GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
hay-tra-loi-em-tai-sao-tap-04

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:23' 05-03-2024
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:23' 05-03-2024
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
4
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Hãy trả lời em tại sao?. T.4 / Đặng Thiềân Mẫn d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
204tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Đặng Thiên Mẫn d.
001 -- dc 22
H412
4
đặng thiền mẫn dịch
4
Chương 1
Thân thể con người
1
Xương của tai làm bằng những
chất gì?
Sức mạnh của bộ xương người bình thường, mạnh khỏe
thật đáng kinh ngạc. Nói rằng bộ xương của ta có sức mạnh
gấp 2 lần một cây sồi đủ tuổi thì không phải là nói ngoa đâu.
Xương cần phải cứng, mạnh vì nó chính là bộ khung
nâng đỡ cho cả cơ thể con người. Xương có hình dạng,
kích cỡ khác nhau tùy theo nó là xương của loài động vật
nào và cũng tùy chức năng của xương đó. Cá và chim nhỏ
có xương nhỏ xíu và nhẹ. Xương voi thì to và nặng tới vài
trăm kí.
Tuy nhiên, dù là xương gì, của loài động vật nào thì cấu
tạo của xương vẫn giống nhau. Xương là một chất liệu cứng,
có màu trắng xám, trong đó khoảng 2/3 là thành phần vô
cơ tức là chất khoáng, đặc biệt là chất phốt phát vôi. Nhờ
chất này, xương trở nên cứng, nhưng đồng thời nó cũng
làm cho xương hóa giòn hơn. Thành phần khác nữa của
xương là các chất hữu cơ. Các chất này làm cho xương
5
bền nhờ đó khó bị gãy bể. Ở một vài loại xương có chất
béo - tức là tủy - và là chất hữu cơ có giá trị dinh dưỡng
cao. Trong xương cũng có một ít nước, dường như nước
này giảm đi khi cơ thể trở nên già. Khi bị khô đi như vậy
và vì chất khoáng tăng lên, xương hóa ra giòn, dễ gãy, bể,
đồng thời khi gãy thì xương rất lâu lành.
Nếu bạn bị gãy xương cánh tay chẳng hạn thì phải sắp
đặt lại cho đúng khớp và bó chặt nó để giữ nguyên vị trí,
đồng thời cánh tay không cử động, nhờ đó xương sẽ tự
hàn lại với nhau. Khi lành rồi thì cánh tay sẽ cử động lại
bình thường.
Xương tự hàn lại với nhau nhờ những tế bào gọi là
nguyên bào xương. Những tế bào này tiết ra chất vôi làm
cho chỗ gãy hàn dính cứng lại với nhau. Cũng chính những
tế bào này giúp cho sự tăng trưởng tự nhiên của xương.
Ngoài ra, trong xương còn có tế bào gọi là nguyên bào hủy
xương tách bỏ những mô già, nhờ đó xương tăng trưởng.
Quá trình vừa tách bỏ vừa phát sinh thay thế thường xuyên
diễn ra trong xương, nhờ đó xương không bị hao mòn.
2
Calcium là chất liệu gì?
Cơ thể của một người trung bình chứa khoảng 1,5kg
chất calcium. Hầu hết calcium này tích tụ ở xương. Calcium - hay can xi - là thành phần cấu tạo đặc biệt của
6
xương. Ta có thể so sánh các chất cấu tạo xương với các
chất cấu tạo thành hồ bê tông. Xương có một loại sợi là
“collagen”. Loại sợi này giống như sợi thép dẻo làm “cốt” cho
bê tông. Chất can-xi tạo thành một lớp do các sợi này kết lại.
Chất can-xi trong xương sẽ thay đổi khi ta trở nên già.
Những năm đầu tiên của cuộc đời, lúc ta còn là đứa bé,
xương của ta chứa rất ít can-xi, và do đó, xương lúc đó rất
“dẻo”. Đứa trẻ dễ uốn éo đủ kiểu mà xương chẳng hề hấn
gì. Lần lần, đến khoảng tám mươi tuổi, xương người ta lúc
đó gồm tới 80% là chất can-xi. Do đó rất dễ gãy, bể.
Một trong những lý do khiến trẻ em nên uống nhiều
sữa là vì sữa là một thực phẩm lý tưởng chứa chất
can-xi, và tất nhiên, trẻ em cần nhiều can-xi để phát triển
xương. Trong khoảng 1 lít sữa bò có tới 2 gam can-xi. Phô
ma, bơ, yaourt cũng cung cấp nhiều can-xi. Ở những địa
phương mà chất can-xi hiếm, khó kiếm thì hàm răng của
cư dân vùng đó hay bị hư răng và gãy xương.
Nguyên nhân thông thường của chứng thiếu can-xi
là do can-xi trong nước uống đã bị khử, làm cho nước
trở nên “cứng” vì có hòa tan nhiều muối vô cơ. Nước
cứng làm cho xà bông không ra bọt. Chất can-xi trong
nước cứng bị hóa hợp với acid và muối trong xà bông
tạo nên một hợp chất không hòa tan. Sự kiện chất
can-xi trong nước uống bị phân hủy có ảnh hưởng xấu đến
thực phẩm được nấu trong nước đó. Nếu nước có nồng độ
7
can-xi quá thấp, thực phẩm thường bị mất một phần canxi có sẵn trong chính thực phẩm vì nó phải “nhả” ra trong
nước nấu. Nhưng nếu được nấu trong nước cứng thì thức
phẩm sẽ “nạp” thêm can-xi, do đó có thể trở nên khó ăn,
mùi vị thực phẩm bị biến đổi.
3
Hàm răng của ta
được cấu tạo như thế nào?
Mỗi ngày, ít nhất bạn cũng chà răng hai lần, phải không?
Nếu làm như vậy, và chà mạnh, bạn có bao giờ thắc mắc
hỏi tại sao chà như vậy mà răng không bị rách tét ra? Thật
ra thì răng của bạn khá cứng, cũng cỡ gần gần như đá chớ
không ít đâu.
Bất cứ loại răng nào cũng gồm hai phần: phần chân
răng cắm chặt vào hàm và phần vành răng mà ta nhìn thấy
trong miệng. Các chất cấu tạo nên răng gồm hầu hết là
muối khoáng, trong đó can-xi và phốt pho là nhiều nhất.
Chất men là một chất cứng, sáng bóng và phủ ngoài vành
răng. Xương răng là một chất liệu giống như xương tạo
nên chân răng. Ngà răng là chất liệu giống như ngà phủ
ngoài vành răng. Tủy răng nằm ở giữa răng (trung tâm của
răng). Tủy răng là một mô liên kết trong đó có tiểu động
mạnh, tiểu tĩnh mạch và dây thần kinh. Tủy răng “đi vào”
trong răng qua một lỗ ở dưới chân răng.
8
Soi gương, bạn thấy răng của bạn có kích cỡ và hình
dạng khác nhau. Trên một hàm răng ta thấy có bốn thứ
răng, mỗi thứ có chức năng riêng biệt. Răng cửa, ở trước
hàm dùng để cắt thức ăn, mỗi hàm có bốn răng cửa. Răng
nanh, mỗi hàm hai cái, nằm hai bên răng cửa dùng để xé
thức ăn. Răng nanh chân nhọn, vành cứng, nhọn và dài.
Răng hàm nhỏ (răng tiền hàm) nằm kế răng nanh và trước
răng hàm. Mỗi hàm có bốn răng tiền hàm. Răng tiền hàm
có thể có một hoặc hai chân nhọn, mặt trên phẳng có
hai “mấu” (cusps), dùng để nhai nghiền thức ăn. Sau cùng
là răng hàm, nằm phía trong cùng, mỗi hàm có sáu răng
hàm. Răng hàm có hai hay ba chân răng, mặt trên phẳng
và có thể có đến bốn “mấu”. Răng hàm dùng để “nghiền”
nhỏ thức ăn.
4
Răng của con người có phải
cùng một thứ với răng súc vật?
Khi đào được một địa khai, hóa thạch mà gặp được một
cái răng thì nhà khoa học mừng lắm. Răng là một manh
mối rất quan trọng cho ta biết nó là của loài động vật nào,
thuộc bộ nào (ăn cỏ, ăn thịt, ăn sâu bọ), chẳng hạn như thú
ăn thịt thì có răng nanh dài để xé, thú gặm nhấm có răng
cửa dài để “gặm” và thú ăn cỏ có răng hàm to để nghiền.
Mỗi động vật - bất kể là ngựa, bò, mèo, chuột, chó - đều
9
có bộ răng thích hợp cho sinh hoạt, thực phẩm và thậm
chí thích hợp với bản chất của chúng. Như con hải ly chẳng
hạn, có răng dùng để cắt rất mạnh và lớn. Răng nanh của
chó và mèo thì dài, nhọn, sắc để nó có thể dễ dàng giữ
con mồi (trong miệng). Răng hàm của chúng cũng sắc để
cắt xé thịt sống và gặm xương. Răng sóc dễ dàng gặm qua
cả vỏ cứng của các loại hạt. Ngay cả cá cũng có răng để
có thể nhai thức ăn. Một vài loại cá mập có răng để xé thịt
những con cá khác, trong khi đó một vài loại cá mập chỉ có
răng cùn để nhai, nghiền các loại sinh vật biển có vỏ cứng
như cua, sò. Loại cá chó (pike) có răng quặp vào bên trong
khi nó nuốt mồi và sau đó lại duỗi thẳng ra. Răng rắn thì
quặp vào phía trong để con mồi không thể thoát ra được.
Bộ răng của người - như ta biết - là một phức hợp, nghĩa
là có nhiều chức năng, cái nọ khít với cái kia. Theo các nhà
khoa học, cách phối trí của răng con người là một bằng
chứng chứng tỏ con người là giống ăn tạp, nghĩa là nó là
động vật vừa ăn cỏ (thực vật) vừa ăn thịt (động vật) và
vừa ăn sâu bọ.
5
Bạn biết gì về nước miếng?
Bạn hãy tưởng tượng mình sắp sửa ăn một trái chanh,
miệng cắn vào trái chanh. Bạn đã thấy nước miếng trong
miệng của bạn ứa ra chưa? Đó là một trong những điều
10
rất thú vị về tuyến nước miếng. Tuyến này không vận hành
một cách máy móc, tự động mà tùy thuộc vào sự điều khiển
của não. Có ba cặp tuyến nước miếng: một ở phía trước tai,
một ở phía dưới lưỡi và một ở phía hàm dưới.
Các tuyến nước miếng này tự động tiết ra số lượng và
loại nước miếng thích hợp với nhiệm vụ trước mắt. Những
động vật ăn thức ăn ẩm, có lộn nước thì cần ít nước miếng.
Loài cá không có tuyến nước miếng nhưng loài chim ăn
hạt thì tuyến nước miếng lại rất phát triển. Khi con bò ăn
thức ăn tươi, tuyến nước miếng của nó tiết ra vào khoảng
50 lít. Nhưng khi ăn thức ăn khô tuyến ấy tiết ra tới 200
lít. Tuyến nước miếng lớn nhất của con người, trong suốt
một đời người, tiết ra lượng nước miếng khoảng 25000 lít!
Mỗi tuyến nước miếng có chức năng riêng. Tuyến lớn
nhất ở mang tai (paraotid) tiết ra lượng lớn nước miếng
lỏng. Mục đích của loại nước miếng này là làm hòa tan, làm
ẩm, nhão để thực phẩm trở nên dễ tiêu hóa. Tuyến nước
miếng nằm ở hàm dưới tiết ra thứ nước miếng làm cho
thực phẩm trở nên “trơn”, dễ nuốt hơn. Tuyến nước miếng
11
nào hoạt động mạnh hơn - nghĩa là tiết ra nhiều nước
miếng hơn - là tùy thứ thực phẩm mà ta ăn. Nhai một trái
táo chẳng hạn thì chẳng cần gì nhiều đến thứ tuyến nước
miếng làm ẩm thức ăn, nhưng nếu nhai loại bắp rang thì
tuyến nước miếng ở mang tai phải hoạt động mạnh để tiết
ra nhiều nước miếng lỏng.
Nước miếng của người chứa chất phân hóa tố có tên
là “amylase”. Loại phân hóa tố này tác động vào tinh bột,
biến đổi các phân tử thành “dextrin” và sau đó thành đường
“man tô”.
6
Cái gì khiến ta có cảm giác đói?
Đó là tiếng còi báo động của não gởi cho cơ thể. Nội
dung của sự báo động này là trong máu đang thiếu chất
dinh dưỡng. Ta hãy xem cơ chế báo động này diễn ra như
thế nào?
Cơ thể loài người, cũng như mọi loài sinh
vật, phải duy trì được tình trạng quân bình
của sự trao đổi chất. Có nghĩa là sự quân
bình giữa cung và cầu, giữa cung cấp và
tiêu hao các “chất đốt” của thân thể.
Để điều phối sự quân bình này, ta
có một hệ thống báo động gồm:
đói, khát, sự ngon miệng.
12
Trong não ta có một trung tâm báo động “đói”. Nó họat
động như một cái “thắng” tác động trên sinh hoạt của cái
bao tử và ruột non. Khi trong máu có đủ chất dinh dưỡng,
trung tâm này ngưng các hoạt động của bao tử và ruột.
Nhưng khi trong máu thiếu chất dinh dưỡng thì trung tâm
này ra lệnh cho bao tử và ruột “quậy”. Bởi vậy, khi đói, bạn
thấy bao tử và ruột sôi réo, kêu “óc óc” là vì vậy đó.
Tuy nhiên, không phải hễ khi nào bao tử rỗng là ta có
cảm giác đói. Một người đang bị sốt, bao tử người đó rỗng
tuếch, nhưng có cảm thấy đói đâu. Lúc đó, cơ thể của họ
vận dụng các protein dự trữ ra xài. Đói có nghĩa là cơ thể
ta đòi hỏi “nhiên liệu” như cái máy hết xăng đòi phải có
xăng để tiếp tục chạy. Một người thực sự đói thì cái gì ăn
cũng được. Nhưng chính cảm giác “ngon” là dấu hiệu cho
ta thấy ta chọn chế độ ăn uống pha trộn mà cơ thể ta
cần. Chẳng hạn, ngồi vào bàn ăn, trước tiên, bạn phải làm
một tô súp. Kế đó bạn dùng tiếp rau, thịt... Khi đã đủ, bạn
làm thêm món “tráng miệng” như bánh, kẹo, cà phê, trái
cây... Cũng một lượng như vậy, thay vì nhiều món, bạn chỉ
dùng một món độc nhất là khoai tây mà thôi thì bạn sẽ
thấy khó nuốt lắm.
Sinh vật có thể sống trong bao lâu mà không cần ăn?
Điều này tùy thuộc vào sự trao đổi chất. Sinh vật máu nóng
có cơ chế trao đổi chất mạnh hơn và do đó quá trình tiêu
hao “nhiên liệu” lẹ hơn, có nghĩa là khả năng nhịn ăn kém
hơn. Điều đáng nói là những sinh vật càng nhỏ càng vận
13
động nhiều thì quá trình tiêu hao “nhiên liệu” càng lẹ, do
đó càng cần được cung cấp lương thực sớm hơn.
7
Vị giác của ta vận hành
như thế nào?
Sự xuất hiện của vị giác tùy thuộc vào tác động của các
nguyên tử của một chất trên cơ quan cảm giác đặc biệt
của cơ thể ta. Nếu các nguyên tử của một chất không có
sự vận động tự do thì ta không có thể có vị giác. Do đó
hầu như ta chỉ có vị giác của một chất khi chất này được
hòa tan trong một dung môi.
Sinh vật sống dưới nước có những “núm” vị giác trên
toàn thân của nó. Chẳng hạn, con cá có thể “nếm” bằng
cái vây đuôi chớ chẳng cần đến môi, lưỡi. Sinh vật sống
trên cạn thì có “núm” vị giác tập trung ở miệng và với con
người thì chỉ tập trung ở lưỡi mà thôi.
Quan sát cái lưỡi trong gương, bạn thấy mặt trên của
lưỡi phủ đầy những hạt nhỏ li ti được gọi là “nhũ”. Núm vị
giác của ta nằm trong tấm thảm nhũ này.
Số lượng “núm” vị giác trên lưỡi sinh vật nhiều hay ít
tùy chủng loại động vật. Chẳng hạn, cá voi “nuốt trọng”
cả đám cá con, nó chẳng nhai nhấm gì ráo, do đó, cá voi
ít có núm vị giác, có giống cá voi lại chẳng có núm vị giác
nào cả. Loài heo chỉ có khoảng 5500 “núm” vị giác nhưng
14
con bò có tới 35000 núm và sơn dương có tới 50000 núm.
Vị giác của con người coi vậy mà thua cả con heo vì chỉ
có khaỏng 3000 “núm” mà thôi. Núm vị giác trên lưỡi con
người lại được phân thành những “vùng” khác nhau, mỗi
vùng phân biệt vị giác khác nhau. Núm vị giác chua nằm
phía trong cùng của lưỡi. Núm vị giác mặn nằm phía hai
bên lưỡi. Núm vị ngọt nằm ở đầu lưỡi. Và chỗ nào không có
núm vị giác thì chỗ đó không tiếp thu được bất cứ vị nào.
Vị là phần rất quan trọng trong quá trình vị giác, tức là
nếm. Có đến một nửa những gì mà ta cho là vị giác thật
ra lại chẳng phải vị giác mà thật ra chỉ là “mùi” tức là thuộc
phạm vi ngửi. Khứu giác! Lưỡi ta cảm thấy gì, nếm được gì
khi ăn táo, uống cà phê, ăn cam...? Uống cà phê chẳng hạn,
trước hết ta cảm thấy ấm ấm, cảm thấy đăng đắng do chất
ca-phê-in bị rang, rồi cảm thấy ngọt ngọt (nếu ta bỏ đường
vào). Nhưng không phải mãi đến lúc hơi ấm chạm vào cuống
họng và mũi, gởi những tín hiệu đến óc ta mới cảm nhận
được vị cà phê. Bằng chứng là nếu bạn bịt mũi lại, chẳng
hạn hầu như không cảm nhận được vị cà phê mà thậm chí
bạn sẽ thấy không thể phân biệt nổi giữa cái bạn đang ăn
với cái bạn đang uống.
8
Tại sao ta cần vitamin C?
Thực phẩm ta ăn vào cơ thể trở thành những chất rất
quan trọng - như protein, chất béo, carbohydrate, nước,
15
các chất khoáng - để nuôi cơ thể. Nhưng nếu chỉ có những
chất ấy thôi thì không đủ. Để duy trì được sự sống, ta còn
những chất khác nữa được biết dưới cái tên là vitamin.
Vitamin là những chất do thực hoặc động vật tạo nên.
Cơ thể ta chỉ cần một lượng rất nhỏ vitamin để quá trình
sống có thể tiếp tục mà không bị xáo trộn. Bệnh sẽ xảy
ra nếu cơ thể thiếu vitamin. Chẳng hạn, thị lực của mắt bị
ảnh hưởng nếu thiếu vitamin A, cơ thể sẽ bị phù thủng
nếu thiếu vitamin B, v.v...
Từ rất lâu trước khi có những hiểu biết về vitamin, người
ta đã nhận xét thấy nếu không dùng một vài loại thực
phẩm nào đó thì bệnh hoạn sẽ xảy ra. Các thủy thủ chẳng
hạn, trong các cuộc hải hành dài ngày, không được ăn rau
tươi sẽ bị chứng bệnh hoại huyết (scorbut). Thế kỷ XVII,
các thủy thủ Anh đã được cung cấp những trái chanh,
cam để ngừa chứng bệnh này. Chính vì vậy mà ngày nay
các thủy thủ người Anh có biệt danh là “limeys” có nghĩa
là “chanh cam”.
Loại vitamin ngừa được chứng hoại huyết là vitamin C
còn có tên gọi là acid ascorbic. Một loại vitamin khác có
trong mầm vài loại thảo mộc. Chẳng hạn, vitamin B có
trong mầm lúa mì. Vitamin C có trong các lá xanh tươi, rễ
cây thân thảo, chồi, vỏ hoa trái, vỏ cây đã phát triển. Điều
kỳ lạ về vitamin C là gan của hầu hết các loài có vú tự sản
xuất ra vitamin C, do đó chẳng bao giờ chúng bị bệnh vì
thiếu vitamin C. Vậy mà người, khỉ, chuột lang là những
16
những động vật có vú nhưng gan lại không sản xuất ra
vitamin C được.
Cơ thể ta sẽ ra sao nếu thiếu vitamin? Các mạch máu
hóa ra giòn hơn, do đó, dễ bị đứt hơn. Trên da và gần
mắt sẽ nổi lên những đốm màu xanh đen. Nướu răng dễ
bị chảy máu. Các hoóc môn và phân hóa tố không hoạt
động mạnh, sức đề kháng các vi trùng trở nên yếu đi và
cuống họng có thể bị viêm.
9
Có hay không sự tái tạo
cơ phận nơi cơ thể sinh vật?
Con người bị cụt chân cụt tay thì không thể “mọc” ra
chân khác, tay khác, nhưng có những sinh vật làm được.
Sự kiện một cơ phận khác mọc ra để thay thế cơ phận bị
cụt, bị mất được gọi là sự tái tạo.
Sự tái tạo này rất khác nhau, tùy theo mỗi loại sinh vật.
Chẳng hạn có vài giống sâu bọ và sò ốc có thể phát triển
một phần tí ti của thân thể ra thành một cơ phận đầy đủ
đã bị mất, nếu cơ phận ấy còn lại dù chỉ chút xíu, thì thời
gian sau sẽ mọc lại “y chang” như cũ.
Nếu chỉ vì cơ thể bạn không thể tái tạo được cái chân
cụt của bạn mà bạn tưởng cơ thể loài người hoàn toàn
không có khả năng tái tạo thì bạn lầm. Sự tái tạo vẫn liên
tục diễn ra trên toàn thân mà bạn không biết đấy thôi.
17
Bằng chứng là lớp da của bạn vẫn bị “tróc” ra đều đều và
được thay bằng lớp da mới đó. Còn nữa, tóc, móng tay,
móng chân... vẫn “mọc” đều đều đấy. Lớp răng sữa của
bạn rụng và được thay bằng lớp răng mới đó chi? Và, tất
nhiên lớp lông vũ nơi loài chim, lớp lông mao nơi loài thú,
lớp vảy... cũng được thay thế - nếu không toàn thể thì ít
ra cũng một phần.
Những cơ thể càng phức tạp - cơ thể con người là phức
tạp nhất - thì khả năng tái tạo càng thấp. Con người và tất
cả loài động vật có vú không thể tái tạo toàn bộ một cơ
quan. Nhưng một vài giống sâu bọ, bò sát thì có thể tái tạo
đầy đủ một “chi” thể bị cụt của nó. Thằn lằn bị đứt đuôi chỉ
ít lâu sau là lại mọc ra đuôi mới. Sự tái tạo mà cơ thể con
người có được không phải là để thay thế mà để sửa chữa,
để vá lại những hư hỏng có mức độ, chẳng hạn như xương
bị gãy có thể lành, da bị mụt ghẻ làm hư có thể lành, một
vài dây thần kinh bị đứt có thể liền lại...
Sự tái tạo diễn ra theo hai cách. Cách thứ nhất là những
mô mới phát triển ra trên bề mặt vết thương. Cách thứ hai
là phần còn lại của bộ phận sẽ biến đổi và tổ chức sắp xếp
lại mà không làm phát sinh chất liệu mới. Trên vết thương
có cái “núm”, cái thẹo, đó chính là cách tái tạo theo kiểu thứ
nhất. Một chi thể mới mọc ra thay chi thể cũ bị cụt là cách
tái tạo thứ hai. Trong sự hình thành chi thể mới ta thấy có
sự xuất hiện của những tế bào loại phôi. Loại tế bào này
hiện diện ngay từ lúc sinh vật vừa ra đời nhưng nó nằm
18
im “đợi thời”. Khi có thời cơ - nghĩa là khi cần đến - những
tế bào này phát triển thành những tế bào đặc biệt để hình
thành chi thể mới. Khi những tế bào này phát triển thì chi
thể mới cũng bắt đầu hình thành.
10
Cái gì đã gây ra chứng sói đầu?
Sói đầu (hói đầu) coi vậy mà không đơn giản, vì có nhiều
chứng sói đầu, trong đó có thứ ta hạn chế được, có thứ ta
phải “chào thua”, đừng hòng chữa chạy gì được.
Người ta nói đủ điều, đủ nguyên nhân về chứng sói đầu.
Nào là già thì sói đầu, nào là thông minh khác thường thì
sói đầu, nào là ngu đần khác thường cũng sói đầu. Có điều
này đáng lưu ý: sói đầu không có nghĩa là rụng ráo nạo,
không còn sợi tóc nào trên đầu.
Sự sói đầu phổ biến nhất mà ta thường thấy là sói đầu
từng phần. Có người tóc vẫn mọc đến tận thái dương, vậy
mà trên đỉnh đầu lại bị sói, hoặc sói ở một vài điểm khác.
Loại sói “đốm” này thật bất trị, chẳng thể chữa chạy gì
được vì nó là thứ sói... di truyền. Sự di truyền của chứng
19
sói “đốm” này chịu ảnh hưởng của phái tính và thường
xuất hiện ở đàn ông nhiều hơn. Nhiều khi các bà mẹ có
“gen di truyền” chứng sói này và đã truyền lại cho con
cái. Một khi chứng sói “đốm” này xuất hiện thì cách hay
nhất là... ráng chịu!
Chứng sói “sớm” xuất hiện nơi đàn ông, khi người này ở
vào khoảng tuổi 25 hoặc sớm hơn. Một trong những nguyên
nhân của chứng sói “sớm” này có thể là do da đầu không
được chăm sóc đúng mức, không giữ cho da đầu sạch sẽ
chẳng hạn. Đôi khi sự mất quân bình của các hormon tính
dục cũng dẫn đến chứng hói đầu sớm. Sự chăm sóc đúng
mức da đầu có thể làm chậm tiến trình của chứng sói đầu
kiểu này.
Sói đầu đôi khi cũng là triệu chứng hoặc dấu hiệu của
tình trạng cơ thể bị nhiễm độc hay một tình trạng nào
đó. Trong trường hợp này, khi sức khỏe được phục hồi
thì tóc lại mọc lại. Đột nhiên bị rụng tóc nhiều có thể là
do bị bệnh thương hàn, bị lên sởi (ban đỏ), viêm phổi,
cúm, hoặc nhiều thứ bệnh do nhiễm trùng. Bị rụng tóc
nhiều cũng có thể do kém dinh dưỡng hoặc các tuyến
bị rối loạn đặc biệt là tuyến yên và tuyến giáp. Sau cùng
bệnh sói đầu có thể do chính da đầu bị rối loạn, bị bệnh,
bị thương tổn.
20
11
Tại sao phụ nữ
lại không có râu?
Loài chim có lông vũ, loài có vú (loài thú) có lông mao.
Nhưng, tại sao động vật có vú lại có lông mao? Có nhiều
lý do.
Giá trị chủ yếu của lông là giữ thân nhiệt. Ở miền nhiệt
đới, lông lại có chức năng ngược lại: để giải nhiệt. Có vài
giống vật ở miền nhiệt đới đã được bộ lông che chở cho
khỏi bị ánh mặt trời chiếu thẳng vào. Nhưng, những lông
dài ở một vài nơi trên cơ thể động vật được dùng vào mục
đích đặc biệt. Chẳng hạn cái bờm sư tử, bờm ngựa để che
chở cái cổ của con vật khỏi bị răng kẻ thù cắn vào. Lông
đuôi dài của súc vật chủ yếu là đuổi ruồi muỗi. Cái mào dài
của vài giống chim là để hấp dẫn con mái. Bộ lông dài và
cứng của con nhím là phương tiện tự vệ của nó. Cũng có
khi lông trở thành cơ quan xúc giác của động vật. Trong
râu mèo có những sợi thần kinh đặc biệt và rất nhạy cảm
đối với xúc giác. Bạn thấy đó, lông được dùng vào nhiều
mục đích tùy theo từng loại động vật. Nhưng đối với con
người thì sao? Cái công dụng thực tiễn của lông - có ba
tên ở ba nơi là tóc, râu, lông - là những gì?
Đứa trẻ vừa mới lọt lòng mẹ đã có sẵn một lớp lông
tơ rất mịn phủ toàn thân. Lớp lông này sẽ sớm được thay
thế bằng những lớp lông tương đối lớn hơn nhưng cũng
còn mịn lắm. Đến tuổi dậy thì, lớp lông này lại bị thay thế
21
bằng một lớp lông khác và là lớp sau cùng. Sự phát triển
của lớp lông cuối cùng này bị tuyến sinh dục chi phối. Các
hormon phái nam tác động theo cách phát triển mạnh
râu và lông khắp toàn thân trong khi đó tóc bị ngăn chặn
hoặc chậm phát triển. Sự phát động của hormon phái nữ
thì ngược lại. Tóc trên đầu phát triển mạnh trong khi râu
và lông thì ngưng. Do đó, phụ nữ không có râu vì những
tuyến và hormon khác trong cơ thể đã tác động để ngăn
ngừa sự phát triển lông ở những nơi này.
Để giải thích tại sao lại như vậy và tại sao tuyến và hormon nơi đàn ông lại kích thích mọc râu, có lẽ ta phải đi
ngược trở lại thời kỳ sơ khai của loài người. Ở vào một
thời nào đó, chức năng của bộ râu có lẽ là để giúp người
ta, từ đàng xa, phân biệt được đàn ông, đàn bà. Cũng có
thể, bộ râu làm cho người đàn ông có vẻ oai vệ hơn, nhờ
đó trở nên hấp dẫn hơn đối với đàn bà. Thiên nhiên luôn
luôn tiếp sức cho đàn ông trở nên hấp dẫn đối với người
khác phái như thiên nhiên đã làm như vậy cho nhiều giống
chim, giống thú khác.
12
Tóc của ta mọc lẹ
như thế nào?
Đối với những người bắt đầu bị sói đầu thì tóc mọc
chậm quá. Còn đối với con nít thì tóc lại mọc nhanh quá.
22
Bình quân mỗi sợi tóc mỗi tháng mọc dài ra được khoảng
2,5cm. Trong khoảng thời gian một ngày, tóc mọc theo những
tốc độ khác nhau nhưng theo cùng “một nhịp”. Ban đêm, tóc
mọc chậm hơn. Nhưng khởi đầu một ngày, tốc độ ấy tăng
lên. Tốc độ tóc mọc cao nhất là từ 10 đến 11 giờ sáng. Kế
đó, tóc giảm lần tốc độ. Và từ 16 đến 18 giờ thì tốc độ mọc
tóc lại tăng lên. Tất nhiên tốc độ này có tăng thì cũng nhỏ,
rất nhỏ thôi, đến nỗi ta không thể nào nhìn thấy được. Bởi
vậy đừng có bạn nào dại dột đợi đến 10 giờ sáng ra đứng
trước kiếng để xem tóc mọc. Tuy nhiên, nếu như tất cả các
sợi lông trên cơ thể đều “nhường” cái phần mọc thêm chỉ cho
một sợi thôi thì bạn có hy vọng nhìn thấy sợi ấy từ từ mọc
dài ra. Và mỗi phút sợi lông (tóc) đặc biệt này sẽ mọc dài ra
khoảng 3cm và như vậy mỗi năm nó mọc dài ra được 60km!
Tóc của loài người không phải là giống nhau đâu. Tóc
màu vàng hoe thì nhỏ, mềm hơn tóc đen, cứng và to sợi.
Người có mái tóc đỏ thì các sợi tóc thô và thưa hơn cả.
13
Ruột dài bằng nào?
Hầu hết chúng ta chỉ có ý tưởng mơ hồ rằng trong nội
tạng của ta có những “cuộn”, trong đó “cuộn ruột” - một
cái “hành lang” dài mà thức ăn phải đi qua trong quá trình
tiêu hóa - là đáng ngạc nhiên nhất. Nhưng ít ai hiểu một
cách rõ ràng, tường tận cách thức vận hành của ruột non
ra làm sao.
23
Chiều dài của ruột động vật tùy thuộc vào loại thực
phẩm mà động vật đó ăn. Ruột của động vật ăn thịt thì
ngắn hơn vì trong quá trình tiêu hóa, nó có ít việc phải làm
hơn. Thực phẩm - thịt là chủ yếu - tự nó, đã làm một phần
công việc của quá trình tiêu hóa rồi. Những động vật ăn
nhiều rau được cho là có bộ ruột dài hơn bộ ruột của động
vật ăn nhiều thịt. Bộ ruột sống của con người có chiều dài
vào khoảng 3m. Nhưng khi người chết, ruột mất tính đàn
hồi, do đó giãn dài ra tới 8,5m.
Hầu hết thành ruột đều làm bằng sợi để ruột non có
thể tác động vào thực phẩm khi thực phẩm đi qua. Ruột
cũng tiết ra một thứ chất dịch trộn vào thức ăn. Để có thể
tiết ra dịch này, ruột gồm vô số những vòng. Mỗi vòng
giữ lại một chút xíu thức ăn khi thức ăn đi qua. Giữ lại và
“xử lý” bằng cách làm vữa ra và tiêu hóa trong khoảng 30
phút, sau đó chuyển thức ăn cho vòng kế tiếp. Để giúp cho
việc tiêu hóa, thành ruột non có
khoảng 20000 tuyến nhỏ. Các
tuyến này tiết ra khoảng từ 5
đến 10 lít dịch tiêu hóa. Chất
dịch này làm lỏng và làm mềm
để thực phẩm trở thành một
chất sền sệt.
Bằng một kính hiển vi phóng
đại, nhìn vào thành ruột, ta sẽ
thấy thành ruột không trơn
24
láng, trái lại nom như lót nhung. Đó là vô vàn vô số mao
trạng ruột. Chính các mao trạng này ra lệnh cho các tuyến
tiết ra dịch tràng, đồng thời các mao trạng này cũng góp
phần vào quá trình tiêu hóa thực phẩm.
Thực phẩm chưa được tiêu hóa bởi dịch vị sẽ được tiêu
hóa tiếp tục do các vi khuẩn sống ở phần ruột dài nhất được
gọi là “không tràng”, giai đoạn này trong quá trình tiêu hóa
được gọi là phần rã hoặc thúi rữa. Hàng tỉ tỉ vi khuẩn sẽ
làm phân rã thức ăn còn “thô, cứng” như vỏ trái cây chẳng
hạn, đồng thời hấp thu dưỡng trấp mà cơ thể cần.
Trên đây chỉ là khái lược cách thức và quá trình tiêu hóa.
Cơ quan tiêu hóa rất phức tạp và là một trong những cơ
quan kỳ diệu nhất của cơ thể ta. Nó có khả năng biến thức
ăn - gồm rất nhiều thứ, loại khác nhau - thành dưỡng chất
để nuôi toàn bộ cơ thể.
14
Bạn biết gì về sán lãi?
Nói đến sán lãi chắc chẳng phải là điều thú vị gì. Nhưng
có nhiều người khổ vì nó lắm, do đó chắc họ cũng muốn
biết sán lãi là cái giống gì mà tác hại cho cơ thể đến như vậy.
Trước hết, sán lãi là một loài sâu, mình dẹp, sống ký sinh
- nghĩa là ăn bám - trong ruột non của các động vật mà
ta gọi là vật chủ (host). Thực phẩm của sán lãi chính là các
dưỡng trấp nuôi cơ thể vật chủ. Thường thì sán lãi chỉ sống
25
ký sinh nơi các vật chủ là các động vật có xương sống như
cá, chó, mèo và tất nhiên, cả con người nữa. Trên đầu sán lãi
có giác khẩu mà nó dùng để bám dính vào bên trong thành
ruột non. Điều lạ lùng là sán lãi có đủ mắt, tai đàng hoàng.
Sán lãi có hệ thống cơ bắp nhưng nó hầu như chẳng dùng
tới. Nó cũng có não bộ nhưng hết sức thô thiển. Điều đặc
biệt là sán lãi không có miệng và ống tiêu hóa. Nó hấp thu
dưỡng trấp của vật chủ qua chính vách cơ thể của chúng.
Sán lãi có nhiều thứ, có thứ chỉ dài vài ba milimét, có
thứ dài tới 8m, 9m, đồng thời mỗi thứ lại có hình dạng
khác nhau. Có thể chúng không có “đốt” hoặc gồm bởi
một chuỗi phần nom như những “đốt”. Những đốt này từ
từ lớn lên, nối dài từ ngay phía sau đầu. Chúng cũng có
phái tính, nghĩa là có con đực, con cái.
Bằng cách nào sán lãi chui vào ruột non của động vật
rồi nằm lì ở đó ăn bám, sanh con đàn cháu đống, phá hoại
vật chủ? Nó chui được vào ruột non động vật chủ như thế
này: sán lãi đẻ trứng, trứng theo chất bã vật chủ thải ra
ngoài. Trứng đó dính vào thực phẩm. Khi vật chủ khác ăn
thực phẩm có dính trứng lãi, ở ruột non vật chủ, trứng lãi
gặp môi trường thuận tiện, nở ra thành ấu trùng và ở đó
luôn cho đến chết. Điều quái ác là ấu trùng sán lãi không
chỉ nằm trong ruột non để ăn bám mà còn mò mẫm đến
những cơ quan nội tạng khác nữa của vật chủ để ăn và để
phá. Khi “định cư” ở một chỗ nào, ấu trùng sán lãi tự tạo
cho mình một cái vỏ cứng.
26
Ta lấy thí dụ ấu trùng sán lãi với cái vỏ cứng nằm “định
cư” trong bắp thịt heo hoặc bò. Và, ta ăn thịt “heo gạo”
đó. Nếu không nấu nướng kỹ để giết chết ấu trùng sán lãi
nằm trong vỏ cứng thì khi vào đến ruột non - lại gặp môi
trường thuận lợi - ấu trùng phá vỏ cứng chui ra, bám vào
ruột non, ăn bám, lớn lên...
Cái hại của sán lãi trước hết là nó ăn mất một phần chất
bổ dưỡng dùng để nuôi cơ thể vật chủ, sau đó là do nó tiết
ra một chất độc. Trong những trường hợp họa hiếm sán lãi
mới giết chết được vật chủ. Nhưng vật chủ có sán lãi thì
không mạnh khỏe được. Ngày nay có nhiều thứ thuốc để
trục xuất sán lãi ra khỏi ruột non vật chủ.
15
Bệnh chó dại là bệnh gì?
Bệnh chó dại là bệnh mà loài người biết đến từ rất xa
xưa. Thời đó, khi người hoặc động vật mắc bệnh này thì
cái chết cầm tay. Không có cách gì chữa chạy. Bệnh gì mà
kinh khủng như vậy?
27
Bệnh chó dại là thứ bệnh tác động vào ngay não bộ và
hệ thần kinh. Chính vì vậy mà nó rất nguy hại cho cơ thể
người, vật bị bệnh. Bệnh này do một thứ vi rút nhỏ đến
nỗi kính hiển vi loại thông thường nhìn cũng không ra.
Vi rút bệnh dại có thể tác hại cho mọi loài động vật
máu nóng. Nhưng con người mắc bệnh này thường do bị
con chó mang vi rút này cắn. Bởi vậy, khi bị chó cắn phải
mang con chó này đi thử xem nó có bị nhiễm vi rút này
hay không. Đừng ỷ y, hối không kịp đâu! Bởi vì không dễ
gì chỉ nhìn mà biết được con chó nào có nhiễm vi rút bệnh
dại. Từ khi nhiễm cho đến khi phát tác phải mất khoảng từ
4 đến 6 tuần lễ. Ta bị con chó đang thời kỳ “ủ” bệnh cắn
thì ta cũng vẫn bị lây. Khi bị lây bệnh, thoạt tiên, con chó
hơi gây gấy sốt và bỏ ăn. Kế đó nó trở nên bấn loạn, sùi
bọt mép, gầm gừ, sủa và cứ như muốn táp, cắn. Đến giai
đoạn này rồi thì “thua”, hết thuốc chữa. Khi bệnh đã phát
tác, con chó chỉ sống được trong khoảng ba đến năm ngày.
Nơi con người, triệu chứng của bệnh cũng tương tự
như con chó. Thoạt tiên người bị bệnh lờ đờ, ít nói, ít
cử động. Kế đó, thấy gây gấy sốt và cảm thấy có cái gì
đó “kỳ kỳ” trong cơ thể. Kế đó là các bắp thịt co rút dữ
dội và môi miệng chúm ra như đòi uống nước hoặc bị
co giật. Co giật bắp thịt là do hệ thần kinh bị vi rút tấn
công. Người ta thường cho rằng người bệnh sợ nước - do
đó bệnh còn có cái tên “thông thái” bằng tiếng La Tinh là
“hydrophobia”, có nghĩa là sợ nước - nhưng thật ra không
28
phải vậy. Cái chết do bệnh chó dại thường là vì các bắp
thịt điều khiển sự hô hấp bị co giật. Một cái chết như vậy
hiển nhiên là đau đớn lắm lắm. Bởi vậy việc ngăn ngừa
bệnh chó dại phải là việc ưu tiên quan trọng.
Vết chó cắn phải rửa thật sạch và chích serum trong ba
ngày. Phải ngăn ngừa ngay lập tức việc vi rút chó dại xâm
nhập óc và hệ thần kinh. Phải tiếp tục chích thứ thuốc
đặc chế này sau khi bị chó dại cắn và chích liên tục trong
khoảng hai, ba tuần lễ. Nhưng, trên hết, vẫn là làm sao để
vi rút chó dại đừng xâm nhập vào cơ thể.
16
Con vi rút có thể
nhìn được không?
Vi rút (virus) là sinh vật nhỏ nhất có thể gây ra bệnh
hoạn. Người ta không thể nhìn thấy nó, dù bằng kính hiển
vi loại thông thường. Nhưng điều này không có nghĩa là
các nhà khoa học bó tay, khô...
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Hãy trả lời em tại sao?. T.4 / Đặng Thiềân Mẫn d. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2009.
204tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Đặng Thiên Mẫn d.
001 -- dc 22
H412
4
đặng thiền mẫn dịch
4
Chương 1
Thân thể con người
1
Xương của tai làm bằng những
chất gì?
Sức mạnh của bộ xương người bình thường, mạnh khỏe
thật đáng kinh ngạc. Nói rằng bộ xương của ta có sức mạnh
gấp 2 lần một cây sồi đủ tuổi thì không phải là nói ngoa đâu.
Xương cần phải cứng, mạnh vì nó chính là bộ khung
nâng đỡ cho cả cơ thể con người. Xương có hình dạng,
kích cỡ khác nhau tùy theo nó là xương của loài động vật
nào và cũng tùy chức năng của xương đó. Cá và chim nhỏ
có xương nhỏ xíu và nhẹ. Xương voi thì to và nặng tới vài
trăm kí.
Tuy nhiên, dù là xương gì, của loài động vật nào thì cấu
tạo của xương vẫn giống nhau. Xương là một chất liệu cứng,
có màu trắng xám, trong đó khoảng 2/3 là thành phần vô
cơ tức là chất khoáng, đặc biệt là chất phốt phát vôi. Nhờ
chất này, xương trở nên cứng, nhưng đồng thời nó cũng
làm cho xương hóa giòn hơn. Thành phần khác nữa của
xương là các chất hữu cơ. Các chất này làm cho xương
5
bền nhờ đó khó bị gãy bể. Ở một vài loại xương có chất
béo - tức là tủy - và là chất hữu cơ có giá trị dinh dưỡng
cao. Trong xương cũng có một ít nước, dường như nước
này giảm đi khi cơ thể trở nên già. Khi bị khô đi như vậy
và vì chất khoáng tăng lên, xương hóa ra giòn, dễ gãy, bể,
đồng thời khi gãy thì xương rất lâu lành.
Nếu bạn bị gãy xương cánh tay chẳng hạn thì phải sắp
đặt lại cho đúng khớp và bó chặt nó để giữ nguyên vị trí,
đồng thời cánh tay không cử động, nhờ đó xương sẽ tự
hàn lại với nhau. Khi lành rồi thì cánh tay sẽ cử động lại
bình thường.
Xương tự hàn lại với nhau nhờ những tế bào gọi là
nguyên bào xương. Những tế bào này tiết ra chất vôi làm
cho chỗ gãy hàn dính cứng lại với nhau. Cũng chính những
tế bào này giúp cho sự tăng trưởng tự nhiên của xương.
Ngoài ra, trong xương còn có tế bào gọi là nguyên bào hủy
xương tách bỏ những mô già, nhờ đó xương tăng trưởng.
Quá trình vừa tách bỏ vừa phát sinh thay thế thường xuyên
diễn ra trong xương, nhờ đó xương không bị hao mòn.
2
Calcium là chất liệu gì?
Cơ thể của một người trung bình chứa khoảng 1,5kg
chất calcium. Hầu hết calcium này tích tụ ở xương. Calcium - hay can xi - là thành phần cấu tạo đặc biệt của
6
xương. Ta có thể so sánh các chất cấu tạo xương với các
chất cấu tạo thành hồ bê tông. Xương có một loại sợi là
“collagen”. Loại sợi này giống như sợi thép dẻo làm “cốt” cho
bê tông. Chất can-xi tạo thành một lớp do các sợi này kết lại.
Chất can-xi trong xương sẽ thay đổi khi ta trở nên già.
Những năm đầu tiên của cuộc đời, lúc ta còn là đứa bé,
xương của ta chứa rất ít can-xi, và do đó, xương lúc đó rất
“dẻo”. Đứa trẻ dễ uốn éo đủ kiểu mà xương chẳng hề hấn
gì. Lần lần, đến khoảng tám mươi tuổi, xương người ta lúc
đó gồm tới 80% là chất can-xi. Do đó rất dễ gãy, bể.
Một trong những lý do khiến trẻ em nên uống nhiều
sữa là vì sữa là một thực phẩm lý tưởng chứa chất
can-xi, và tất nhiên, trẻ em cần nhiều can-xi để phát triển
xương. Trong khoảng 1 lít sữa bò có tới 2 gam can-xi. Phô
ma, bơ, yaourt cũng cung cấp nhiều can-xi. Ở những địa
phương mà chất can-xi hiếm, khó kiếm thì hàm răng của
cư dân vùng đó hay bị hư răng và gãy xương.
Nguyên nhân thông thường của chứng thiếu can-xi
là do can-xi trong nước uống đã bị khử, làm cho nước
trở nên “cứng” vì có hòa tan nhiều muối vô cơ. Nước
cứng làm cho xà bông không ra bọt. Chất can-xi trong
nước cứng bị hóa hợp với acid và muối trong xà bông
tạo nên một hợp chất không hòa tan. Sự kiện chất
can-xi trong nước uống bị phân hủy có ảnh hưởng xấu đến
thực phẩm được nấu trong nước đó. Nếu nước có nồng độ
7
can-xi quá thấp, thực phẩm thường bị mất một phần canxi có sẵn trong chính thực phẩm vì nó phải “nhả” ra trong
nước nấu. Nhưng nếu được nấu trong nước cứng thì thức
phẩm sẽ “nạp” thêm can-xi, do đó có thể trở nên khó ăn,
mùi vị thực phẩm bị biến đổi.
3
Hàm răng của ta
được cấu tạo như thế nào?
Mỗi ngày, ít nhất bạn cũng chà răng hai lần, phải không?
Nếu làm như vậy, và chà mạnh, bạn có bao giờ thắc mắc
hỏi tại sao chà như vậy mà răng không bị rách tét ra? Thật
ra thì răng của bạn khá cứng, cũng cỡ gần gần như đá chớ
không ít đâu.
Bất cứ loại răng nào cũng gồm hai phần: phần chân
răng cắm chặt vào hàm và phần vành răng mà ta nhìn thấy
trong miệng. Các chất cấu tạo nên răng gồm hầu hết là
muối khoáng, trong đó can-xi và phốt pho là nhiều nhất.
Chất men là một chất cứng, sáng bóng và phủ ngoài vành
răng. Xương răng là một chất liệu giống như xương tạo
nên chân răng. Ngà răng là chất liệu giống như ngà phủ
ngoài vành răng. Tủy răng nằm ở giữa răng (trung tâm của
răng). Tủy răng là một mô liên kết trong đó có tiểu động
mạnh, tiểu tĩnh mạch và dây thần kinh. Tủy răng “đi vào”
trong răng qua một lỗ ở dưới chân răng.
8
Soi gương, bạn thấy răng của bạn có kích cỡ và hình
dạng khác nhau. Trên một hàm răng ta thấy có bốn thứ
răng, mỗi thứ có chức năng riêng biệt. Răng cửa, ở trước
hàm dùng để cắt thức ăn, mỗi hàm có bốn răng cửa. Răng
nanh, mỗi hàm hai cái, nằm hai bên răng cửa dùng để xé
thức ăn. Răng nanh chân nhọn, vành cứng, nhọn và dài.
Răng hàm nhỏ (răng tiền hàm) nằm kế răng nanh và trước
răng hàm. Mỗi hàm có bốn răng tiền hàm. Răng tiền hàm
có thể có một hoặc hai chân nhọn, mặt trên phẳng có
hai “mấu” (cusps), dùng để nhai nghiền thức ăn. Sau cùng
là răng hàm, nằm phía trong cùng, mỗi hàm có sáu răng
hàm. Răng hàm có hai hay ba chân răng, mặt trên phẳng
và có thể có đến bốn “mấu”. Răng hàm dùng để “nghiền”
nhỏ thức ăn.
4
Răng của con người có phải
cùng một thứ với răng súc vật?
Khi đào được một địa khai, hóa thạch mà gặp được một
cái răng thì nhà khoa học mừng lắm. Răng là một manh
mối rất quan trọng cho ta biết nó là của loài động vật nào,
thuộc bộ nào (ăn cỏ, ăn thịt, ăn sâu bọ), chẳng hạn như thú
ăn thịt thì có răng nanh dài để xé, thú gặm nhấm có răng
cửa dài để “gặm” và thú ăn cỏ có răng hàm to để nghiền.
Mỗi động vật - bất kể là ngựa, bò, mèo, chuột, chó - đều
9
có bộ răng thích hợp cho sinh hoạt, thực phẩm và thậm
chí thích hợp với bản chất của chúng. Như con hải ly chẳng
hạn, có răng dùng để cắt rất mạnh và lớn. Răng nanh của
chó và mèo thì dài, nhọn, sắc để nó có thể dễ dàng giữ
con mồi (trong miệng). Răng hàm của chúng cũng sắc để
cắt xé thịt sống và gặm xương. Răng sóc dễ dàng gặm qua
cả vỏ cứng của các loại hạt. Ngay cả cá cũng có răng để
có thể nhai thức ăn. Một vài loại cá mập có răng để xé thịt
những con cá khác, trong khi đó một vài loại cá mập chỉ có
răng cùn để nhai, nghiền các loại sinh vật biển có vỏ cứng
như cua, sò. Loại cá chó (pike) có răng quặp vào bên trong
khi nó nuốt mồi và sau đó lại duỗi thẳng ra. Răng rắn thì
quặp vào phía trong để con mồi không thể thoát ra được.
Bộ răng của người - như ta biết - là một phức hợp, nghĩa
là có nhiều chức năng, cái nọ khít với cái kia. Theo các nhà
khoa học, cách phối trí của răng con người là một bằng
chứng chứng tỏ con người là giống ăn tạp, nghĩa là nó là
động vật vừa ăn cỏ (thực vật) vừa ăn thịt (động vật) và
vừa ăn sâu bọ.
5
Bạn biết gì về nước miếng?
Bạn hãy tưởng tượng mình sắp sửa ăn một trái chanh,
miệng cắn vào trái chanh. Bạn đã thấy nước miếng trong
miệng của bạn ứa ra chưa? Đó là một trong những điều
10
rất thú vị về tuyến nước miếng. Tuyến này không vận hành
một cách máy móc, tự động mà tùy thuộc vào sự điều khiển
của não. Có ba cặp tuyến nước miếng: một ở phía trước tai,
một ở phía dưới lưỡi và một ở phía hàm dưới.
Các tuyến nước miếng này tự động tiết ra số lượng và
loại nước miếng thích hợp với nhiệm vụ trước mắt. Những
động vật ăn thức ăn ẩm, có lộn nước thì cần ít nước miếng.
Loài cá không có tuyến nước miếng nhưng loài chim ăn
hạt thì tuyến nước miếng lại rất phát triển. Khi con bò ăn
thức ăn tươi, tuyến nước miếng của nó tiết ra vào khoảng
50 lít. Nhưng khi ăn thức ăn khô tuyến ấy tiết ra tới 200
lít. Tuyến nước miếng lớn nhất của con người, trong suốt
một đời người, tiết ra lượng nước miếng khoảng 25000 lít!
Mỗi tuyến nước miếng có chức năng riêng. Tuyến lớn
nhất ở mang tai (paraotid) tiết ra lượng lớn nước miếng
lỏng. Mục đích của loại nước miếng này là làm hòa tan, làm
ẩm, nhão để thực phẩm trở nên dễ tiêu hóa. Tuyến nước
miếng nằm ở hàm dưới tiết ra thứ nước miếng làm cho
thực phẩm trở nên “trơn”, dễ nuốt hơn. Tuyến nước miếng
11
nào hoạt động mạnh hơn - nghĩa là tiết ra nhiều nước
miếng hơn - là tùy thứ thực phẩm mà ta ăn. Nhai một trái
táo chẳng hạn thì chẳng cần gì nhiều đến thứ tuyến nước
miếng làm ẩm thức ăn, nhưng nếu nhai loại bắp rang thì
tuyến nước miếng ở mang tai phải hoạt động mạnh để tiết
ra nhiều nước miếng lỏng.
Nước miếng của người chứa chất phân hóa tố có tên
là “amylase”. Loại phân hóa tố này tác động vào tinh bột,
biến đổi các phân tử thành “dextrin” và sau đó thành đường
“man tô”.
6
Cái gì khiến ta có cảm giác đói?
Đó là tiếng còi báo động của não gởi cho cơ thể. Nội
dung của sự báo động này là trong máu đang thiếu chất
dinh dưỡng. Ta hãy xem cơ chế báo động này diễn ra như
thế nào?
Cơ thể loài người, cũng như mọi loài sinh
vật, phải duy trì được tình trạng quân bình
của sự trao đổi chất. Có nghĩa là sự quân
bình giữa cung và cầu, giữa cung cấp và
tiêu hao các “chất đốt” của thân thể.
Để điều phối sự quân bình này, ta
có một hệ thống báo động gồm:
đói, khát, sự ngon miệng.
12
Trong não ta có một trung tâm báo động “đói”. Nó họat
động như một cái “thắng” tác động trên sinh hoạt của cái
bao tử và ruột non. Khi trong máu có đủ chất dinh dưỡng,
trung tâm này ngưng các hoạt động của bao tử và ruột.
Nhưng khi trong máu thiếu chất dinh dưỡng thì trung tâm
này ra lệnh cho bao tử và ruột “quậy”. Bởi vậy, khi đói, bạn
thấy bao tử và ruột sôi réo, kêu “óc óc” là vì vậy đó.
Tuy nhiên, không phải hễ khi nào bao tử rỗng là ta có
cảm giác đói. Một người đang bị sốt, bao tử người đó rỗng
tuếch, nhưng có cảm thấy đói đâu. Lúc đó, cơ thể của họ
vận dụng các protein dự trữ ra xài. Đói có nghĩa là cơ thể
ta đòi hỏi “nhiên liệu” như cái máy hết xăng đòi phải có
xăng để tiếp tục chạy. Một người thực sự đói thì cái gì ăn
cũng được. Nhưng chính cảm giác “ngon” là dấu hiệu cho
ta thấy ta chọn chế độ ăn uống pha trộn mà cơ thể ta
cần. Chẳng hạn, ngồi vào bàn ăn, trước tiên, bạn phải làm
một tô súp. Kế đó bạn dùng tiếp rau, thịt... Khi đã đủ, bạn
làm thêm món “tráng miệng” như bánh, kẹo, cà phê, trái
cây... Cũng một lượng như vậy, thay vì nhiều món, bạn chỉ
dùng một món độc nhất là khoai tây mà thôi thì bạn sẽ
thấy khó nuốt lắm.
Sinh vật có thể sống trong bao lâu mà không cần ăn?
Điều này tùy thuộc vào sự trao đổi chất. Sinh vật máu nóng
có cơ chế trao đổi chất mạnh hơn và do đó quá trình tiêu
hao “nhiên liệu” lẹ hơn, có nghĩa là khả năng nhịn ăn kém
hơn. Điều đáng nói là những sinh vật càng nhỏ càng vận
13
động nhiều thì quá trình tiêu hao “nhiên liệu” càng lẹ, do
đó càng cần được cung cấp lương thực sớm hơn.
7
Vị giác của ta vận hành
như thế nào?
Sự xuất hiện của vị giác tùy thuộc vào tác động của các
nguyên tử của một chất trên cơ quan cảm giác đặc biệt
của cơ thể ta. Nếu các nguyên tử của một chất không có
sự vận động tự do thì ta không có thể có vị giác. Do đó
hầu như ta chỉ có vị giác của một chất khi chất này được
hòa tan trong một dung môi.
Sinh vật sống dưới nước có những “núm” vị giác trên
toàn thân của nó. Chẳng hạn, con cá có thể “nếm” bằng
cái vây đuôi chớ chẳng cần đến môi, lưỡi. Sinh vật sống
trên cạn thì có “núm” vị giác tập trung ở miệng và với con
người thì chỉ tập trung ở lưỡi mà thôi.
Quan sát cái lưỡi trong gương, bạn thấy mặt trên của
lưỡi phủ đầy những hạt nhỏ li ti được gọi là “nhũ”. Núm vị
giác của ta nằm trong tấm thảm nhũ này.
Số lượng “núm” vị giác trên lưỡi sinh vật nhiều hay ít
tùy chủng loại động vật. Chẳng hạn, cá voi “nuốt trọng”
cả đám cá con, nó chẳng nhai nhấm gì ráo, do đó, cá voi
ít có núm vị giác, có giống cá voi lại chẳng có núm vị giác
nào cả. Loài heo chỉ có khoảng 5500 “núm” vị giác nhưng
14
con bò có tới 35000 núm và sơn dương có tới 50000 núm.
Vị giác của con người coi vậy mà thua cả con heo vì chỉ
có khaỏng 3000 “núm” mà thôi. Núm vị giác trên lưỡi con
người lại được phân thành những “vùng” khác nhau, mỗi
vùng phân biệt vị giác khác nhau. Núm vị giác chua nằm
phía trong cùng của lưỡi. Núm vị giác mặn nằm phía hai
bên lưỡi. Núm vị ngọt nằm ở đầu lưỡi. Và chỗ nào không có
núm vị giác thì chỗ đó không tiếp thu được bất cứ vị nào.
Vị là phần rất quan trọng trong quá trình vị giác, tức là
nếm. Có đến một nửa những gì mà ta cho là vị giác thật
ra lại chẳng phải vị giác mà thật ra chỉ là “mùi” tức là thuộc
phạm vi ngửi. Khứu giác! Lưỡi ta cảm thấy gì, nếm được gì
khi ăn táo, uống cà phê, ăn cam...? Uống cà phê chẳng hạn,
trước hết ta cảm thấy ấm ấm, cảm thấy đăng đắng do chất
ca-phê-in bị rang, rồi cảm thấy ngọt ngọt (nếu ta bỏ đường
vào). Nhưng không phải mãi đến lúc hơi ấm chạm vào cuống
họng và mũi, gởi những tín hiệu đến óc ta mới cảm nhận
được vị cà phê. Bằng chứng là nếu bạn bịt mũi lại, chẳng
hạn hầu như không cảm nhận được vị cà phê mà thậm chí
bạn sẽ thấy không thể phân biệt nổi giữa cái bạn đang ăn
với cái bạn đang uống.
8
Tại sao ta cần vitamin C?
Thực phẩm ta ăn vào cơ thể trở thành những chất rất
quan trọng - như protein, chất béo, carbohydrate, nước,
15
các chất khoáng - để nuôi cơ thể. Nhưng nếu chỉ có những
chất ấy thôi thì không đủ. Để duy trì được sự sống, ta còn
những chất khác nữa được biết dưới cái tên là vitamin.
Vitamin là những chất do thực hoặc động vật tạo nên.
Cơ thể ta chỉ cần một lượng rất nhỏ vitamin để quá trình
sống có thể tiếp tục mà không bị xáo trộn. Bệnh sẽ xảy
ra nếu cơ thể thiếu vitamin. Chẳng hạn, thị lực của mắt bị
ảnh hưởng nếu thiếu vitamin A, cơ thể sẽ bị phù thủng
nếu thiếu vitamin B, v.v...
Từ rất lâu trước khi có những hiểu biết về vitamin, người
ta đã nhận xét thấy nếu không dùng một vài loại thực
phẩm nào đó thì bệnh hoạn sẽ xảy ra. Các thủy thủ chẳng
hạn, trong các cuộc hải hành dài ngày, không được ăn rau
tươi sẽ bị chứng bệnh hoại huyết (scorbut). Thế kỷ XVII,
các thủy thủ Anh đã được cung cấp những trái chanh,
cam để ngừa chứng bệnh này. Chính vì vậy mà ngày nay
các thủy thủ người Anh có biệt danh là “limeys” có nghĩa
là “chanh cam”.
Loại vitamin ngừa được chứng hoại huyết là vitamin C
còn có tên gọi là acid ascorbic. Một loại vitamin khác có
trong mầm vài loại thảo mộc. Chẳng hạn, vitamin B có
trong mầm lúa mì. Vitamin C có trong các lá xanh tươi, rễ
cây thân thảo, chồi, vỏ hoa trái, vỏ cây đã phát triển. Điều
kỳ lạ về vitamin C là gan của hầu hết các loài có vú tự sản
xuất ra vitamin C, do đó chẳng bao giờ chúng bị bệnh vì
thiếu vitamin C. Vậy mà người, khỉ, chuột lang là những
16
những động vật có vú nhưng gan lại không sản xuất ra
vitamin C được.
Cơ thể ta sẽ ra sao nếu thiếu vitamin? Các mạch máu
hóa ra giòn hơn, do đó, dễ bị đứt hơn. Trên da và gần
mắt sẽ nổi lên những đốm màu xanh đen. Nướu răng dễ
bị chảy máu. Các hoóc môn và phân hóa tố không hoạt
động mạnh, sức đề kháng các vi trùng trở nên yếu đi và
cuống họng có thể bị viêm.
9
Có hay không sự tái tạo
cơ phận nơi cơ thể sinh vật?
Con người bị cụt chân cụt tay thì không thể “mọc” ra
chân khác, tay khác, nhưng có những sinh vật làm được.
Sự kiện một cơ phận khác mọc ra để thay thế cơ phận bị
cụt, bị mất được gọi là sự tái tạo.
Sự tái tạo này rất khác nhau, tùy theo mỗi loại sinh vật.
Chẳng hạn có vài giống sâu bọ và sò ốc có thể phát triển
một phần tí ti của thân thể ra thành một cơ phận đầy đủ
đã bị mất, nếu cơ phận ấy còn lại dù chỉ chút xíu, thì thời
gian sau sẽ mọc lại “y chang” như cũ.
Nếu chỉ vì cơ thể bạn không thể tái tạo được cái chân
cụt của bạn mà bạn tưởng cơ thể loài người hoàn toàn
không có khả năng tái tạo thì bạn lầm. Sự tái tạo vẫn liên
tục diễn ra trên toàn thân mà bạn không biết đấy thôi.
17
Bằng chứng là lớp da của bạn vẫn bị “tróc” ra đều đều và
được thay bằng lớp da mới đó. Còn nữa, tóc, móng tay,
móng chân... vẫn “mọc” đều đều đấy. Lớp răng sữa của
bạn rụng và được thay bằng lớp răng mới đó chi? Và, tất
nhiên lớp lông vũ nơi loài chim, lớp lông mao nơi loài thú,
lớp vảy... cũng được thay thế - nếu không toàn thể thì ít
ra cũng một phần.
Những cơ thể càng phức tạp - cơ thể con người là phức
tạp nhất - thì khả năng tái tạo càng thấp. Con người và tất
cả loài động vật có vú không thể tái tạo toàn bộ một cơ
quan. Nhưng một vài giống sâu bọ, bò sát thì có thể tái tạo
đầy đủ một “chi” thể bị cụt của nó. Thằn lằn bị đứt đuôi chỉ
ít lâu sau là lại mọc ra đuôi mới. Sự tái tạo mà cơ thể con
người có được không phải là để thay thế mà để sửa chữa,
để vá lại những hư hỏng có mức độ, chẳng hạn như xương
bị gãy có thể lành, da bị mụt ghẻ làm hư có thể lành, một
vài dây thần kinh bị đứt có thể liền lại...
Sự tái tạo diễn ra theo hai cách. Cách thứ nhất là những
mô mới phát triển ra trên bề mặt vết thương. Cách thứ hai
là phần còn lại của bộ phận sẽ biến đổi và tổ chức sắp xếp
lại mà không làm phát sinh chất liệu mới. Trên vết thương
có cái “núm”, cái thẹo, đó chính là cách tái tạo theo kiểu thứ
nhất. Một chi thể mới mọc ra thay chi thể cũ bị cụt là cách
tái tạo thứ hai. Trong sự hình thành chi thể mới ta thấy có
sự xuất hiện của những tế bào loại phôi. Loại tế bào này
hiện diện ngay từ lúc sinh vật vừa ra đời nhưng nó nằm
18
im “đợi thời”. Khi có thời cơ - nghĩa là khi cần đến - những
tế bào này phát triển thành những tế bào đặc biệt để hình
thành chi thể mới. Khi những tế bào này phát triển thì chi
thể mới cũng bắt đầu hình thành.
10
Cái gì đã gây ra chứng sói đầu?
Sói đầu (hói đầu) coi vậy mà không đơn giản, vì có nhiều
chứng sói đầu, trong đó có thứ ta hạn chế được, có thứ ta
phải “chào thua”, đừng hòng chữa chạy gì được.
Người ta nói đủ điều, đủ nguyên nhân về chứng sói đầu.
Nào là già thì sói đầu, nào là thông minh khác thường thì
sói đầu, nào là ngu đần khác thường cũng sói đầu. Có điều
này đáng lưu ý: sói đầu không có nghĩa là rụng ráo nạo,
không còn sợi tóc nào trên đầu.
Sự sói đầu phổ biến nhất mà ta thường thấy là sói đầu
từng phần. Có người tóc vẫn mọc đến tận thái dương, vậy
mà trên đỉnh đầu lại bị sói, hoặc sói ở một vài điểm khác.
Loại sói “đốm” này thật bất trị, chẳng thể chữa chạy gì
được vì nó là thứ sói... di truyền. Sự di truyền của chứng
19
sói “đốm” này chịu ảnh hưởng của phái tính và thường
xuất hiện ở đàn ông nhiều hơn. Nhiều khi các bà mẹ có
“gen di truyền” chứng sói này và đã truyền lại cho con
cái. Một khi chứng sói “đốm” này xuất hiện thì cách hay
nhất là... ráng chịu!
Chứng sói “sớm” xuất hiện nơi đàn ông, khi người này ở
vào khoảng tuổi 25 hoặc sớm hơn. Một trong những nguyên
nhân của chứng sói “sớm” này có thể là do da đầu không
được chăm sóc đúng mức, không giữ cho da đầu sạch sẽ
chẳng hạn. Đôi khi sự mất quân bình của các hormon tính
dục cũng dẫn đến chứng hói đầu sớm. Sự chăm sóc đúng
mức da đầu có thể làm chậm tiến trình của chứng sói đầu
kiểu này.
Sói đầu đôi khi cũng là triệu chứng hoặc dấu hiệu của
tình trạng cơ thể bị nhiễm độc hay một tình trạng nào
đó. Trong trường hợp này, khi sức khỏe được phục hồi
thì tóc lại mọc lại. Đột nhiên bị rụng tóc nhiều có thể là
do bị bệnh thương hàn, bị lên sởi (ban đỏ), viêm phổi,
cúm, hoặc nhiều thứ bệnh do nhiễm trùng. Bị rụng tóc
nhiều cũng có thể do kém dinh dưỡng hoặc các tuyến
bị rối loạn đặc biệt là tuyến yên và tuyến giáp. Sau cùng
bệnh sói đầu có thể do chính da đầu bị rối loạn, bị bệnh,
bị thương tổn.
20
11
Tại sao phụ nữ
lại không có râu?
Loài chim có lông vũ, loài có vú (loài thú) có lông mao.
Nhưng, tại sao động vật có vú lại có lông mao? Có nhiều
lý do.
Giá trị chủ yếu của lông là giữ thân nhiệt. Ở miền nhiệt
đới, lông lại có chức năng ngược lại: để giải nhiệt. Có vài
giống vật ở miền nhiệt đới đã được bộ lông che chở cho
khỏi bị ánh mặt trời chiếu thẳng vào. Nhưng, những lông
dài ở một vài nơi trên cơ thể động vật được dùng vào mục
đích đặc biệt. Chẳng hạn cái bờm sư tử, bờm ngựa để che
chở cái cổ của con vật khỏi bị răng kẻ thù cắn vào. Lông
đuôi dài của súc vật chủ yếu là đuổi ruồi muỗi. Cái mào dài
của vài giống chim là để hấp dẫn con mái. Bộ lông dài và
cứng của con nhím là phương tiện tự vệ của nó. Cũng có
khi lông trở thành cơ quan xúc giác của động vật. Trong
râu mèo có những sợi thần kinh đặc biệt và rất nhạy cảm
đối với xúc giác. Bạn thấy đó, lông được dùng vào nhiều
mục đích tùy theo từng loại động vật. Nhưng đối với con
người thì sao? Cái công dụng thực tiễn của lông - có ba
tên ở ba nơi là tóc, râu, lông - là những gì?
Đứa trẻ vừa mới lọt lòng mẹ đã có sẵn một lớp lông
tơ rất mịn phủ toàn thân. Lớp lông này sẽ sớm được thay
thế bằng những lớp lông tương đối lớn hơn nhưng cũng
còn mịn lắm. Đến tuổi dậy thì, lớp lông này lại bị thay thế
21
bằng một lớp lông khác và là lớp sau cùng. Sự phát triển
của lớp lông cuối cùng này bị tuyến sinh dục chi phối. Các
hormon phái nam tác động theo cách phát triển mạnh
râu và lông khắp toàn thân trong khi đó tóc bị ngăn chặn
hoặc chậm phát triển. Sự phát động của hormon phái nữ
thì ngược lại. Tóc trên đầu phát triển mạnh trong khi râu
và lông thì ngưng. Do đó, phụ nữ không có râu vì những
tuyến và hormon khác trong cơ thể đã tác động để ngăn
ngừa sự phát triển lông ở những nơi này.
Để giải thích tại sao lại như vậy và tại sao tuyến và hormon nơi đàn ông lại kích thích mọc râu, có lẽ ta phải đi
ngược trở lại thời kỳ sơ khai của loài người. Ở vào một
thời nào đó, chức năng của bộ râu có lẽ là để giúp người
ta, từ đàng xa, phân biệt được đàn ông, đàn bà. Cũng có
thể, bộ râu làm cho người đàn ông có vẻ oai vệ hơn, nhờ
đó trở nên hấp dẫn hơn đối với đàn bà. Thiên nhiên luôn
luôn tiếp sức cho đàn ông trở nên hấp dẫn đối với người
khác phái như thiên nhiên đã làm như vậy cho nhiều giống
chim, giống thú khác.
12
Tóc của ta mọc lẹ
như thế nào?
Đối với những người bắt đầu bị sói đầu thì tóc mọc
chậm quá. Còn đối với con nít thì tóc lại mọc nhanh quá.
22
Bình quân mỗi sợi tóc mỗi tháng mọc dài ra được khoảng
2,5cm. Trong khoảng thời gian một ngày, tóc mọc theo những
tốc độ khác nhau nhưng theo cùng “một nhịp”. Ban đêm, tóc
mọc chậm hơn. Nhưng khởi đầu một ngày, tốc độ ấy tăng
lên. Tốc độ tóc mọc cao nhất là từ 10 đến 11 giờ sáng. Kế
đó, tóc giảm lần tốc độ. Và từ 16 đến 18 giờ thì tốc độ mọc
tóc lại tăng lên. Tất nhiên tốc độ này có tăng thì cũng nhỏ,
rất nhỏ thôi, đến nỗi ta không thể nào nhìn thấy được. Bởi
vậy đừng có bạn nào dại dột đợi đến 10 giờ sáng ra đứng
trước kiếng để xem tóc mọc. Tuy nhiên, nếu như tất cả các
sợi lông trên cơ thể đều “nhường” cái phần mọc thêm chỉ cho
một sợi thôi thì bạn có hy vọng nhìn thấy sợi ấy từ từ mọc
dài ra. Và mỗi phút sợi lông (tóc) đặc biệt này sẽ mọc dài ra
khoảng 3cm và như vậy mỗi năm nó mọc dài ra được 60km!
Tóc của loài người không phải là giống nhau đâu. Tóc
màu vàng hoe thì nhỏ, mềm hơn tóc đen, cứng và to sợi.
Người có mái tóc đỏ thì các sợi tóc thô và thưa hơn cả.
13
Ruột dài bằng nào?
Hầu hết chúng ta chỉ có ý tưởng mơ hồ rằng trong nội
tạng của ta có những “cuộn”, trong đó “cuộn ruột” - một
cái “hành lang” dài mà thức ăn phải đi qua trong quá trình
tiêu hóa - là đáng ngạc nhiên nhất. Nhưng ít ai hiểu một
cách rõ ràng, tường tận cách thức vận hành của ruột non
ra làm sao.
23
Chiều dài của ruột động vật tùy thuộc vào loại thực
phẩm mà động vật đó ăn. Ruột của động vật ăn thịt thì
ngắn hơn vì trong quá trình tiêu hóa, nó có ít việc phải làm
hơn. Thực phẩm - thịt là chủ yếu - tự nó, đã làm một phần
công việc của quá trình tiêu hóa rồi. Những động vật ăn
nhiều rau được cho là có bộ ruột dài hơn bộ ruột của động
vật ăn nhiều thịt. Bộ ruột sống của con người có chiều dài
vào khoảng 3m. Nhưng khi người chết, ruột mất tính đàn
hồi, do đó giãn dài ra tới 8,5m.
Hầu hết thành ruột đều làm bằng sợi để ruột non có
thể tác động vào thực phẩm khi thực phẩm đi qua. Ruột
cũng tiết ra một thứ chất dịch trộn vào thức ăn. Để có thể
tiết ra dịch này, ruột gồm vô số những vòng. Mỗi vòng
giữ lại một chút xíu thức ăn khi thức ăn đi qua. Giữ lại và
“xử lý” bằng cách làm vữa ra và tiêu hóa trong khoảng 30
phút, sau đó chuyển thức ăn cho vòng kế tiếp. Để giúp cho
việc tiêu hóa, thành ruột non có
khoảng 20000 tuyến nhỏ. Các
tuyến này tiết ra khoảng từ 5
đến 10 lít dịch tiêu hóa. Chất
dịch này làm lỏng và làm mềm
để thực phẩm trở thành một
chất sền sệt.
Bằng một kính hiển vi phóng
đại, nhìn vào thành ruột, ta sẽ
thấy thành ruột không trơn
24
láng, trái lại nom như lót nhung. Đó là vô vàn vô số mao
trạng ruột. Chính các mao trạng này ra lệnh cho các tuyến
tiết ra dịch tràng, đồng thời các mao trạng này cũng góp
phần vào quá trình tiêu hóa thực phẩm.
Thực phẩm chưa được tiêu hóa bởi dịch vị sẽ được tiêu
hóa tiếp tục do các vi khuẩn sống ở phần ruột dài nhất được
gọi là “không tràng”, giai đoạn này trong quá trình tiêu hóa
được gọi là phần rã hoặc thúi rữa. Hàng tỉ tỉ vi khuẩn sẽ
làm phân rã thức ăn còn “thô, cứng” như vỏ trái cây chẳng
hạn, đồng thời hấp thu dưỡng trấp mà cơ thể cần.
Trên đây chỉ là khái lược cách thức và quá trình tiêu hóa.
Cơ quan tiêu hóa rất phức tạp và là một trong những cơ
quan kỳ diệu nhất của cơ thể ta. Nó có khả năng biến thức
ăn - gồm rất nhiều thứ, loại khác nhau - thành dưỡng chất
để nuôi toàn bộ cơ thể.
14
Bạn biết gì về sán lãi?
Nói đến sán lãi chắc chẳng phải là điều thú vị gì. Nhưng
có nhiều người khổ vì nó lắm, do đó chắc họ cũng muốn
biết sán lãi là cái giống gì mà tác hại cho cơ thể đến như vậy.
Trước hết, sán lãi là một loài sâu, mình dẹp, sống ký sinh
- nghĩa là ăn bám - trong ruột non của các động vật mà
ta gọi là vật chủ (host). Thực phẩm của sán lãi chính là các
dưỡng trấp nuôi cơ thể vật chủ. Thường thì sán lãi chỉ sống
25
ký sinh nơi các vật chủ là các động vật có xương sống như
cá, chó, mèo và tất nhiên, cả con người nữa. Trên đầu sán lãi
có giác khẩu mà nó dùng để bám dính vào bên trong thành
ruột non. Điều lạ lùng là sán lãi có đủ mắt, tai đàng hoàng.
Sán lãi có hệ thống cơ bắp nhưng nó hầu như chẳng dùng
tới. Nó cũng có não bộ nhưng hết sức thô thiển. Điều đặc
biệt là sán lãi không có miệng và ống tiêu hóa. Nó hấp thu
dưỡng trấp của vật chủ qua chính vách cơ thể của chúng.
Sán lãi có nhiều thứ, có thứ chỉ dài vài ba milimét, có
thứ dài tới 8m, 9m, đồng thời mỗi thứ lại có hình dạng
khác nhau. Có thể chúng không có “đốt” hoặc gồm bởi
một chuỗi phần nom như những “đốt”. Những đốt này từ
từ lớn lên, nối dài từ ngay phía sau đầu. Chúng cũng có
phái tính, nghĩa là có con đực, con cái.
Bằng cách nào sán lãi chui vào ruột non của động vật
rồi nằm lì ở đó ăn bám, sanh con đàn cháu đống, phá hoại
vật chủ? Nó chui được vào ruột non động vật chủ như thế
này: sán lãi đẻ trứng, trứng theo chất bã vật chủ thải ra
ngoài. Trứng đó dính vào thực phẩm. Khi vật chủ khác ăn
thực phẩm có dính trứng lãi, ở ruột non vật chủ, trứng lãi
gặp môi trường thuận tiện, nở ra thành ấu trùng và ở đó
luôn cho đến chết. Điều quái ác là ấu trùng sán lãi không
chỉ nằm trong ruột non để ăn bám mà còn mò mẫm đến
những cơ quan nội tạng khác nữa của vật chủ để ăn và để
phá. Khi “định cư” ở một chỗ nào, ấu trùng sán lãi tự tạo
cho mình một cái vỏ cứng.
26
Ta lấy thí dụ ấu trùng sán lãi với cái vỏ cứng nằm “định
cư” trong bắp thịt heo hoặc bò. Và, ta ăn thịt “heo gạo”
đó. Nếu không nấu nướng kỹ để giết chết ấu trùng sán lãi
nằm trong vỏ cứng thì khi vào đến ruột non - lại gặp môi
trường thuận lợi - ấu trùng phá vỏ cứng chui ra, bám vào
ruột non, ăn bám, lớn lên...
Cái hại của sán lãi trước hết là nó ăn mất một phần chất
bổ dưỡng dùng để nuôi cơ thể vật chủ, sau đó là do nó tiết
ra một chất độc. Trong những trường hợp họa hiếm sán lãi
mới giết chết được vật chủ. Nhưng vật chủ có sán lãi thì
không mạnh khỏe được. Ngày nay có nhiều thứ thuốc để
trục xuất sán lãi ra khỏi ruột non vật chủ.
15
Bệnh chó dại là bệnh gì?
Bệnh chó dại là bệnh mà loài người biết đến từ rất xa
xưa. Thời đó, khi người hoặc động vật mắc bệnh này thì
cái chết cầm tay. Không có cách gì chữa chạy. Bệnh gì mà
kinh khủng như vậy?
27
Bệnh chó dại là thứ bệnh tác động vào ngay não bộ và
hệ thần kinh. Chính vì vậy mà nó rất nguy hại cho cơ thể
người, vật bị bệnh. Bệnh này do một thứ vi rút nhỏ đến
nỗi kính hiển vi loại thông thường nhìn cũng không ra.
Vi rút bệnh dại có thể tác hại cho mọi loài động vật
máu nóng. Nhưng con người mắc bệnh này thường do bị
con chó mang vi rút này cắn. Bởi vậy, khi bị chó cắn phải
mang con chó này đi thử xem nó có bị nhiễm vi rút này
hay không. Đừng ỷ y, hối không kịp đâu! Bởi vì không dễ
gì chỉ nhìn mà biết được con chó nào có nhiễm vi rút bệnh
dại. Từ khi nhiễm cho đến khi phát tác phải mất khoảng từ
4 đến 6 tuần lễ. Ta bị con chó đang thời kỳ “ủ” bệnh cắn
thì ta cũng vẫn bị lây. Khi bị lây bệnh, thoạt tiên, con chó
hơi gây gấy sốt và bỏ ăn. Kế đó nó trở nên bấn loạn, sùi
bọt mép, gầm gừ, sủa và cứ như muốn táp, cắn. Đến giai
đoạn này rồi thì “thua”, hết thuốc chữa. Khi bệnh đã phát
tác, con chó chỉ sống được trong khoảng ba đến năm ngày.
Nơi con người, triệu chứng của bệnh cũng tương tự
như con chó. Thoạt tiên người bị bệnh lờ đờ, ít nói, ít
cử động. Kế đó, thấy gây gấy sốt và cảm thấy có cái gì
đó “kỳ kỳ” trong cơ thể. Kế đó là các bắp thịt co rút dữ
dội và môi miệng chúm ra như đòi uống nước hoặc bị
co giật. Co giật bắp thịt là do hệ thần kinh bị vi rút tấn
công. Người ta thường cho rằng người bệnh sợ nước - do
đó bệnh còn có cái tên “thông thái” bằng tiếng La Tinh là
“hydrophobia”, có nghĩa là sợ nước - nhưng thật ra không
28
phải vậy. Cái chết do bệnh chó dại thường là vì các bắp
thịt điều khiển sự hô hấp bị co giật. Một cái chết như vậy
hiển nhiên là đau đớn lắm lắm. Bởi vậy việc ngăn ngừa
bệnh chó dại phải là việc ưu tiên quan trọng.
Vết chó cắn phải rửa thật sạch và chích serum trong ba
ngày. Phải ngăn ngừa ngay lập tức việc vi rút chó dại xâm
nhập óc và hệ thần kinh. Phải tiếp tục chích thứ thuốc
đặc chế này sau khi bị chó dại cắn và chích liên tục trong
khoảng hai, ba tuần lễ. Nhưng, trên hết, vẫn là làm sao để
vi rút chó dại đừng xâm nhập vào cơ thể.
16
Con vi rút có thể
nhìn được không?
Vi rút (virus) là sinh vật nhỏ nhất có thể gây ra bệnh
hoạn. Người ta không thể nhìn thấy nó, dù bằng kính hiển
vi loại thông thường. Nhưng điều này không có nghĩa là
các nhà khoa học bó tay, khô...
 





