LỜI CHÚC

BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT WEBSITE

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1

    Dinh dưỡng và sức khoẻ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 07h:52' 05-03-2024
    Dung lượng: 453.6 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    THÔNG TIN EBOOK
    Tên sách: Viêm gan - Biết để sống tốt hơn
    Tác giả: Nguyễn Minh Tiến
    Thể loại:Health
    Năm xuất bản: 2010
    Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
    Ngày hoàn thành: 25-04-2012
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Lời nói đầu
    Gan là một trong những cơ quan rất quan trọng của cơ thể nhưng cũng rất
    thường bị lãng quên. Trừ khi chúng ta đã có một vấn đề nào đó với các chức
    năng của gan, bằng không thì chúng ta rất ít khi quan tâm đến những công
    việc mà cơ quan này vẫn âm thầm thực hiện.
    Các tế bào gan kiên trì hoạt động một cách lặng lẽ để đảm bảo sức khỏe bình
    thường cho chúng ta. Thật khó mà có thể đưa ra một sự so sánh tầm quan
    trọng của gan với các cơ quan “nổi tiếng” khác như tim, phổi..... Nhưng nếu
    có thể dành một chút thời gian để tìm hiểu về những chức năng của gan, có
    lẽ nhiều người sẽ rất lấy làm ngạc nhiên.
    Gan giúp cho cơ thể lọc sạch các độc tố trong máu và vì thế giúp vào việc
    nuôi dưỡng các tế bào của cơ thể. Gan kiểm soát tất cả những dưỡng chất
    được thu nạp từ hệ tiêu hoá trước khi cho phép cơ thể sử dụng. Gan làm
    nhiệm vụ chế biến, tích luỹ và điều hoà việc cung cấp năng lượng cho cơ thể
    vào những lúc thiếu hụt. Gan giúp cân bằng hàm lượng các chất đường, mỡ,
    cholesterol và nhiều loại protein khác nhau. Gan cũng giúp vào việc bài tiết
    độc tố trong cơ thể qua các đường tiểu và đại tiện. Gan còn góp phần quan
    trọng trong việc lưu thông các tế bào máu, ngăn ngừa sự tích luỹ của các
    phân tử lạ để tránh gây ra bệnh thủng nước (edema). Ngoài các chức năng
    đó, gan còn tác động hỗ tương với nhiều cơ quan khác trong việc giữ cho cơ
    thể được ở trong điều kiện sức khoẻ tốt nhất. Theo sự hiểu biết của y học
    hiện nay, gan đảm nhận hơn 500 chức năng khác nhau. Quả là một vai trò
    đáng kinh ngạc!
    Điều đáng chú ý là, những thương tổn của gan thường rất khó nhận biết,
    thường âm ỉ kéo dài rất lâu trước khi bộc phát. Vấn đề là do nơi việc gan có
    khả năng tự chữa lành những thương tổn của nó trong nhiều trường hợp mà
    không cần đến sự can thiệp nào khác từ bên ngoài, và thường là vẫn hoạt
    động rất bình thường ngay cả khi đã bị thương tổn, nên có rất ít những dấu
    hiệu cảnh báo để nhận ra. Mặc dù vậy, với một số nguyên nhân gây thương
    tổn như bị tấn công bởi siêu vi, vi trùng, ký sinh trùng, độc tố đặc biệt... gan
    có thể bị hủy hoại một cách nhanh chóng nếu không được can thiệp, điều trị
    thích hợp và kịp thời.
    Vì thế, sự hiểu biết về gan và các bệnh của gan là tối cần thiết, giúp chúng ta
    có thể phát hiện và xử lý kịp thời những vấn đề về gan, tránh được rất nhiều
    hậu quả nghiêm trọng về sau. Trong hầu hết các bệnh về gan, nguyên nhân
    chính dẫn đến hậu quả nghiêm trọng thường vẫn là do sự phát hiện muộn

    màng.
    Do nơi vai trò hết sức quan trọng của gan, nên bệnh viêm gan từ lâu đã trở
    thành một mối đe doạ khủng khiếp cho nhiều người. Một khi gan đã bị
    thương tổn không hồi phục, mạng sống của cơ thể xem như bị đe doạ
    nghiêm trọng.
    Ngày nay, chúng ta hiểu biết về gan khá nhiều hơn so với trước đây. Chính
    nhờ đó, y học có thể can thiệp tích cực hơn đối với các bệnh của gan. Những
    phương pháp mới giúp người ta xác định được bệnh trạng một cách nhanh
    chóng và chính xác hơn, cũng như điều trị nhanh chóng và hiệu quả hơn.
    Tuy nhiên, do những người bệnh thường không có được những hiểu biết tối
    thiểu cần thiết, nên thường vô tình làm cho bệnh phát triển nhanh chóng hơn,
    hoặc lây lan căn bệnh quái ác này sang những người thân chung quanh mình.
    Trước thực trạng đó, các chứng bệnh viêm gan do các loại siêu vi khác nhau
    gây ra vẫn tiếp tục là mối đe doạ cho rất nhiều người.
    Nói tóm lại, những hiểu biết về gan và các bệnh của gan là rất cần thiết cho
    tất cả mọi người. Nếu bản thân mỗi người không có đủ kiến thức để đề
    phòng và chủ động trong việc ngăn ngừa và phát hiện bệnh, thì khả năng nhờ
    cậy vào các bác sĩ để biết được điều này hiện nay là rất thấp, bởi vì các triệu
    chứng lâm sàng của bệnh gan thường là rất mờ nhạt, không đáng kể mấy.
    Một khi chúng ta nhận ra các triệu chứng rõ ràng thì sự việc thường là đã quá
    muộn màng...
    Với những suy nghĩ đó, chúng tôi đã không ngại sự hiểu biết kém cỏi của
    mình, cố gắng biên soạn tập sách nhỏ này từ nhiều nguồn tư liệu tổng hợp
    được trên các sách báo y học nước ngoài hiện đang lưu hành, nhằm cung cấp
    cho những ai quan tâm có thể có được những thông tin tối thiểu, những hiểu
    biết cơ bản nhất về gan và các chứng viêm gan.
    Vì thế, tập sách không nhằm mục đích đi sâu vào nghiên cứu hoặc phân tích
    vấn đề từ góc độ chuyên môn, mà sẽ trình bày các kiến thức đơn giản nhưng
    cần thiết theo cách giản dị và dễ hiểu nhất.
    Mong muốn của chúng tôi không nhằm đến việc thông qua tập sách này giúp
    mọi người có thể điều trị được bệnh viêm gan không cần bác sĩ, mà chỉ đơn
    giản là giúp mọi người hiểu biết tốt hơn để có thể bảo vệ cho cơ thể của
    chính mình, phát hiện kịp thời các chứng viêm gan, cũng như nếu không
    may đã mắc phải các vấn đề về gan thì có thể “biết để sống tốt hơn”.
    Trên tinh thần đó, chúng tôi mong mỏi được đón nhận những lời chỉ giáo từ

    mọi phía, để nội dung tập sách sẽ hoàn thiện hơn và có thể loại bỏ được
    những sai sót chắc chắn không sao tránh khỏi trong lần xuất bản này.
    NGUYỄN MINH TIẾN

    CHƯƠNG I: NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ
    GAN
    I. Cấu trúc và hoạt động của gan
    Không biết người xưa có thể nào đã có được những kiến thức y học như
    chúng ta ngày nay hay không, nhưng thật lạ là cụm từ “to gan” được dùng từ
    xưa đến nay là vô cùng chính xác, bởi gan của chúng ta quả là... rất to!
    Trong các cơ quan nội tạng, gan có khối lượng lớn nhất, vượt cả tim, phổi,
    thận..., với khối lượng trung bình từ 1.100 gram cho đến 1.800 gram và có bề
    dày trung bình khoảng 15 cm – tất nhiên là có những người... to gan hơn
    người khác. Nhưng nói chung thì gan phái yếu nhỏ hơn gan nam giới – đó là
    nói về khối lượng, còn hiểu theo nghĩa khác thì đàn bà ngày nay cũng nhiều
    người .. to gan lắm, như bà thủ tướng Anh trước đây chẳng hạn!
    Đặc điểm nổi bật của gan là khả năng tự tái tạo, phát triển các tế bào của
    chính mình trong trường hợp bị phá huỷ bởi các thương tổn tạm thời hoặc
    bệnh tật. Tuy nhiên, nếu những thương tổn này liên tục kéo dài, gan có thể sẽ
    không hồi phục lại chức năng của mình như trước được.
    Lá gan con người – nếu có thể gọi như thế – có màu nâu đỏ sậm, nằm ở phần
    trên của bụng, về phía bên phải, ngay bên dưới cơ hoành hay còn gọi là
    hoành cách mô (diaphragm), tức là phần ngăn cách giữa phổi và các cơ quan
    dưới bụng. Những xương sườn bên dưới cùng che chở, bảo vệ cho gan, nhờ
    đó mà những chấn thương từ bên ngoài có thể được hạn chế không làm hại
    đến gan.
    Mặc dù các chức năng của gan là vô cùng phức tạp và đa dạng, nhưng cấu
    trúc của gan lại khá đơn giản. Gan được phân chia thành 2 thùy (lobe), thùy
    phải và thùy trái, với khoảng giữa của hai thuỳ nằm hơi chồng mí lên nhau.
    Sự phân chia này dựa theo vị trí của dây chằng liềm (falciform ligament) nối
    liền gan với cơ hoành và thành bụng trước. Một số người cho rằng sự phân
    chia như thế không hoàn toàn tương ứng với cơ cấu của gan, nên cũng đã có
    hướng phân chia gan thành 8 phần nhỏ (segment) dựa vào sự phân phối của
    các mạch máu trong gan. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chấp nhận cách phân
    chia theo truyền thống.
    Mỗi thuỳ của gan lại phân ra hàng ngàn đơn vị cấu trúc rất nhỏ, mỗi đơn vị
    có hình lục giác, rất nhỏ. Tuy rất nhỏ, nhưng mỗi một đơn vị cấu trúc ấy đều

    có một tĩnh mạch cực nhỏ chạy xuyên qua giữa tâm và cuối cùng tập trung
    cả về tĩnh mạch gan, là tĩnh mạch đưa máu ra khỏi gan về tim. Vây quanh
    tĩnh mạch cực nhỏ ở giữa của mỗi đơn vị cấu trúc là hàng trăm tế bào hình
    khối, được gọi là hepatocyte. Bên ngoài bề mặt của mỗi đơn vị cấu trúc là
    những tĩnh mạch, động mạch nhỏ và các ống dẫn đưa các chất lỏng đến và
    đi. Khi gan hoạt động, các chất dinh dưỡng được thu nạp, các chất thừa bị
    thải bỏ, và những chế phẩm của gan được đưa vào cơ thể qua các ống dẫn
    này.
    Mạng lưới các “ống dẫn” chuyển tải qua gan mỗi một phút khoảng chừng
    1,4 lít máu. Chúng ta có thể hình dung được, như vậy cứ mỗi một ngày đêm
    gan đã phải xử lý trung bình là 2.000 lít máu! Lượng máu này sau khi đi qua
    gan cuối cùng được chuyển trở về tim để từ đó được phân phối đi cho các bộ
    phận khác trong cơ thể.
    Khác hẳn với tất cả những cơ quan khác, gan là cơ quan duy nhất trong cơ
    thể nhận đến hai nguồn cung cấp máu. Động mạch gan cung cấp từ 25 đến
    30% lượng máu giàu oxy cho gan, là nguồn nuôi sống các tế bào của cơ
    quan này. Khoảng 70 đến 75% lượng máu còn lại mà gan nhận được là qua
    tĩnh mạch cửa của gan. Lượng máu này được đưa đến từ cơ quan tiêu hoá
    như bao tử, lá lách, tụy tạng, túi mật, ruột non, ruột già..... đã hoà tan và
    mang các chất dinh dưỡng đến gan để được tiếp tục chế biến thêm hoặc dự
    trữ lại. Như vậy, gan là cơ quan đầu tiên trong cơ thể nhận được các dưỡng
    chất từ các cơ quan tiêu hoá, để làm nhiệm vụ kiểm soát, thanh lọc và chế
    biến trước khi đưa ra cung cấp cho tất cả các cơ quan khác trong toàn cơ thể.
    Đây cũng là nguyên nhân chính khiến cho ung thư từ nhiều bộ phận khác của
    cơ thể dễ dàng lan đến gan.
    Gan được bọc quanh bởi một phần vỏ ngoài có rất nhiều dây thần kinh. Lớp
    vỏ bọc này được gọi tên là Gibson. Tuy nhiên, các tế bào bên trong của gan
    lại hoàn toàn không có các dây thần kinh cảm giác. Vì vậy, khi gan bị tổn
    thương chúng ta không có cảm giác đau đớn gì cả. Chỉ trong trường hợp nào
    gan bị sưng phồng lớn lên, làm cho lớp vỏ bọc Gibson bị kéo căng ra, chúng
    ta mới cảm thấy những cơn đau tức hoặc khó chịu ở vị trí của gan. Điều này
    xảy ra trong một số trường hợp viêm gan cấp tính hoặc khi lá gan sưng lớn
    vì bị suy tim phải.
    II. Chức năng của gan
    Một cách tổng quát, gan đóng nhiều vai trò cực kỳ quan trọng để duy trì điều
    kiện sức khỏe của cơ thể, với hơn 500 chức năng khác nhau theo như sự hiểu

    biết hiện nay của y học. Trong số này, các chức năng nổi bật nhất là giúp cơ
    thể tiêu hoá được các dạng mỡ, lọc sạch độc tố và những chất thừa ra khỏi
    máu, tích luỹ năng lượng cho cơ thể dưới nhiều hình thức khác nhau để sử
    dụng vào những lúc nguồn năng lượng đưa vào từ bên ngoài bị gián đoạn...
    Gan còn là cơ quan chính thực hiện việc tổng hợp rất nhiều loại protein khác
    nhau, cũng như mật, acid béo... Gan cũng làm công việc điều hoà, cân bằng
    ở mức độ thích hợp nhiều chất khác nhau trong máu. Dưới đây chúng ta sẽ
    lần lượt tìm hiểu qua một số chức năng chính của gan.
    1. Tích cốc phòng cơ
    Một trong những chức năng chính của gan là dự trữ năng lượng để dùng vào
    những lúc thiếu hụt, dưới hình thức glycogen, một chất được tạo thành từ
    đường glucose. Khi lượng đường glucose trong máu lên cao hơn mức cho
    phép, gan sẽ tự động chuyển hoá số đường dư thừa này thành glycogen, một
    hình thức có thể dự trữ được. Khi lượng đường glucose trong máu xuống
    thấp hơn mức cần thiết, gan thực hiện quá trình ngược lại, chuyển glycogen
    thành đường glucose và đưa trở lại vào trong máu.
    Chúng ta đều biết đường là nguồn năng lượng chính cho bộ óc, hồng huyết
    cầu, bắp thịt và thận. Khi thức ăn không cung cấp đủ lượng đường tối thiểu
    cho hoạt động tồn tại của cơ thể, nguồn cung cấp đường sẽ hoàn toàn phụ
    thuộc vào gan. Trong giai đoạn thiếu hụt này, gan là cơ quan chính cung cấp
    chất đường cho cơ thể, nhất là cho bộ não. Vì thế, nếu như gan bị chai – do
    quá trình bệnh lý mà chúng ta sẽ xem xét ở các chương sau – khả năng điều
    hoà, dự trữ và cung cấp chất đường bị rối loạn, sẽ dẫn đến sự thay đổi bất
    thường của hàm lượng đường trong máu.
    Gan cũng làm nhiệm vụ tích luỹ các dạng sinh tố (vitamin) cần thiết cho cơ
    thể. Khi nhận được nguồn máu có hoà tan dinh dưỡng từ các cơ quan tiêu
    hoá, gan thu nhận và tích luỹ lại các sinh tố A, D, E và K như nguồn dự trữ
    để dùng trong những khi nguồn cung cấp bị thiếu hụt. Sinh tố B cũng được
    tích luỹ, kể cả một nguồn dự trữ sinh tố B12 đủ dùng cho cơ thể từ 2 đến 4
    năm.
    2. Chuyển hoá các chất béo
    Một trong các điểm chung thường thấy ở những người đau gan là sợ chất
    béo. Điều này rất dễ hiểu, bởi vì gan là cơ quan đóng vai trò quan trọng
    trong việc giúp cơ thể tiêu hoá được các dạng chất béo.

    Acid béo là một trong những nguồn năng lượng quan trọng nhất được dự trữ
    trong cơ thể chúng ta và cũng là thành phần cơ bản của cho nhiều loại lipid
    quan trọng, kể cả trigliceride. Gan đóng một vai trò quan trọng trong việc
    hấp thụ và chế biến mỡ và cholesterol trong thức ăn thành các dạng đạm béo
    (lipoprotein) dễ tiêu hơn. Các dạng lipoprotein này không những chỉ là
    những nguồn năng lượng dự trữ quý giá để dùng khi thiếu hụt, mà còn là
    những thành phần cơ bản của nhiều chất hóa học và kích thích tố khác nhau.
    Để tiêu hoá, hay nói dễ hiểu hơn là để có thể hoà tan được nhiều dạng chất
    béo, gan có nhiệm vụ điều chế ra một loại dịch tiêu hoá là mật (bile), có màu
    nâu hơi vàng và có chứa những loại muối cần thiết để có thể làm tan các loại
    mỡ. Các loại muối này được tạo ra ngay trong các đơn vị cấu trúc của gan,
    sau đó kết hợp thành mật và được chuyển ra khỏi gan để đưa đến tích tụ
    trong túi mật (gallbladder), và từ đây sẽ được tiết dần dần vào ruột non
    (small intestine) để tham gia quá trình tiêu hoá, làm tan các chất mỡ vốn
    rất... khó tiêu.
    3. Tổng hợp và phân hoá
    Gan cũng hoạt động như một nhà máy hoá chất của cơ thể. Nhiều dạng chất
    đạm (protein) quan trọng khác nhau hiện diện trong máu đã được tạo ra bởi
    gan. Khi gan suy yếu, những chất đạm do gan tạo ra bị giảm đi cũng dẫn đến
    các vết thương trên bề mặt cơ thể trở nên dễ nhiễm trùng và khó hồi phục
    hơn.
    Mỗi ngày gan bào chế khoảng 12g chất albumin, một trong những chất đạm
    quan trọng nhất của cơ thể. Chính albumin giúp duy trì lượng calcium và
    nhiều chất quan trọng khác trong máu. Albumin cũng giúp điều hoà lượng
    nước từ trong máu được đưa vào các cơ bắp trong cơ thể. Vì thế, khi chức
    năng của gan bị suy giảm làm cho lượng albumin bị giảm sút sẽ dễ gây ra
    bệnh phù thủng, hay còn gọi là thủng nước (edema).
    Gan cũng giữ nhiệm vụ tạo ra globin, một trong hai yếu tố tạo thành huyết
    cầu tố (hemoglobin) – thành phần mang dưỡng khí (oxygen) trong các tế bào
    máu đỏ.
    Một nhóm chất đạm gọi là globulin có chứa các kháng thể (antibody), cũng
    được tạo ra từ gan, cùng với nhiều chất đạm khác là những yếu tố tạo thành
    một phần trong hệ thống miễn nhiễm của cơ thể, kết hợp với các kháng thể
    để chống lại những yếu tố có hại cho cơ thể xâm nhập từ bên ngoài vào.

    Ngoài ra gan cũng tổng hợp được nhiều chất quan trọng khác nữa, trong đó
    có cả fibrinogen và prothrombin là hai yếu tố quan trọng góp phần vào việc
    tạo ra hiện tượng đông máu của cơ thể. Hiện tượng đông máu là một phản
    ứng tích cực giúp hạn chế sự chảy máu ở các vết thương. Vì thế, suy yếu
    chức năng của gan cũng dẫn đến chậm đông máu, và người bệnh dễ dàng bị
    mất nhiều máu ngay cả khi vết thương không nghiêm trọng lắm.
    4. Loại trừ độc tố
    Các chất độc được đưa vào cơ thể có thể phân thành hai nhóm: nhóm dễ hoà
    tan trong nước và nhóm không dễ hoà tan trong nước, thường có thể tan
    trong chất béo. Nhóm chất độc dễ hoà tan trong nước sẽ được loại bỏ qua
    thận và đưa vào đường tiểu để tống ra bên ngoài cơ thể. Nhóm còn lại phải
    cần đến vai trò của gan. Vì thế, có thể nói gan và thận là hai cơ quan chính
    trong cơ thể có khả năng loại bỏ độc tố.
    Các tế bào gan loại bỏ độc tố bằng cách hấp thụ chúng, chuyển hoá bằng các
    phản ứng hoá học, biến chúng thành những chất không độc hoặc dễ hòa tan
    trong nước để có thể thải bỏ ra khỏi cơ thể. Vì thế, khi gan suy yếu, các độc
    tố tất nhiên sẽ bị tích luỹ lại trong cơ thể.
    Tóm lại, gan đóng nhiều vai trò quan trọng trong hoạt động bình thường của
    cơ thể. Gan giúp cơ thể hấp thụ được các dưỡng chất cần thiết và loại bỏ các
    độc tố có hại. Mặc dù vậy, chúng ta thường ít có những quan tâm chú ý đúng
    mức để bảo vệ cho các hoạt động của gan.
    Mọi việc sẽ không có gì đáng nói nếu như không có sự xuất hiện đáng sợ của
    các loại siêu vi A, B, C, D, E và G mà lý do hiện diện trong cuộc đời này
    dường như chỉ là để gây ra bệnh viêm gan mà thôi! Riêng siêu vi C lại còn là
    “đặc ân” mà thiên nhiên ban tặng riêng cho loài người – và một giống tinh
    tinh (chimpanzé) có lẽ là gần giống với người –, vì chúng không gây bệnh
    cho bất cứ loài nào khác nữa!
    Tự biết số phận hẩm hiu bị bạc đãi của mình, gan đã phát triển một khả năng
    tự nhiên khá đặc biệt so với các cơ quan khác trong cơ thể, là có thể tự bảo
    vệ mình chống lại các thương tổn gây ra bởi độc tố hay bệnh tật, và thậm chí
    khi không hoàn toàn khôi phục lại được sau các thương tổn, gan vẫn có khả
    năng duy trì được hoạt động gần như bình thường, bằng cách gia tăng sức
    làm việc của các tế bào khoẻ mạnh, để bù đắp cho khối lượng công việc của
    các tế bào bị thương tổn hoặc đã bị huỷ diệt.

    Chính nhờ vào khả năng kỳ diệu này, trong rất nhiều trường hợp viêm gan
    mạn tính, gan vẫn tiếp tục hoạt động được một cách tương đối bình thường
    trong thời gian khá lâu dài.
    Tuy nhiên, vẫn có những giới hạn mà gan không thể tự mình vượt qua để
    bảo vệ chính mình mãi mãi. Chúng ta cần phải biết để can thiệp kịp thời,
    tránh sự suy sụp hoàn toàn một khi những giới hạn thương tổn đã vượt quá
    mức chịu đựng của gan.
    Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra viêm gan. Những nguyên nhân
    thông thường có thể kể ra là nhiễm trùng, ký sinh trùng, hoặc do uống rượu
    nhiều, hoặc do nhiễm phải các độc tố, ngay cả độc tố trong các loại thuốc
    được dùng để điều trị bệnh. Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất, thường
    gặp nhất và do đó cũng là đáng sợ nhất là các bệnh viêm gan gây ra do siêu
    vi.
    Cho đến nay, hiện được biết có 6 loại siêu vi gây viêm gan, được gọi tên
    bằng các chữ cái tuần tự là A, B, C, D, E và G.
    Trong những chương kế tiếp sau đây, chúng ta sẽ lần lượt xem xét một số
    các bệnh viêm gan do các loại siêu vi gây ra.
    III. Bệnh của gan
    Gan là cơ quan phải đối đầu với rất nhiều mối nguy hiểm đe doạ dẫn đến
    thương tổn và bệnh tật. Các độc tố một khi xâm nhập cơ thể nhất thiết phải
    đi qua gan, vì như chúng ta đã biết, gan là tiền đồn kiểm soát trước khi cho
    phép các chất hoà tan trong máu được đưa vào sử dụng. Hơn thế nữa, gan
    còn là một trong những cơ quan có khối lượng công việc nặng nề nhất trong
    cơ thể, nên bất cứ một sự suy yếu nào của gan đều tất yếu dẫn theo nhiều sự
    suy sụp khác.
    Thật may mắn thay là trong hầu hết các trường hợp gan đều có khả năng tự
    bảo vệ lấy mình. Đó là nhờ vào những đặc tính mà dường như trong cơ thể
    không có cơ quan nào khác có được. Gan có khả năng tái tạo các tế bào của
    mình sau khi chúng bị huỷ hoại đi vì một lý do nào đó. Gan cũng có thể chữa
    lành những tế bào thương tổn nếu chúng chưa đến mức bị huỷ hoại hoàn
    toàn. Gan còn có thể thay thế, loại bỏ những tế bào nào không còn giữ được
    khả năng hoạt động bình thường. Nói chung, những hoạt động tự tổ chức,
    củng cố lực lượng của chính mình như thế này được gan thực hiện một cách
    hoàn toàn tự động mà không cần có bất kỳ sự can thiệp nào khác từ bên

    ngoài.
    Một điều kỳ diệu khác nữa là nguyên tắc hoạt động của gan thể hiện một sự
    “đoàn kết nhất trí” khiến cho cơ quan này rất khó lòng bị hạ gục trước những
    thương tổn. Mặc dù gan được hình thành từ rất nhiều đơn vị cấu trúc nhỏ
    như đã nói ở một phần trên, nhưng tất cả những đơn vị cấu trúc này đều
    “nhất trí” cùng hoạt động giống hệt như nhau! Điều này có nghĩa là, khi một
    phần nào đó của gan bị tấn công, thương tổn hoặc suy yếu, nhiệm vụ chung
    vẫn không bị ảnh hưởng. Gan giải quyết trường hợp này bằng cách thúc đẩy
    các phần “khoẻ mạnh” còn lại tăng cường sức làm việc và “làm thay” cho
    các “thương binh”. Tình trạng này có thể là tạm thời hoặc lâu dài, tuỳ theo
    những thương tổn mà gan mắc phải.
    Tuy nhiên, cho dù có “tài ba” đến đâu thì cũng có những nguyên nhân “quá
    sức chịu đựng” có thể làm cho gan phải quỵ ngã.
    Nhưng gan vốn là một cơ quan rất ... gan lì, nên khi có thương tổn gan vẫn
    âm thầm chịu đựng và chống trả mà không hề lên tiếng than van hay cầu
    cứu. Nói chính xác hơn, các tế bào gan là những “cảm tử quân” thà chết
    không lùi, nên chúng không được bố trí các đường dây thần kinh liên lạc để
    “cầu cứu” với hệ thần kinh trung ương khi bị nguy hiểm! Vì không có dây
    thần kinh cảm giác trong gan, nên chúng ta không thể chia sẻ hay biết được
    những nỗi đau đớn mà gan đang gánh chịu. Rất nhiều trường hợp viêm gan
    đến ... gần chết mà người bệnh vẫn thản nhiên không hề hay biết!
    Một trong những triệu chứng tiêu biểu bộc lộ sự nguy hiểm của gan là dấu
    hiệu vàng da và vàng mắt. Triệu chứng này xuất hiện là do gan đã suy yếu
    nên không còn khả năng chế biến chất bilirubin, một sắc tố có màu nâu ngã
    vàng trong mật. Nhưng tiếc thay đây cũng là triệu chứng của khá nhiều bệnh
    khác. Vì vậy, nếu quan tâm đến sự an toàn của gan thì biện pháp duy nhất
    hiện nay vẫn phải là nhờ đến các xét nghiệm y khoa để xác định xem gan có
    khoẻ mạnh hay không.
    Mặc dù hoạt động một cách kiên cường và tự mình đối phó với mọi nguy
    hiểm, nhưng gan lại là cơ quan chia sẻ rất nhiều nguy cơ với các cơ quan
    khác trong toàn cơ thể. Nhiễm trùng cơ thể ở bất cứ bộ phận nào cũng đều có
    khả năng gây tổn hại đến gan. Ung thư từ dạ dày hay ruột non cũng sẽ lan
    đến gan. Bệnh tiểu đường nếu không điều trị kịp thời cũng sẽ gây tổn thương
    cho gan. Nhiễm ký sinh trùng cũng đe doạ đến gan. Thậm chí việc dùng
    thuốc điều trị các bệnh khác cũng có nguy cơ gây hại cho gan, nhất là khi
    dùng quá liều hoặc kê toa không hợp lý, hoặc dùng thuốc bào chế kém chất

    lượng. Mỉa mai thay, mặc dù gan là một “tiền đồn chống độc” của cơ thể,
    nhưng một số độc tố lại có thể gây hại cho chính bản thân gan khi xâm nhập
    vào cơ thể, nhất là một số nấm độc.
    Viêm gan có thể xem là thương tổn thường gặp nhất của gan. Viêm gan có
    thể gây ra do một số các hoá chất, do các bệnh tự miễn (autoimmune), hoặc
    do nhiễm trùng.
    Viêm gan chiếm tỷ lệ cao nhất ở các nước phát triển là viêm gan gây ra do
    rượu. Nồng độ rượu quá cao trong máu sẽ làm cho các mô mỡ tích tụ trong
    gan, rất có thể dẫn đến viêm gan mạn tính, gây ra các vết sẹo nơi gan và huỷ
    hoại các tế bào. Qua nhiều năm, bệnh có thể tiến triển thành chai gan, làm
    giảm thấp lượng máu đi qua gan so với thông thường. Trong trường hợp này,
    độc tố trong máu nếu có sẽ không được loại bỏ hết, áp huyết cũng gia tăng
    nơi tĩnh mạch cửa của gan, và hầu hết các “sản phẩm” quan trọng do gan tạo
    ra đều bị thiếu hụt. Khả năng điều hoà các yếu tố trong máu cũng không
    được duy trì.
    Chai gan là một tiến trình không thể đảo ngược. Tuy nhiên, trong giai đoạn
    đầu, nếu ngưng uống rượu thì hoạt động của gan vẫn có thể được hồi phục
    đáng kể. Ngoài ra, các biện pháp can thiệp bằng thuốc men hoặc phẫu thuật
    cũng được cần đến. Với các bệnh nhân quá nghiêm trọng, khả năng ghép gan
    có thể được xem xét.
    Ghép gan là một tiến trình rất phức tạp có tỷ lệ thành công rất thấp. Chỉ đến
    gần đây, với nhiều tiến bộ kỹ thuật mới, tỷ lệ này mới được nâng lên đến
    khoảng từ 60 đến 80%, với hơn một nửa số bệnh nhân đến nay đã sống được
    trên 5 năm sau khi ghép. Hầu hết các bệnh nhân thành công này đều có tiên
    liệu tốt về một cuộc sống khoẻ mạnh, bình thường như trước.
    Tuy nhiên, xét trên toàn thế giới thì các chứng viêm gan thường gặp nhất và
    cũng nguy hiểm nhất là viêm gan gây ra do các loại siêu vi (virus), cũng là
    đối tượng mà chúng ta sẽ tiếp tục tục tìm hiểu trong những chương sách tiếp
    sau đây.
    IV. Bảo vệ gan
    Với vai trò và chức năng quan trọng như đã biết, nhưng gan lại rất thường bị
    ... bỏ rơi không quan tâm đến. Điều đó nếu có, sẽ là một sai lầm lớn nhất của
    mỗi chúng ta. Nói cách khác, chúng ta cần có sự quan tâm bảo vệ gan đúng
    mức. Nếu không, một khi cơ quan này đã có “vấn đề”, thì e rằng chúng ta sẽ

    không còn có được một giây phút yên vui lành mạnh nào nữa cả.
    Khi gan còn đang khỏe mạnh, người ta rất ít quan tâm đến một điều là, cũng
    giống như mọi cơ quan khác, gan có thể bị thương tổn, hay nói đơn giản hơn
    là có thể bị ... bệnh. Hầu hết các cơ quan khác một khi chớm có vấn đề, đều
    sẽ báo động ngay cho chúng ta bằng những cơn đau hay những triệu chứng
    lạ. Riêng với gan thì không! Ngay cả trong nhiều trường hợp cơ quan này đã
    thương tổn rất trầm trọng, nó vẫn âm thầm chiến đấu chống lại bệnh tật của
    mình và tiếp tục cố gắng đảm nhiệm công việc như... bình thường. Vì thế,
    khi chúng ta biết ra thì mọi việc thường là quá muộn để có thể cứu vãn.
    Để bảo vệ gan, và cũng là bảo vệ sức khỏe cơ thể, hãy chú ý đến việc khám
    sức khỏe định kỳ với những xét nghiệm nhằm phát hiện các tổn thương gan.
    Nếu chúng ta không bổ sung điểm này vào kế hoạch chăm sóc sức khỏe, sẽ
    có lúc chúng ta hối hận vì muốn làm cũng không còn kịp nữa.
    Trong tuyệt đại đa số trường hợp, phát hiện sớm các vấn đề của gan luôn
    mang lại cho chúng ta nhiều lợi thế hơn trong các biện pháp đối phó. Và hơn
    thế nữa, điều này cũng ngăn chặn một cách tích cực sự lây lan của siêu vi
    gây bệnh gan vì vô tình không biết.
    Ngoài ra, còn có một số điều khác chúng ta có thể quan tâm đến trong cuộc
    sống hàng ngày để bảo vệ cho gan:
    – Không uống rượu, bia. Đây sẽ là tin mừng lớn nhất cho các tế bào gan nếu
    chúng ta quyết định như vậy. Các loại rượu, bia là kẻ thù số một của gan,
    ngay cả một lá gan hoàn toàn khỏe mạnh. Trong khi chúng ta không hề quan
    tâm đến những độc tố được đưa vào cơ thể khi uống rượu, thì gan phải âm
    thầm “tinh lọc” tất cả để thải chúng ra khỏi cơ thể chúng ta. Công việc này
    làm cho lá gan của chúng ta phải mệt nhọc một cách không cần thiết, và nếu
    kéo dài thường xuyên chắc chắn sẽ gây thương tổn cho gan. Mặt khác, nếu
    gan đã hoặc sắp bị tấn công bởi siêu vi, thì các loại rượu bia sẽ là một đồng
    minh vô cùng đắc lực của ... kẻ thù. Nên biết, tại các nước đã phát triển, khi
    mà các biện pháp ngăn ngừa siêu vi gây bệnh gan đã có phần hữu hiệu, thì
    nghiện rượu đã được đưa lên thành nguyên nhân hàng đầu gây bệnh cho gan.
    Nếu chưa “cấm cửa” được “ma men”, bạn cũng nên hiểu biết thêm rằng
    niềm vui chốc lát do chúng mang lại sẽ không bù đắp nổi cho những khổ đau
    mà bạn phải gánh chịu một khi lá gan phải ... suy sụp. Và vì thế, hãy tự nhủ
    lòng mỗi khi phải tiếp xúc với các loại rượu bia: “Uống càng ít càng tốt, và
    không uống là tốt nhất”.

    – Không hút thuốc lá. Nếu như các loại rượu bia là kẻ thù số một của gan, thì
    cũng có thể nói thuốc lá là “kẻ thù số hai”. Tuy nhiên, dù là “số hai” đối với
    gan, thì thuốc lá lại có một “ưu điểm” khác: nó còn là “kẻ thù chung” đối với
    cả tim, phổi, hệ thần kinh... nên chẳng thể xem nhẹ hơn chút nào! Và nếu
    như bạn vẫn chưa thể trở thành người không hút thuốc, thì lần tới đây khi mở
    bao thuốc lá, xin hãy chú ý đến dòng chữ: “Hút thuốc có hại cho sức khỏe.”
    Bạn sẽ tin là tôi nói đúng.
    – Đảm bảo chế độ dinh dưỡng đầy đủ và thích hợp cho cơ thể. Cần lưu ý
    tránh quan niệm sai lầm “ăn càng nhiều càng tốt”. Chế độ ăn cần đảm bảo sự
    cân đối dinh dưỡng, dễ tiêu hóa, dễ hấp thụ và chỉ cần vừa đủ. Ngay cả khi
    cung cấp quá dư thừa năng lượng cho cơ thể qua các bữa ăn cũng là một
    trong những nguyên nhân gây bệnh. Riêng đối với gan, các thức ăn khó tiêu,
    nhiều dầu mỡ đều không phải là lý tưởng, mặc dù một lá gan lành mạnh luôn
    có khả năng “xử lý” các chất béo khó tiêu trong thức ăn.
    – Hết sức thận trọng khi phải tiếp xúc với các môi trường có các hóa chất và
    chất độc. Thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ... nếu không thận trọng để cho xâm
    nhập vào cơ thể thì tất yếu đều phải đi qua gan và làm hại gan. Vì thế, khi
    buộc phải làm việc trong các môi trường này, nhất thiết phải tuân thủ các
    quy định bảo vệ an toàn cho cơ thể. Ngộ độc thức ăn, nấm độc... đều là
    những nguyên nhân gây thương tổn cho gan. Thậm chí các hóa chất thường
    dùng trong chế biến thực phẩm nếu không qua kiểm nghiệm, bị lạm dụng...
    cũng đều có thể gây hại cho gan, chẳng hạn như hàn the, phẩm màu... Tốt
    nhất là nên hạn chế sử dụng.
    – Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc điều trị bệnh. Mỗi khi cần phải dùng
    thuốc, phải có chỉ dẫn của y, bác sĩ. Hiện nay đang có khuynh hướng lạm
    dụng thuốc Tây một cách rất bừa bãi. Một người đau đầu có thể đến hiệu
    thuốc Tây và nói: “Bán cho tôi mấy viên thuốc đau đầu.” Và người bán cứ
    bán, người mua cứ uống... không hề thắc mắc rằng thật ra thì do đâu mà có
    triệu chứng đau đầu đó. Những cách “tự chữa bệnh” theo lối này cuối cùng
    đều quy gánh nặng về cho gan, bởi vì ngay cả các loại thuốc điều trị dùng
    không đúng cách hoặc quá liều đều trở thành “thuốc độc” cho cơ thể, và gan
    có nhiệm vụ phải... thải chúng ra. Vì thế, cách tốt nhất để bảo vệ cho gan là
    chỉ dùng thuốc khi thật sự cần thiết, và phải tuân thủ đúng liều dùng cũng
    như những chỉ dẫn khác của y, bác sĩ.
    – Phòng chống các loại siêu vi gây bệnh cho gan. Tùy theo mỗi loại siêu vi,
    các biện pháp phòng chống có thể khác nhau phần nào. Tuy nhiên, nói chung
    đều quy về hai biện pháp chính: chủng ngừa siêu vi nếu có thuốc chủng

    ngừa, và tích cực ngăn ngừa sự lây lan của siêu vi trong môi trường cũng
    như sự xâm nhập của chúng vào cơ thể. Đây là một vấn đề “nói dễ hơn làm”,
    và vì thế chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn từng loại siêu vi gây bệnh cho gan
    trong những chương sách tiếp sau đây.

    CHƯƠNG II: VIÊM GAN SIÊU VI A
    I.Khái quát về bệnh viêm gan siêu vi A
    Viêm gan siêu vi A là loại viêm gan được xếp vào loại bệnh truyền nhiễm có
    mặt ở hầu hết khắp nơi trên thế giới.
    Siêu vi A – hepatitis A virus, thường được viết tắt là HAV – sinh trưởng
    nhanh và rất dễ lây lan trong môi trường, qua thức ăn, nước uống, các chất
    thải... Vì điều kiện lây lan quá dễ dàng nên bệnh rất thường bộc phát thành
    những cơn dịch và lan tràn khắp trong một vùng.
    Các điều kiện vệ sinh môi trường đóng vai trò quan trọng trong sự bùng phát
    của một cơn dịch bệnh loại này. Vì thế, các nước nghèo hoặc đang phát triển
    có tỷ lệ nhiễm siêu vi A vượt xa các nước phát triển. Tuy nhiên, ngay cả ở
    những nước phát triển thì hiện nay vẫn chưa khống chế được hoàn toàn sự
    lây lan của loại siêu vi này. Chẳng hạn như tại Hoa Kỳ, siêu vi A bộc phát
    thành dịch khoảng 10 năm một lần, và gần đây nhất là vào năm 1995 đã có
    hàng trăm ngàn người cùng lúc nhiễm bệnh chỉ trong vòng một vài tháng. Và
    bình thường thì mỗi năm ở Hoa Kỳ có khoảng từ 125.000 đến 200.000 ngàn
    người nhiễm bệnh này.
    Theo lịch sử còn ghi lại, khoảng từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên người ta
    đã nhận biết những trận dịch “vàng da” xảy ra tại nhiều vùng khác nhau trên
    thế giới, nhất là ở những khu đông dân cư. Theo như được mô tả, bệnh nhân
    đang khỏe mạnh bỗng dưng bị đau bụng, tiêu chảy và vàng da. Tất nhiên,
    vào thời đó người ta không thể hiểu được nguyên nhân.
    Vào thời gian đệ nhị thế chiến (1939 – 1945), có một cơn dịch lan tràn nhanh
    chóng tại nước Đức, làm cho khoảng 2...
     
    Gửi ý kiến

    vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam