỹ tham chiến, tôi nhận
    được thư mời đến Lãnh sự quán Mỹ đặt tại Vienna để nhận
    giấy thị thực nhập cảnh đến Mỹ. Cha mẹ tôi rất vui mừng vì
    họ muốn tôi nhanh chóng rời khỏi nước Áo. Thế nhưng tôi
    bỗng nhiên do dự: Liệu tôi có thể để cha mẹ ở lại một mình
    đối mặt với số phận, và chẳng sớm thì muộn, họ cũng sẽ bị
    đưa đến trại tập trung, hoặc thậm chí bị đưa đến trại hủy diệt?
    Lẽ nào tôi là một người vô trách nhiệm? Liệu tôi có nên đi đến
    một vùng đất trù phú, có những điều kiện thuận lợi giúp tôi
    nuôi dưỡng đứa con tinh thần của mình - Liệu pháp ý nghĩa
    (logotherapy)? Hay tôi nên nhận lãnh trách nhiệm của một
    người con hiếu thuận đối với cha mẹ - những người đã không

    tiếc cả mạng sống của mình để bảo vệ tôi? Tôi đã đắn đo, trăn
    trở rất nhiều nhưng vẫn không thể đưa ra quyết định cuối
    cùng. Đây đúng là tình huống khó khăn như khi người ta chỉ
    được ước một lần.
    Chính khi đó, tôi trông thấy một mẩu đá hoa nằm trên mặt
    bàn. Tôi hỏi cha, và ông giải thích rằng ông đã tìm thấy nó tại
    nơi mà những người theo Đảng Xã hội quốc gia đã thiêu cháy
    thánh đường lớn nhất của người Do Thái tại Vienna. Mẩu đá
    cha tôi mang về nhà là một phần của những phiến đá có khắc
    Mười điều răn của Chúa, trong đó có một ký tự tiếng Hebrew
    mạ vàng được khắc trên phiến đá; cha tôi nói rằng ký tự này
    đại diện cho một trong Mười điều răn. Tò mò, tôi hỏi ông:
    “Thưa cha, điều răn đó nói gì ạ?”. Ông trả lời: “Hãy tôn kính
    cha mẹ, để ngươi được sống lâu trên đất”. Vào lúc đó, tôi đã
    quyết định ở lại với cha mẹ của mình trên mảnh đất này, và
    tấm vé thị thực nhập cảnh sang Hoa Kỳ đã không có cơ hội
    được dùng đến.
    VIKTOR E. FRANKL
    Vienna - Áo, 1992

    PHẦN 1
    NHỮNG TRẢI NGHIỆM TRONG TRẠI
    TẬP TRUNG
    Quyển sách này không hướng đến việc thuật lại những sự
    việc, sự kiện lịch sử mà đây là tập sách viết về những trải
    nghiệm của cá nhân tôi, cũng là những trải nghiệm mà hàng
    triệu tù nhân trong trại tập trung của Phát xít Đức đã phải chịu
    đựng trong suốt một khoảng thời gian dài. Đây là câu chuyện
    trong một trại tập trung, được một trong số những người sống
    sót kể lại. Tập sách này không chú trọng những điều ghê rợn
    kinh hoàng, vốn được mô tả khá nhiều (tuy rất ít người tin),
    mà nó viết về những nỗi dày vò nho nhỏ. Nói cách khác, cuốn
    sách sẽ tìm cách trả lời câu hỏi: Các tù nhân nghĩ về cuộc sống
    hàng ngày trong trại tập trung như thế nào?
    Hầu hết các sự kiện được mô tả ở đây không xảy ra tại các
    trại tập trung lớn và nổi tiếng mà ở trong những trại tập trung
    nhỏ, nơi hầu hết các sự cách ly thực sự diễn ra. Câu chuyện
    này không phải nói về nỗi đau và cái chết của những anh hùng
    và liệt sĩ, cũng không nói về các Capo nhiều đặc ân - hay về
    những tù nhân nổi tiếng. Vì vậy, nó không tập trung nhiều vào
    nỗi đau của những con người mạnh mẽ, mà nó tập trung vào
    những hy sinh, sự giày vò và cái chết của số đông những nạn
    nhân vô danh mà không một tài liệu nào ghi nhận. Họ chính là
    những người tù thông thường, những người không có dấu hiệu
    đặc biệt trên tay áo, và bị các Capo coi thường. Trong khi
    những tù nhân bình thường này không đủ ăn hoặc không có gì
    để ăn thì các Capo không bao giờ biết đói; thực ra cuộc sống
    của nhiều Capo trong trại còn tốt hơn cuộc sống bên ngoài của
    họ. Chính họ thường gây khó dễ với tù nhân hơn là các lính
    canh, và cũng chính họ đánh đập các tù nhân tàn bạo hơn lính
    SS (Đội bảo vệ của quan Phát xít). Dĩ nhiên những Capo này
    chỉ được chọn từ những người tù có tính cách phù hợp với yêu
    cầu công việc. Nếu họ không đáp ứng những gì đội ngũ lãnh
    đạo trông chờ thì ngay lập tức họ sẽ bị đào thải. Vì vậy, khi
    được chọn, họ sẽ nhanh chóng trở nên tàn nhẫn giống những

    tên lính SS và các trại trưởng. Càng độc ác và tàn bạo, các
    Capo càng được cấp trên đánh giá cao.
    Những người bên ngoài thường có cái nhìn chưa đúng về
    cuộc sống trong trại - họ thường nhìn nhận về cuộc sống của
    các tù nhân bằng con mắt xót xa, thương cảm. Họ hoàn toàn
    không biết rõ về cuộc đấu tranh sinh tồn vô cùng khắc nghiệt
    giữa các tù nhân. Đây là một cuộc đấu tranh không ngơi nghỉ
    vì miếng ăn hàng ngày, vì sự sống còn, vì lợi ích của bản thân
    hay vì một người bạn tù.
    Hãy lấy trường hợp vận chuyển tù nhân làm một ví dụ.
    Việc vận chuyển thường được thông báo chính thức để đưa
    một số tù nhân đến một trại khác; nhưng không khó để dự
    đoán rằng đích đến của những chuyến đi này có thể là phòng
    hơi ngạt. Một nhóm những tù nhân bị bệnh hoặc không còn
    khả nằng làm việc sẽ được chọn ra để đưa đến một trại tập
    trung lớn hơn, nơi có trang bị phòng hơi ngạt và lò thiêu.
    Thông cáo tuyển chọn là dấu hiệu báo trước sẽ có một cuộc ẩu
    đả hỗn loạn giữa các tù nhân hoặc giữa các nhóm với nhau.
    Điều quan trọng là sau những trận quyết chiến sống còn này,
    tên của một vài tù nhân sẽ được loại ra khỏi danh sách các nạn
    nhân, mặc dù mọi người đều biết rõ rằng với mỗi một người
    được cứu thoát thì sẽ có một nạn nhân khác bị thế vào.
    Có một lượng tù nhân nhất định trên mỗi lượt vận chuyển,
    nhưng ở đây số lượng không phải là vấn đề bởi vì mỗi tù nhân
    chẳng còn lại gì ngoài một con số. Lúc nhập trại, tất cả giấy
    giấy tờ cũng như những vật sở hữu của họ đều đã bị tịch thu (ít
    ra đây là cách thức ở Auschwitz). Vì vậy, mỗi tù nhân có cơ
    hội để nói đại một cái tên hoặc một nghề nghiệp nào đó; và vì
    nhiều lý do nhiều người đã làm thế. Những người phụ trách
    trại chỉ quan tâm đến các số tù. Những con số này thường
    được xăm lên da của tù nhân, khâu lên một nơi nào đó trên
    quần hoặc áo khoác của họ. Bất cứ lính canh nào muốn hoạnh
    họe tù nhân thì chỉ cần liếc nhìn con số ấy (ánh nhìn đó thật
    đáng sợ); hắn chẳng bao giờ cần hỏi tên của người tù ấy làm
    gì.
    Trở về với cuộc vận chuyển, ở đây không có thời gian lẫn
    nhu cầu xem xét các vấn đề về đạo lý. Mỗi người chỉ có một
    suy nghĩ trong đầu: cố gắng sống sót vì gia đình đang chờ

    mình ở nhà, và cứu các bạn mình. Vì vậy, người đó sẽ không
    do dự khi tìm cách dàn xếp cho một tù nhân khác - một “con
    số” khác - thế chỗ cho mình trên chuyến vận chuyển đó.
    Như tôi đã đề cập trước đó, quy trình chọn ra các Capo là
    một quy trình tiêu cực; chỉ những tù nhân hung bạo nhất mới
    được chọn để làm những công việc này (mặc dù cũng có
    những ngoại lệ thú vị). Nhưng ngoài việc tuyển chọn các Capo
    được lực lượng SS tiến hành, còn có một loại quá trình tự
    tuyển chọn luôn diễn ra giữa các tù nhân. Nhìn chung, chỉ còn
    những tù nhân như thế mới có thể sống sót, những người sau
    nhiều năm lê lết từ trại này sang trại khác, đã đánh mất mọi
    cảm thức lương tâm trong cuộc chiến sống còn. Họ sẵn sàng
    sử dụng bất cứ cách thức nào, trung thực hay không, thậm chí
    tàn bạo, trộm cướp và phản bội bạn bè của họ để giữ lại mạng
    sống cho mình. Những người được trở về nhờ vào sự may mắn
    hoặc một phép màu nào đó hay vì lý do gì đi nữa như chúng
    tôi đều biết rằng: những điều tốt đẹp nhất trong chúng tôi đã
    không bao giờ trở lại. Đã có nhiều trình thuật về những dữ
    kiện xảy ra trong các trại tập trung. Ở đây, các sự việc chỉ có ý
    nghĩa nếu chúng là một phần trải nghiệm của con người. Khảo
    luận sau đây sẽ cố gắng miêu tả bản chất đích thực của các trải
    nghiệm ấy. Đối với những bạn tù của tôi, tôi sẽ cố gắng khắc
    họa những trải nghiệm của họ theo cách hiểu hiện nay. Và với
    những người chưa từng ở trại, những miêu tả của tôi có thể
    giúp họ hiểu và hiểu rõ hơn những trải nghiệm của rất ít tù
    nhân sống sót và đang gặp khó khăn với cuộc sống hiện tại.
    Thông thường, họ không muốn nói về những trải nghiệm ấy.
    Họ không cần một lời giải thích nào, cũng như những người
    khác sẽ không thể hiểu được cảm nhận của họ khi ấy cũng như
    bây giờ.
    Tôi đã nỗ lực trình bày một cách hệ thống về chủ đề này,
    nhưng thật sự đây là một việc rất khó, bởi vì tâm lý học cần sự
    nhận xét khách quan, khoa học. Liệu những quan sát, nghiên
    cứu từ một tù nhân có đủ sự khách quan cần thiết hay không?
    Những người ở ngoài trại tất nhiên sẽ có cái nhìn khách quan
    hơn, nhưng họ lại không có đủ trải nghiệm thực tế để có thể
    đưa ra nhận định về chân giá trị từ cuộc sống của những con
    người từng phải chịu đựng bao đau đớn cùng cực. Chỉ có
    người trong trại mới hiểu được. Trong tác phẩm của mình, tôi

    cố gắng không áp đặt bất kỳ ý niệm chủ quan nào, và đó là
    điều thực sự khó khăn đối với một cuốn sách như thế này. Để
    nói lên những trải nghiệm rất riêng của bản thân đôi khi cần
    phải có dũng khí. Tôi đã định viết cuốn sách này mà không
    công bố tên tác giả, chỉ sử dụng số hiệu trong tù của mình.
    Nhưng khi bản thảo hoàn thành, tôi nhận thấy rằng, khi công
    bố sách mà giấu tên người viết thì cuốn sách sẽ bị giảm phân
    nửa giá trị. Tôi cần phải chịu trách nhiệm với đứa con tinh
    thần của mình, và trước hiện thực lịch sử. Tôi có thể khẳng
    định tôi là người không hề thích phô bày sự việc, song trong
    quá trình thực hiện tập sách này, tôi giữ quan điểm trung thành
    với hiện thực lịch sử, không cắt xén cũng không thêu dệt.
    Tôi sẽ nhường phần phán xét cho các bạn - những độc giả
    đáng mến. Các bạn có thể tự rút ra những luận điểm lý thuyết
    khô khan sau khi tìm hiểu nội dung của cuốn sách. Những luận
    điểm này có thể góp phần vào việc nghiên cứu tâm lý của
    người tù, được tiến hành từ sau Thế chiến thứ nhất; những
    luận điểm này cũng không xa lạ với chúng tôi qua “hội chứng
    dây kẽm gai”. Nhìn từ góc độ tích cực, Thế chiến thứ hai đã
    giúp giới nghiên cứu chúng tôi bổ sung thêm kiến thức về
    “tâm lý học đại chúng” (xin phép được trích dẫn thuật ngữ khá
    nổi tiếng và cũng là tựa đề một cuốn sách của LeBon). Cuộc
    chiến ngoài đời cũng đã đem lại cho chúng tôi cả trại tập trung
    lẫn cuộc chiến của các sợi thần kinh.
    Mục đích tôi viết tập sách này là muốn nói lên những trải
    nghiệm của tôi với tư cách là một tù nhân bình thường. Tôi có
    thể tự hào khi tuyên bố rằng tôi không được tuyển vào trại với
    tư cách của một chuyên gia tâm thần hay như một bác sĩ, ngoại
    trừ những tuần cuối trong trại. Một số đồng nghiệp của tôi khá
    may mắn khi được chọn vào làm việc trong các trạm sơ cứu
    nóng bức, thiếu thốn, sử dụng các miếng băng gạc đượng làm
    từ đống giấy thải. 119.104 là số hiệu của tôi trong trại, công
    việc của tôi gắn liền với chiếc xẻng đào đất và dụng cụ lắp ráp
    các thanh sắt trên đường ray xe lửa. Có lần, tôi được phân
    công đào hầm một mình để tạo đường nước ngầm bên dưới
    con đường và tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Với thành tích này,
    chỉ ngay trước lễ Giáng sinh năm 1944, tôi đã được tưởng
    thưởng một món quà mà mọi người thường gọi là “phiếu ưu
    đãi”. Những phiếu này do một công ty xây dựng phát hành,

    chúng tôi buộc phải làm việc cho công ty này như những nô lệ.
    Tiền công mỗi ngày của mỗi tù nhân sẽ được trả cho các trại
    trưởng, có khi được thanh toán dưới dạng những tấm phiếu ưu
    đãi. Mỗi tấm phiếu này có giá trị tương đương với 50 xu Đức
    thời đó và có thể dùng để đổi lấy sáu điều thuốc, nhưng
    thường là sau nhiều tuần lao động cực nhọc những tấm phiếu
    này mới đến tay chúng tôi, và đôi khi chúng không còn hiệu
    lực nữa. Tôi tự hào trở thành người sở hữu những tấm phiếu
    có giá trị tương đương 12 điếu thuốc. Nhưng quan trọng hơn là
    những điếu thuốc có thể đổi được 12 phần xúp, và 12 phần
    xúp thực sự giúp tôi chống chọi với cơn đói.
    Thực ra, đặc quyền hút thuốc được dành cho các Capo những người có được mức phiếu tiêu chuẩn mỗi tuần; hoặc có
    thể dành cho một tù nhân làm quản đốc trong nhà kho hoặc
    phân xưởng, được nhận một số điếu thuốc để làm những công
    việc nguy hiểm. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là dành cho
    những người đã mất đi ý chí sinh tồn và muốn “tận hưởng”
    những ngày cuối cùng. Vì vậy, khi chúng tôi nhìn thấy một
    người đang được bao quanh bởi làn khói thuốc mờ đục như
    chìm trong cõi vô thức thì chúng tôi biết rằng anh ấy đã từ bỏ
    niềm tin, và một khi niềm tin ấy đã mất đi thì lòng ham sống
    cũng không còn nữa.
    Khi kiểm tra vô số tài liệu được tích lũy từ nhiều quan sát
    và trải nghiệm của các tù nhân, ta sẽ thấy rõ ba giai đoạn phản
    ứng tinh thần của người tù đối với cuộc sống trong trại: giai
    đoạn đầu sau khi nhập trại; giai đoạn khi đã quen với cuộc
    sống trong trại; và giai đoạn sau khi được thả tự do.
    Triệu chứng đặc trưng cho giai đoạn đầu là việc bị sốc.
    Trong một số hoàn cảnh nhất định, cú sốc diễn ra trước cả khi
    các tù nhân nhập trại. Tôi sẽ đưa ra ví dụ về việc nhập trại của
    tôi:
    Một nghìn năm trăm người được vận chuyển bằng xe lửa
    trong nhiều ngày đêm: có tám mươi người ở mỗi toa xe. Tất cả
    đều phải ngồi lên hành lý của mình - đây là số tài sản cá nhân
    ít ỏi còn sót lại. Các toa xe chật đến nỗi ánh bình minh xám xịt
    chỉ có thể xuyên vào khe hở ở phía trên cửa sổ. Mọi người đều
    mong muốn chuyến xe sẽ đưa họ đến một nhà máy sản xuất vũ
    khí - nơi họ sẽ được làm việc như những lao động bắt buộc.

    Chúng tôi không biết mình còn đang ở Silessia hay đã đến Ba
    Lan rồi. Tiếng rít của động cơ thật quái đản, giống như một
    tiếng cầu cứu được gửi ra từ chuyến đi bất hạnh đang hướng
    đến đại ngục. Chiếc xe đột nhiên chuyển hướng, rõ ràng nó
    đang tới gần trạm. Thình lình, một tiếng khóc bật lên từ giữa
    những con người đang lo lắng: “Có bảng hiệu kìa,
    Auschwitz!”. Tim tất cả mọi người như ngừng đập vào lúc ấy.
    Auschwitz - một cái tên gợi lên tất cả những gì khủng khiếp
    nhất: phòng hơi ngạt, lò thiêu, sự chết chóc. Chiếc xe ì ạch
    trên đường như thể nó muốn cho hành khách của mình tránh
    được càng lâu càng tốt cái thực tại đáng sợ đang ùa đến:
    Auschwitz!
    Bóng đêm dần khuất dạng, những đường nét của một trại
    giam khổng lồ dần hiện ra: hàng rào kẽm gai lưới điện; những
    tháp canh; những chiếc đèn pha; và hàng dãy những người ăn
    mặc rách rưới lờ mờ hiện lên trong buổi hừng đông u ám, lê
    bước trên những con đường hoang phế đến một nơi mà chúng
    tôi không hề biết. Có những tiếng la hét và tiếng còi ra lệnh.
    Chúng tôi không hiểu gì cả. Trí tưởng tượng của tôi hình dung
    ra chiếc giá treo cổ với những xác người đang giãy giụa. Tôi
    khiếp sợ, nhưng cũng chẳng sao, bởi vì từ từ rồi chúng tôi
    cũng phải quen với cảnh khiếp sợ và ghê rợn ấy thôi.
    Cuối cùng, chúng tôi tiến vào trạm. Không gian yên ắng
    trước đó đã bị phá vỡ bởi nhiều tiếng quát tháo ra lệnh. Kể từ
    đây, chúng tôi sẽ phải nghe những âm thanh khản đục, gào thét
    không ngừng vọng ra từ tất cả các trại. Những âm thanh này
    nghe như tiếng thét cuối cùng của nạn nhân, nhưng có phần
    còn thảm thiết hơn thế nữa. Nó là âm thanh gay gắt, khản đục,
    như thể được phát ra từ cổ họng của một người cứ phải rên
    thét mãi, một người đã bị tra tấn, hành hạ đến mức chết đi
    sống lại không biết đã bao nhiêu lần. Cửa mở, một số tù nhân
    bên trong trại ùa đến. Họ mặc những bộ đồng phục có sọc vằn,
    đầu cạo trọc, nhưng trông họ khá khỏe mạnh. Các tù nhân ở
    đây đến từ các quốc gia châu Âu khác nhau, có người chỉ biết
    tiếng mẹ để của mình, vì thế họ cố gắng trao đổi với nhau
    bằng ngôn ngữ riêng của mình. Trong hoàn cảnh cận kề cái
    chết này, những giọng nói đa quốc gia ấy khiến tôi cảm thấy
    tức cười, thậm chí kỳ quái. Giống như người chết đuối nắm
    được một khúc cây, tính lạc quan bẩm sinh của tôi (thật may

    mắn là trong những tình huống tuyệt vọng nhất, phẩm chất này
    trong tôi thường xuất hiện) đưa tôi đến suy nghĩ: Những tù
    nhân này trông hoàn toàn khỏe mạnh, họ có vẻ khá thoải mái
    và thậm chí còn cười đùa được. Biết đâu mình cũng sẽ được
    như họ.
    Trong tâm lý học, đây là một trạng thái được gọi là chứng
    “ảo tưởng miễn tội”. Người bị kết án, trước khi bị hành quyết,
    có ảo tưởng rằng mình sẽ được ân xá vào phút cuối. Chúng tôi
    cũng cố bám víu vào tia hy vọng ấy và tin rằng sự việc cũng sẽ
    không đến nỗi quá tệ. Việc nhìn thấy đôi má hồng hào, khuôn
    mặt đầy đặn của những tù nhân này là khích lệ đáng kể đối với
    chúng tôi. Sau này chúng tôi mới biết chút ít rằng họ là những
    người được chọn để thành lập một đội đặc biệt, trong nhiều
    năm chuyên tiếp nhận các tù nhân mới được chuyển vào trại
    mỗi ngày với số lượng và tần suất càng tăng. Những người
    thuộc đội kiểm tra này chịu trách nhiệm lục soát những người
    mới đến bao gồm cả hành lý, vật dụng quý giá và nữ trang mà
    những người bị bắt đã lén mang theo. Như vậy, những đồ vật
    độc đáo bằng vàng, bạc, bạch kim và kim cương không chỉ
    nằm trong những kho lưu trữ chiến lợi phẩm của Đức quốc xã
    mà còn ở trong tay của lính SS.
    Một ngàn rưỡi người bị giam trong một khu được xây dựng
    có sức chứa tối đa khoảng hai trăm người. Chúng tôi lạnh và
    đói. Không đủ chỗ cho mỗi người ngồi trên nền đất trống, nói
    chi chỗ đề ngả lưng. Khẩu phần ăn của chúng tôi trong suốt
    bốn ngày chỉ là một mẩu bánh mì ít ỏi. Rồi tôi nghe các tù
    nhân lâu năm đảm trách việc trông coi trại mặc cả với một
    người trong nhóm tiếp nhận về một cái kẹp cà vạt bằng bạch
    kim đính kim cương. Đến cả những chiến lợi phẩm cuối cùng
    họ chia nhau cũng được dùng để đổi lấy rượu - rượu sơ-náp[6].
    Tôi không nhớ rõ cần bao nhiêu ngàn mác Đức để đổi lấy
    lượng rượu sơ-náp đủ cho một “tối vui vẻ” nữa, nhưng tôi biết
    rõ rằng các tù nhân lâu năm đó cần rượu sơ-nap. Trong những
    hoàn cảnh như thế này, ai có thể trách họ về việc say sưa chứ?
    Có một nhóm tù nhân khác được lính SS cung cấp rượu không
    hạn chế: họ là những người được tuyển dụng làm việc trong
    các phòng hơi ngạt và lò thiêu. Họ biết rõ một ngày nào đó họ
    sẽ bị thay thế bởi một nhóm khác và phải rời bỏ vai trò kẻ
    hành quyết miễn cưỡng để chính họ trở thành nạn nhân.

    Hầu như mọi người đi cùng tôi trong chuyến xe tử thần ấy
    đều sống trong ảo tưởng rằng họ sẽ được ân xá, rằng mọi
    chuyện rồi sẽ tốt đẹp. Chúng tôi đã không nhận thấy sự thật
    trần trụi đằng sau những cảnh tượng nối tiếp ngay sau đó.
    Chúng tôi bị yêu cầu để lại hành lý trong xe và bước xuống
    xếp thành hai hàng - phụ nữ một bên, đàn ông một bên - để
    một tên lính SS cấp cao kiểm tra chúng tôi. Giờ đây nghĩ lại,
    tôi vẫn ngạc nhiên vì khi đó tôi đã có đủ can đảm để giấu chiếc
    ba lô vào bên trong chiếc áo khoác. Từng người một trong
    hàng bị lục soát. Thật nguy hiểm nếu một lính SS nào đó phát
    hiện chiếc ba lô của tôi. Kinh nghiệm cho tôi biết, nếu bị lộ, ít
    nhất tôi sẽ bị đánh tơi tả. Theo bản năng, tôi thẳng người tiến
    đến chỗ tên lính chịu trách nhiệm kiểm soát tù nhân để hắn
    không chú ý đến dáng vẻ nặng nhọc do chiếc ba lô của tôi gây
    ra. Rồi tôi cũng đối mặt với hắn. Hắn có dáng người cao ốm,
    vừa vặn trong bộ đồng phục mới nguyên. Bộ dạng của hắn
    hoàn toàn trái ngược với chúng tôi - những kẻ ăn mặc xốc
    xếch và dơ dáy sau chuyến đi dài! Với vẻ mặt hoàn toàn lãnh
    đạm, tay trái đỡ lấy khuỷu tay phải, hắn thờ ơ chỉ ngón trỏ vào
    phía bên trái hoặc bên phải, nhưng đa phần hắn thường chỉ về
    bên trái. Không một ai trong chúng tôi khi ấy hiểu được ý
    nghĩa tai họa đằng sau cái chỉ tay của tên lính.
    Rồi cũng đến lượt tôi. Có người nói thầm với tôi rằng phía
    bên phải là cho những người sẽ được làm việc, còn phía bên
    trái là cho những người bệnh và những người không có khả
    năng lao động - những người này sẽ được đưa đến những khu
    trại đặc biệt. Tôi chỉ biết để mọi việc tự diễn ra, và rồi sự việc
    đầu tiên cũng đến. Chiếc ba lô nặng làm tôi hơi nghiêng về
    bên trái, nhưng tôi cố gắng đứng thẳng người. Tên lính SS
    nhìn tôi một lượt, có vẻ như hắn hơi ngập ngừng trước khi đặt
    hai tay lên vai tôi. Tôi gồng hết sức để tỏ ra nhanh nhẹn, hắn
    chầm chậm xoay ...
     
    Gửi ý kiến

    vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam