GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
Nghệ Thuật Tư Duy Rành Mạch - Rolf Dobelli

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:03' 07-03-2024
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:03' 07-03-2024
Dung lượng: 4.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NGHỆ THUẬT
tư duy
RÀNH
MẠCH
99 LỖI TƯ DUY CẦN TRÁNH
Rolf Dobelli, Die Kunst des klaren Denkens
Copyright ©2011 Carl Hanser Verlag, Munich/FRG
All rights reserved.
Published by Carl Hanser Verlag, Munich/FRG
Xuất bản theo hợp đồng nhượng quyền giữa
Carl Hanser Verlag GmbH & Co. KG và Nhã Nam
Bản quyền bản tiếng Việt © Công ty Văn hóa & Truyền thông
Nhã Nam, 2016.
DÀNH TẶNG SABINE
LỜI MỞ ĐẦU
M
ùa thu năm 2004, một ông trùm truyền thông ở
châu Âu mời tôi đến Munich tham dự sự kiện
được miêu tả là một “cuộc trao đổi thân mật của giới trí thức”.
Tôi thì chưa bao giờ tự coi bản thân là “trí thức” - tôi từng theo
học kinh doanh, chuyên ngành này thực ra còn khiến tôi trái
ngược với một trí thức - thế nhưng tôi cũng đã viết được hai
cuốn tiểu thuyết, và tôi đoán rằng điều đó khiến mình được
xem như đủ tư cách khách mời.
Nassim Nicholas Taleb cũng có mặt ở đó.
ời điểm ấy, ông
là một thương gia Phố Wall chưa có tiếng tăm, một người đam
mê triết học. Người ta giới thiệu tôi là một chuyên gia về thời
kỳ Khai sáng của Scotland và Anh quốc, đặc biệt chuyên sâu về
triết lý của David Hume. Hẳn nhiên, tôi đã bị nhớ nhầm với ai
đó. Dù rất đỗi ngạc nhiên, tôi vẫn nở nụ cười gượng gạo với
quan khách trong phòng, và cứ thế đáp lễ họ bằng sự im lặng
như minh chứng cho sự tinh thông triết học của mình. Ngay
lập tức, Taleb kéo một chiếc ghế trống và vỗ tay vào đó. Tôi liền
ngồi xuống. Sau vài trao đổi qua loa về Hume, may mà cuộc
trò chuyện chuyển sang đề tài Phố Wall. Cả hai đều kinh ngạc
trước những sai lầm có hệ thống trong quá trình ra quyết định
của các CEO và lãnh đạo doanh nghiệp -không ngoại trừ cả
hai chúng tôi. Chúng tôi tán gẫu về thực tế rằng, ngẫm lại
những sự việc không ngờ tới hóa ra lại có khả năng xảy ra cao
hơn nhiều những sự việc được định sẵn, rồi cùng cười trước
những lý do khiến các nhà đầu tư không chịu từ bỏ cổ phiếu
của họ khi chúng mất giá đến mức thấp hơn cả giá mua.
Sau sự kiện ấy, Taleb gửi cho tôi vài trang bản thảo quý báu
của ông, những trang mà tôi đã nhận xét và góp vài lời phê
bình. Những trang sách đó sau này đã trở thành một phần của
tác phẩm bán chạy khắp toàn cầu của ông,
iên nga đen. Cuốn
sách đã đưa Taleb gia nhập hàng ngũ các trí thức tinh hoa.
Cũng trong khoảng thời gian này, đam mê viết lách trong tôi
lớn dần lên, tôi bắt đầu đọc ngấu nghiến những cuốn sách và
bài viết của các nhà khoa học xã hội và khoa học nhận thức về
các đề tài như “suy nghiệm và thành kiến”, rồi tôi còn tăng
cường trao đổi email với rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như
đến thăm phòng thí nghiệm của họ. Tới năm 2009, tôi nhận ra
rằng, ngoài công việc của một tiểu thuyết gia, tôi còn trở
thành một nhà nghiên cứu tâm lý học nhận thức và xã hội học.
Việc không thể suy nghĩ thấu suốt, hay điều mà các chuyên
gia gọi là một “lỗi nhận thức”, là sự đi chệch có hệ thống khỏi
logic - chệch khỏi cách cư xử và tư duy tối ưu hợp tình hợp lý.
Khi dùng từ “có hệ thống”, tôi muốn nói đó không chỉ là
những sai lầm thi thoảng mắc phải trong xét đoán, mà là
những sai lầm đều đặn, những rào cản đối với logic mà chúng
ta vấp phải hết lần này đến lần khác, những kiểu tư duy lặp đi
lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác và kéo dài nhiều thế kỷ.
Chẳng hạn như, chúng ta thường đánh giá quá cao sự hiểu
biết của chính mình chứ chẳng mấy khi đánh giá thấp nó.
Tương tự, nguy cơ đánh mất một thứ gì đó khiến chúng ta bị
kích động hơn nhiều so với khả năng kiếm được thứ tương tự.
Khi ở bên cạnh những người khác, chúng ta thường có xu
hướng điều chỉnh cách cư xử của mình cho phù hợp với cách
cư xử của họ, chứ không phải ngược lại. Những câu chuyện
ngắn khiến chúng ta bỏ qua phân bố thống kê (tỷ lệ cơ bản) ẩn
phía sau, chứ không phải ngược lại. Sai lầm chúng ta mắc
phải vì cứ mải miết đeo đuổi cùng một kiểu tư duy cũ cứ chất
chồng lên nhau ở một góc riêng dễ đoán giống như quần áo
bẩn vậy, trong khi góc bên kia thì vẫn được giữ khá sạch sẽ
(nghĩa là chúng chất đống trong “góc tự tin thái quá”, chứ
không phải “góc thiếu tự tin”).
Để tránh ném khối tài sản tôi đã tích lũy được trong suốt sự
nghiệp cầm bút vào những canh bạc vô bổ, tôi bắt đầu lập ra
một danh sách các lỗi nhận thức mang tính hệ thống ấy, bổ
sung các ghi chú và những câu chuyện cá nhân làm minh họa mà không hề có ý định sẽ xuất bản chúng. Ban đầu tôi chỉ
định lập ra danh sách này cho riêng mình. Trong đó, một số
lỗi tư duy đã được biết đến hàng thế kỷ nay, còn số khác chỉ
được phát hiện trong vài năm qua. Một số lỗi được đặt cho
hẳn hai đến ba cái tên, và tôi lựa chọn những cái tên được sử
dụng rộng rãi nhất. Chẳng bao lâu tôi nhận ra công việc biên
soạn những cái bẫy tư duy đó không chỉ hữu ích cho việc đưa
ra quyết định đầu tư, mà còn cho việc kinh doanh cũng như xử
lý các vấn đề cá nhân. Từ khi soạn ra danh sách này tôi đã cảm
thấy bình tĩnh và điềm đạm hơn. Tôi bắt đầu nhận ra những
sai lầm của bản thân sớm hơn và có thể né tránh chúng trước
khi xảy ra tổn thất khó cứu vãn.
ế là, lần đầu tiên trong đời,
tôi có khả năng nhận biết khi nào thì những người khác có thể
bị chi phối bởi chính những sai lầm mang tính hệ thống kia.
Với một danh sách như thế, giờ đây tôi đã có thể cưỡng lại sức
hút của chúng - và thậm chí còn giành lợi thế trong các cuộc
giao dịch. Tôi đã có các thư mục, các thuật ngữ và những cách
lý giải để xua đi bóng ma của sự phi lý. Từ thời Benjamin
Franklin làm thí nghiệm thả diều, sấm chớp không hề xuất
hiện với tần suất ít đi, hay giảm cường độ hoặc bớt ồn ào hơn nhưng chúng đã trở nên bớt đáng lo ngại. Đây chính xác là
điều giờ đây tôi cảm nhận về sự phi lý trí của chính mình.
Không bao lâu sau thì bạn bè biết đến bản danh sách của
tôi và tỏ ra quan tâm. Kết quả là một chuyên mục trên các
tuần báo ở Đức, Hà Lan và
ụy Sĩ ra đời, cùng với đó là vô số
những buổi thuyết trình (chủ yếu là trước các bác sĩ, giới đầu
tư, thành viên ban quản trị, các CEO và quan chức nhà nước),
rồi cuối cùng là cuốn sách này.
Xin hãy nhớ cho ba điều khi bạn đọc những trang sách sắp
tới: thứ nhất, bản danh sách các lỗi ngụy biện trong cuốn sách
này chưa phải là hoàn thiện. Chắc chắn người ta sẽ còn phát
hiện ra những lỗi khác nữa.
ứ hai, phần lớn các lỗi này có
liên quan đến nhau. Điều này vốn dĩ không có gì đáng ngạc
nhiên. Xét cho cùng thì mọi phân khu của bộ não đều được
liên kết với nhau. Những phóng chiếu thần kinh dịch chuyển
từ phân khu này sang phân khu khác của bộ não; không có
khu vực nào hoạt động độc lập cả.
ứ ba, nghề nghiệp chính
của tôi là tiểu thuyết gia và doanh nhân, chứ không phải là
một nhà khoa học xã hội; tôi không có phòng thí nghiệm riêng
để thử nghiệm các lỗi nhận thức, và tôi cũng không có một
nhóm nghiên cứu để cử đi tìm kiếm các lỗi hành vi. Trong lúc
viết cuốn sách này, tôi giống như một dịch giả có nhiệm vụ
chuyển ngữ và tổng hợp những gì mình đã đọc và học được để diễn giải chúng thành những từ ngữ mà người khác có thể
hiểu. Tôi vô cùng kính phục các nhà nghiên cứu trong những
thập niên gần đây đã phát hiện ra những lỗi nhận thức và lỗi
hành vi ấy.
ành công của cuốn sách này về cơ bản là một sự
tri ân đối với công tác nghiên cứu của họ. Tôi hàm ơn họ rất
nhiều.
Đây không phải là một cuốn sách kim chỉ nam. Bạn sẽ
không tìm thấy “bảy bước để đạt được cuộc sống không sai
lầm” ở đây. Những lỗi nhận thức in sâu trong tiềm thức chúng
ta đến mức không thể nào rũ bỏ chúng hoàn toàn. Chỉ có ý chí
siêu nhiên mới có thể triệt tiêu chúng, nhưng đó thậm chí
không phải là một mục tiêu đáng hướng tới. Bởi không phải
tất cả những lỗi nhận thức đều nguy hại, và một số trong đó
thậm chí còn cần thiết để giúp ta sống tốt. Mặc dù cuốn sách
này không cung cấp chìa khóa mang đến hạnh phúc, nhưng
chí ít nó cũng đảm bảo cho bạn có thể đương đầu với quá
nhiều bất hạnh bạn vẫn tự gây ra cho mình.
Nguyện vọng của tôi vốn dĩ khá giản dị: nếu chúng ta có thể
học được cách nhận ra và tránh khỏi những sai lầm lớn nhất
trong tư duy - trong đời sống riêng, trong công việc, hay trong
quản lý nhà nước - chúng ta có thể tận hưởng sự thịnh vượng
vượt bậc. Chúng ta sẽ không cần thêm những mưu ma chước
quỷ, những ý tưởng mới, những công cụ không cần thiết, hay
sự nỗ lực đến quên mình - tất cả những gì chúng ta cần chỉ là
bớt phi lý trí đi mà thôi.
1
VÌ SAO BẠN NÊN ĐI VIẾNG CÁC NGHĨA TRANG
ành kiến sống sót
N
hìn đâu Rick cũng thấy những ngôi sao nhạc rock.
Họ xuất hiện trên truyền hình, trên trang nhất các
tạp chí, trong các chương trình hòa nhạc, và trên các trang của
người hâm mộ. Đâu đâu cũng nghe thấy những bài hát của họ
- trong trung tâm mua sắm, trong danh sách phát của máy
nghe nhạc cá nhân, trong phòng tập gym. Các ngôi sao nhạc
rock có mặt ở khắp nơi. Có rất nhiều người như thế. Và họ đều
thành công cả. Những câu chuyện về vô số tay guitar xuất sắc
khích lệ Rick, khiến anh chàng thành lập một nhóm nhạc.
Nhưng liệu Rick có thể làm nên chuyện? Khả năng thành công
chỉ nằm ở mấp mé con số không. Như rất nhiều người khác,
có khả năng cao anh chàng sẽ kết thúc sự nghiệp ở nghĩa địa
của những nhạc sĩ thất bại. Các nhạc sĩ trú ngụ trong nghĩa
địa ấy đông hơn gấp mười nghìn lần số nhạc sĩ đứng trên sân
khấu, thế nhưng chẳng có nhà báo nào hứng thú đưa tin về các
thất bại của họ cả - trừ trường hợp của những siêu sao thất
thế. Điều này làm cho những nghĩa trang kia trở nên vô hình
đối với người ngoài cuộc.
Trong cuộc sống hằng ngày, vì chiến thắng hiển hiện rõ
ràng hơn thất bại, nên bạn thường đánh giá cơ hội thành công
cao hơn mức thực tế. Là một người ngoài cuộc, bạn (cũng như
anh chàng Rick) rơi vào ảo tưởng và quên mất tỷ lệ thành công
trên thực tế nhỏ đến thế nào. Như bao người khác, Rick là một
nạn nhân của thành kiến sống sót.
Đằng sau mỗi tác giả được ưa chuộng, bạn có thể tìm thấy
một trăm văn sĩ khác chẳng bao giờ bán được sách. Đằng sau
họ lại là một trăm người nữa thậm chí còn chẳng tìm được
đơn vị xuất bản. Đằng sau những người này lại là một trăm
người khác có những bản thảo dang dở đóng bụi trong các
ngăn kéo. Và đằng sau mỗi người trong số đó là một trăm
người khác đang mơ mộng rằng - một ngày nào đó - họ sẽ viết
một cuốn sách. Riêng bạn thì chỉ nghe nói đến những tác giả
thành công (ngày nay, nhiều người trong số họ còn tự xuất bản
sách của mình), mà không nhận ra rằng thành công trong văn
chương khó đạt được đến thế nào.
ực tế đó cũng áp dụng
với giới nhiếp ảnh gia, doanh nhân, nghệ sĩ, vận động viên,
kiến trúc sư, những người đoạt giải Nobel, những người dẫn
chương trình truyền hình, và những người đẹp trong các cuộc
thi nhan sắc. Giới truyền thông hoàn toàn không có hứng thú
đào bới quanh khu mộ của những kẻ không thành công. Đó
cũng không phải là phận sự của họ. Để tránh sập bẫy thành
kiến sống sót, chính bạn phải tự đào sâu tìm hiểu.
Bạn cũng sẽ gặp phải thành kiến sống sót khi giải quyết
chuyện tiền nong hay rủi ro: hãy hình dung bạn của bạn thành
lập một công ty mới. Bạn nằm trong nhóm các nhà đầu tư
tiềm năng, và nhận thấy một cơ hội thực sự: đây có thể là một
Google thứ hai. Có thể bạn sẽ gặp may mắn. Nhưng thực tế là
gì? Kịch bản dễ xảy ra nhất chính là công ty đó thậm chí còn
không thể bước qua vạch xuất phát. Kịch bản thứ hai dễ xảy ra
hơn là công ty đó sẽ bị phá sản trong vòng ba năm. Trong số
các công ty sống sót qua ba năm đầu này, phần lớn không bao
giờ phát triển đến hơn mười nhân viên. Nếu như thế, bạn chớ
nên mạo hiểm đầu tư số tiền mồ hôi nước mắt của mình hay
sao? Không nhất thiết như vậy. Nhưng bạn nên hiểu rằng
thành kiến sống sót ấy đang hiện hữu, bóp méo tỷ lệ thành công
một cách tinh vi.
Ta hãy lấy ví dụ là chỉ số bình quân công nghiệp Down
Jones. Chỉ số này chỉ bao gồm những người sống sót tuyệt đối
mà thôi. Các doanh nghiệp nhỏ và thua lỗ không thể nào gia
nhập thị trường chứng khoán, nhưng lại chiếm phần lớn
trong tổng số các doanh nghiệp. Chỉ số chứng khoán không
thể hiện nền kinh tế của một quốc gia. Tương tự như thế, báo
chí cũng không đưa tin về tất cả các nhạc sĩ. Và bạn cũng nên
cẩn trọng với số lượng đông đảo các cuốn sách và diễn giả
thuyết trình về thành công: những người không thành đạt
chẳng bao giờ viết sách hay diễn giảng về các thất bại của họ.
ành kiến sống sót có thể trở nên đặc biệt nguy hại khi bạn
trở thành hội viên của đội “chiến thắng”.
ậm chí nếu thành
công của bạn có được hoàn toàn do tình cờ, bạn sẽ phát hiện
ra những điểm tương đồng với những người chiến thắng khác
và coi chúng như là các “yếu tố làm nên thành công”. Tuy
nhiên, nếu từng một lần thăm viếng nghĩa trang của các công
ty và cá nhân thất bại, bạn sẽ nhận ra rằng họ cũng sở hữu
nhiều phẩm chất làm nên thành công giống như bạn.
Nếu có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về một hiện tượng
cụ thể, một vài nghiên cứu sẽ công bố những kết quả có ý
nghĩa thống kê hoàn toàn do tình cờ - ví dụ như mối liên hệ
giữa mức tiêu thụ rượu vang đỏ và tuổi thọ cao. Những nghiên
cứu (không chính xác) này ngay lập tức sẽ rất được quan tâm
và yêu thích. Vì thế, bạn sẽ chẳng đời nào đọc được thông tin
về những nghiên cứu có kết quả chính xác nhưng “tẻ nhạt”.
ành kiến sống sót đồng nghĩa với việc: mọi người đánh giá
quá cao khả năng thành công của họ một cách có hệ thống.
Hãy đề phòng sai lầm bằng cách thường xuyên thăm viếng
nghĩa trang của các thương vụ đầu tư, các dự án và những
nghề nghiệp từng-có-lúc-hứa-hẹn. Chuyến thăm ấy có thể
buồn thật, nhưng nó sẽ giúp giữ cho đầu óc bạn được sáng
suốt.
2
HARVARD CÓ LÀM BẠN THÔNG MINH HƠN?
Ảo tưởng về vóc dáng kình ngư
T
iểu luận gia kiêm thương gia Nassim Taleb quyết
tâm xử lý đám mỡ thừa ngoan cố của mình, nên ông
bèn cân nhắc thử tập nhiều môn thể thao khác nhau. Có điều,
mấy tay chạy bộ trông có vẻ khẳng khiu và khổ sở quá, trong
khi những gã tập thể hình trông lại thô kệch và ngu ngốc, còn
những tay đua xe thì sao? Ôi trời, toàn những gã nặng mông!
Trong khi đó thì, những tay kình ngư thu hút ông nhờ vóc
dáng cân đối, thon gọn. Ông bèn quyết định đăng ký tại một
bể bơi địa phương và tập luyện chăm chỉ hai lần một tuần.
Sau một thời gian ngắn, ông nhận ra mình đã rơi vào ảo
tưởng. Những kình ngư chuyên nghiệp có được cơ thể hoàn
hảo không phải nhờ tập luyện miệt mài. Đúng hơn, họ bơi lội
giỏi chính là nhờ vóc dáng của họ. Kết cấu cơ thể chính là một
nhân tố giúp họ được chọn chứ không phải là kết quả từ hoạt
động rèn luyện. Đối với những người mẫu nữ quảng cáo mỹ
phẩm cũng vậy, rất nhiều người tiêu dùng nữ tin rằng các sản
phẩm đó giúp họ trở nên xinh đẹp.
ế nhưng đâu phải mỹ
phẩm khiến các cô gái ấy xinh đẹp như người mẫu. Đơn giản
chỉ là các cô người mẫu kia bẩm sinh đã hấp dẫn rồi, và chỉ vì
thế nên họ mới được chọn để quảng cáo mỹ phẩm. Còn với vóc
dáng kình ngư, thì vóc dáng đẹp là một nhân tố để được chọn,
chứ không phải là kết quả.
Bất cứ khi nào chúng ta nhầm lẫn các nhân tố để chọn lọc
với kết quả, chúng ta rơi vào cái mà Taleb gọi là ảo tưởng vóc
dáng kình ngư. Nếu không có sự ảo tưởng này, một nửa các
chiến dịch quảng cáo sẽ chẳng đạt được kết quả.
ế nhưng
thành kiến này không chỉ liên quan đến mong ước có được
một bộ ngực đẹp hay gò má chuẩn mực. Chẳng hạn, trường
Harvard có tiếng là một đại học hàng đầu. Rất nhiều người vô
cùng thành đạt đã từng theo học ở đó. Liệu có phải vì Harvard
là một ngôi trường tốt? Chúng ta không biết được điều đó. Có
lẽ ngôi trường ấy dở tệ, nhưng nó lại chiêu mộ được những
sinh viên sáng dạ nhất. Tôi từng kinh qua hiện tượng này tại
Đại học St. Gallen ở
ụy Sĩ. Đây được coi là một trong mười
trường kinh doanh hàng đầu tại châu Âu, nhưng những buổi
học tôi từng tham dự (dù sao cũng xin lưu ý là chúng diễn ra
hai mươi lăm năm trước) lại chỉ ở mức tầm tầm. Tuy nhiên,
rất nhiều người tốt nghiệp trường ấy ra lại thành công. Lý do
là gì vẫn còn chưa rõ - có thể là vì khí hậu ở vùng thung lũng
hẹp hoặc thậm chí là đồ ăn ở căng tin.
ế nhưng lý do khả dĩ
nhất có lẽ chính là sự tuyển chọn gắt gao.
Khắp nơi trên thế giới, các trường đào tạo MBA(1) chiêu dụ
thí sinh bằng những số liệu liên quan đến thu nhập tương lai.
Tính toán đơn giản này nhằm mục đích chứng tỏ rằng tiền học
phí cao ngất ngưởng sẽ được bù đắp trong một thời gian
ngắn. Cách làm này khiến rất nhiều sinh viên tiềm năng sập
bẫy. Tôi không có ý nói là các trường cường điệu hóa số liệu,
thế nhưng bạn không nên tin sái cổ những tuyên bố của họ.
Tại sao? Bởi vì những người theo đuổi tấm bằng MBA vốn đã
khác biệt so với phần còn lại. Chênh lệch thu nhập giữa cả hai
nhóm bắt nguồn từ vô vàn các lý do vốn chẳng liên quan gì
đến tấm bằng MBA cả. Một lần nữa chúng ta lại thấy ảo tưởng
vóc dáng kình ngư phát tác: nhân tố của sự chọn lọc bị nhầm lẫn
với kết quả. Do đó, nếu như bạn đang cân nhắc học lên cao,
hãy làm điều đó vì những lý do nằm ngoài một khoản lương
cao hơn.
(1)
Master of Business Administration (MBA or M.B.A.), thạc sĩ quản trị kinh
doanh. (Mọi chú thích trong sách đều là của người dịch và Ban biên tập tiếng Việt.)
Khi tôi hỏi những người hạnh phúc về bí quyết đạt được sự
mãn nguyện, tôi thường được nghe những câu trả lời kiểu như
“Bạn phải nhìn nhận chiếc cốc đầy một nửa thay vì vơi một
nửa”. Cứ như thể những người ấy không hề nhận ra rằng họ
sinh ra đã hạnh phúc và giờ đây có xu hướng nhìn thấy điều
tích cực ở vạn sự. Họ không hề nhận ra rằng tính cách tươi vui
- theo rất nhiều nghiên cứu, chẳng hạn nghiên cứu do Dan
Gilbert thuộc trường Harvard tiến hành - chính là một đặc
điểm tính cách chủ đạo được duy trì suốt đời. Hoặc, như các
nhà khoa học xã hội David Lykken và Auke Tellegen tuyên bố
thẳng tưng, “cố gắng cảm thấy hạnh phúc hơn cũng vô ích như
cố gắng trở nên cao ráo hơn”. Vì thế, ảo tưởng vóc dáng kình ngư
cũng chính là một dạng tự ảo tưởng. Khi những người lạc
quan ấy viết sách rèn luyện bản thân (self-help), ảo tưởng này
có thể trở nên lừa mị. Đó là lý do ta nên bỏ qua những lời
khuyên lẫn bí kíp mà những tác giả ấy đưa ra. Đối với hàng tỷ
người, những lời khuyên ấy khó lòng có tác dụng. Bởi những
người không hạnh phúc thì chẳng bao giờ viết sách rèn luyện
bản thân về các thất bại của họ cả, nên thực tế này vẫn bị che
giấu.
Kết luận: Hãy cẩn trọng khi người ta khuyến khích bạn cố
gắng đạt được một số thứ nhất định - cho dù đó là cơ bụng săn
chắc, vẻ ngoài không tì vết, một thu nhập cao hơn, tuổi thọ
cao hơn, một phong thái đặc biệt, hay là hạnh phúc. Bạn có
thể sập bẫy ảo tưởng vóc dáng kình ngư. Trước khi quyết định
dấn thân, xin bạn hãy nhìn vào gương - và thành thật với
những gì mình nhìn thấy.
3
VÌ SAO TA THẤY MÂY CÓ HÌNH THÙ
Ảo tưởng tụ nhóm
V
ào năm 1957, ca sĩ opera người
ụy Điển Friedrich
Jorgensen mua một cái đài quay băng để ghi âm
giọng ca của mình. Khi nghe lại phần ghi âm, ông nghe thấy
những tiếng động lạ, những tiếng thì thầm nghe giống như
những thông điệp siêu nhiên vậy. Vài năm sau, ông ghi âm
tiếng chim hót. Lần này, ông lại nghe thấy giọng nói thì thầm
xa xăm của người mẹ đã khuất: “Fried ơi, Fried con yêu, con có
nghe thấy mẹ nói không? Mẹ đây.”
ế là đủ. Cuộc đời
Jorgensen đảo lộn hoàn toàn và ông dành trọn thời gian để
liên lạc với người đã khuất qua những đoạn băng ghi âm.
Năm 1994, Diane Duyser đến từ Florida cũng trải qua một
cuộc chạm trán với thế giới bên kia như vậy. Sau khi cắn lát
bánh mì nướng và đặt nó xuống đĩa, bà nhìn thấy gương mặt
của Đức Mẹ Đồng Trinh trên đó. Ngay lập tức, bà dừng ăn và
cất giữ thông điệp thần thánh ấy (với một vết cắn) vào trong
một cái hộp nhựa. Vào tháng Mười một năm 2004, bà bán đấu
giá miếng bánh được giữ gìn gần như nguyên vẹn ấy trên
eBay. Miếng bánh mì để ăn hằng ngày đó đem lại cho bà
28.000 đô la.
Năm 1978, một phụ nữ từ New Mexico cũng có một trải
nghiệm tương tự. Những vết đen trên miếng bánh tortilla của
bà tạo ra hình trông giống như gương mặt của Đức Chúa
Jesus. Báo chí liền chộp ngay lấy câu chuyện, và hàng ngàn
người lũ lượt đổ tới New Mexico để chiêm ngưỡng đấng cứu
thế trong hình hài chiếc bánh. Trước đó hai năm, tức năm
1976, nhà thám hiểm của tàu vũ trụ Viking chụp từ trên cao
một thành tạo đá trông giống như khuôn mặt người. “Gương
mặt trên sao Hỏa” trở thành chủ đề nóng của các tờ báo trên
toàn cầu.
ế còn bạn thì sao? Bạn đã bao giờ nhìn thấy những gương
mặt trên các đám mây hay hình dáng của loài vật trên các tảng
đá hay chưa? Dĩ nhiên là có rồi. Chuyện này hoàn toàn bình
thường. Bộ não chúng ta luôn tìm kiếm những khuôn mẫu và
quy tắc.
ực ra, nó hoạt động còn tích cực hơn thế. Nếu
không thấy một hình mẫu quen thuộc nào, bộ não sẽ tự động
chế ra một hình mẫu nào đó. Dấu hiệu càng khó đoán, ví dụ
như tiếng động xa xăm trong băng ghi âm, thì càng dễ để tìm
thấy những “thông điệp ẩn” đằng sau nó. Hai mươi lăm năm
sau khi “gương mặt trên sao Hỏa” được phát hiện, tàu vũ trụ
Mars Global Surveyor gửi về những hình ảnh rõ nét, sinh động
của các thành tạo đá kia: gương mặt người đầy thu hút ấy hóa
ra chỉ là cồn đá bình thường giữa sa mạc.
Những ví dụ phù phiếm ấy khiến cho ảo tưởng tụ nhóm
tưởng như vô thưởng vô phạt; nhưng không phải vậy. Hãy
nghĩ đến các thị trường tài chính vẫn sản xuất ồ ạt hàng núi
dữ liệu mỗi giây. Một người bạn của tôi đã cười khoái trá mà
bảo rằng cậu ta vừa phát hiện ra một quy luật trong biển dữ
liệu. “Nếu anh nhân sự thay đổi phần trăm của Dow Jones với
sự thay đổi phần trăm của giá dầu, anh sẽ có được sự dịch
chuyển của giá vàng trong hai ngày tới.” Nói cách khác, nếu
như giá cổ phiếu và dầu mỏ cùng leo thang hoặc đi xuống, thì
giá vàng sẽ tăng sau hai ngày. Lý thuyết của cậu ta tỏ ra chính
xác trong một vài tuần, cho đến khi cậu ta đầu tư tất tay khoản
tiền rất lớn và hệ quả là quẳng hết tiền tiết kiệm của mình qua
cửa sổ. Cậu ta đã cảm nhận được một quy luật không hề tồn
tại.
oxxxoxxxoxxoooxooxxoo. Chuỗi ký tự này liệu có phải là
ngẫu nhiên không, hay đã được tính toán trước? Giáo sư tâm
lý học
omas Gilovich đã phỏng vấn hàng trăm người để tìm
câu trả lời. Hầu hết trong số họ không muốn tin rằng chuỗi ký
tự đó là vô nghĩa. Họ cho rằng hẳn là có một quy luật nào đó
tạo nên trình tự của các ký tự. Lầm rồi, Gilovich liền giải
thích, và ông chỉ vào một con súc sắc: ta hoàn toàn có thể thả
được cùng một số bốn lần liên tiếp trong một lượt chơi, một
điều khiến cho nhiều người cảm thấy khó hiểu. Rõ ràng là
chúng ta khó lòng chấp nhận rằng những sự việc như thế có
thể diễn ra thuần túy ngẫu nhiên.
Trong
ế chiến II, người Đức đã đánh bom London. Trong
các loại đạn dược, họ sử dụng tên lửa V1, một loại máy bay
không người lái tự dẫn đường. Cứ mỗi đợt tấn công, các khu
vực chịu ảnh hưởng lại được đánh dấu cẩn thận trên bản đồ,
khiến cho dân London phải khiếp sợ: họ cho rằng họ đã phát
hiện ra một quy luật và dựng lên những giả thuyết về khu vực
an toàn nhất của thành phố. Tuy nhiên, sau chiến tranh, phân
tích số liệu lại khẳng định rằng sự phân bổ là hoàn toàn ngẫu
nhiên. Ngày nay lý do đã trở nên rõ ràng: hệ thống dẫn đường
của V1 vô cùng thiếu chính xác.
Nói tóm lại: chúng ta thường nhạy cảm quá mức trong việc
phát hiện quy luật. Hãy lấy lại thái độ hoài nghi ban đầu của
bạn. Nếu bạn nghĩ rằng mình vừa phát hiện ra một quy luật,
thì trước tiên hãy coi đó như một sự ngẫu nhiên thuần túy.
Nếu nó có vẻ quá đúng, hãy tìm một nhà toán học và kiểm
nghiệm dữ liệu trên bằng thống kê. Và nếu có phần nào trên
chiếc bánh của bạn giống y hệt như gương mặt của Chúa
Jesus, hãy tự hỏi bản thân: nếu như ngài thực sự muốn lộ diện,
vì sao ngài không làm vậy ngay ở quảng trường
trên đài CNN?
ời Đại hoặc
4
KỂ CẢ KHI NĂM MƯƠI TRIỆU NGƯỜI CÙNG NÓI VỀ THỨ
NGỚ NGẨN NÀO ĐÓ, THÌ NÓ VẪN CỨ LÀ THỨ NGỚ NGẨN
Bằng chứng xã hội
B
ạn đang trên đường đến xem một buổi hòa nhạc. Ở
một ngã tư, bạn bắt gặp một đám người, tất cả đều
chăm chăm nhìn lên trời. Không cần suy nghĩ, bạn cũng
ngước lên theo. Tại sao vậy? Bằng chứng xã hội. Giữa buổi hòa
nhạc, một ai đó bắt đầu vỗ tay và bất ngờ cả phòng vỗ tay theo.
Bạn cũng vậy. Vì sao? Bằng chứng xã hội. Sau buổi hòa nhạc,
bạn đi đến quầy gửi áo để lấy lại áo khoác. Bạn quan sát thấy
những người phía trước bạn đặt một đồng xu lên chiếc khay,
mặc dù chính ra thì dịch vụ gửi đồ đã bao gồm cả trong giá vé.
Vậy bạn sẽ làm gì? Hẳn là bạn cũng sẽ để lại tiền tip.
Bằng chứng xã hội, đôi khi được gọi là “bản năng bầy đàn”,
làm cho các cá nhân cảm thấy như mình cư xử đúng khi hành
động giống như những người khác. Nói cách khác, càng có
nhiều người theo đuổi một suy nghĩ cụ thể, thì ta càng cảm
thấy ý tưởng đó đúng đắn. Và càng nhiều người thể hiện một
cách hành xử cụ thể, thì cách hành xử ấy càng dễ được những
người khác đánh giá là phù hợp. Điều này, hẳn nhiên, là rất
phi lý.
Bằng chứng xã hội chính là con quỷ nấp sau hiện tượng bong
bóng kinh tế và cơn hoảng loạn của thị trường chứng khoán.
Nó hiển hiện trong ngành thời trang, kỹ thuật quản trị, sở
thích, tôn giáo và cả chế độ ăn uống. Nó có thể làm tê liệt cả
nền văn hóa, ví dụ như khi các nhóm tín đồ cực đoan tự sát
tập thể.
Một thí nghiệm đơn giản, do nhà tâm lý học huyền thoại
Solomon Asch tiến hành hồi thập niên 1950, chứng minh rằng
áp lực từ những người xung quanh có thể làm lệch lạc trí khôn
của người ta như thế nào. Một đối tượng thí nghiệm được cho
xem một đường kẻ vẽ trên giấy, và bên cạnh đó là ba đường kẻ
khác - được đánh số 1,2, và 3 - một đường ngắn hơn, một
đường dài hơn, và một đường cùng chiều dài với đường kẻ
đầu tiên. Anh ta hoặc cô ta phải chỉ ra đường kẻ nào trong số
ba đường tương đương với đường kẻ đầu. Nếu đối tượng chỉ
có một mình trong phòng, người đó sẽ đưa ra câu trả lời đúng
vì công việc này thực sự khá đơn giản.
ế nhưng năm người
khác lại bước vào phòng; họ đều là những diễn viên, nhưng
đối tượng lại không hề biết điều đó. Lần lượt hết người này
đến người khác đều trả lời sai là “đường số 1”, mặc dù sự thật
hiển nhiên là đường số 3 mới là câu trả lời đúng. Và rồi đến
lượt đối tượng. Một phần ba trường hợp, người này sẽ trả lời
sai để trùng khớp với câu trả lời của những người kia.
Tại sao chúng ta lại hành động như vậy?
ực ra trong quá
khứ, bắt chước những người khác là một chiến lược hiệu quả
để tồn tại. Giả sử năm mươi ngàn năm trước nhóm người săn
bắt-hái lượm của bạn đang đi trong vùng đồng cỏ châu Phi, và
bỗng nhiên tất cả bọn họ đều chạy mất. Bạn sẽ làm gì khi đó?
Liệu bạn có đứng yên một chỗ, gãi đầu gãi tai và đánh giá xem
liệu thứ bạn đang nhìn thấy có phải là một con sư tử hay chỉ là
một con vật hoàn toàn vô hại hao hao sư tử nhưng thực ra lại
là nguồn cung cấp protein dồi dào hay không? Không đâu, thể
nào bạn cũng sẽ chạy thục mạng theo sau mấy người kia thôi.
Lát sau, khi đã an toàn rồi, bạn có thể ngồi nhớ lại chuyện gì
thực sự đã xảy ra. Những người hành xử khác đi - mà tôi chắc
chắn có một số người như thế - thì đã bị loại khỏi nguồn gen.
Chúng ta là hậu duệ trực tiếp của những người bắt chước cách
hành xử của người khác. Hình mẫu này đã ăn sâu vào chúng
ta đến nỗi tận ngày nay chúng ta vẫn còn dùng đến chúng,
mặc dù nó chẳng hề đem lại một lợi thế sống còn nào. Tôi chỉ
nghĩ ra một số ít trường hợp trong đó bằng chứng xã hội tỏ ra có
giá trị. Ví dụ như khi bạn bị đói ở một thành phố lạ và không
biết nhà hàng nào tốt, thì bạn chọn nhà hàng nào có nhiều
khách địa phương là điều dễ hiểu. Nói cách khác, bạn bắt
chước theo cách hành xử của dân địa phương.
Các chương trình hài và đối thoại trên truyền hình đều lợi
dụng bằng chứng xã hội bằng cách lồng tiếng cười thu âm sẵn
vào những thời điểm quan trọng, kích thích khán giả cười
theo. Một trong những trường hợp ấn tượng nhất, dù gây
phản cảm, của hiện tượng này chính là bài diễn văn nổi tiếng
mà bộ trưởng tuyên truyền đảng Quốc xã Joseph Goebbels
trình bày trước đám đông khán giả vào năm 1943. (Bạn có thể
xem trên YouTube.) Khi chiến tranh diễn biến theo chiều
hướng xấu thêm đối với nước Đức, ông ta hỏi: “Các bạn có
muốn một cuộc chiến triệt để không? Nếu cần thiết, các bạn
có muốn một cuộc chiến triệt để và ác liệt hơn tất cả những gì
chúng ta có thể tưởng tượng ra vào ngày hôm nay hay không?”
Đám đông liền hò reo. Nếu như từng người có mặt được hỏi
riêng mà không bị công khai danh tính, có thể đã chẳng có ai
đồng tình với đề nghị điên rồ ấy.
Ngành quảng cáo được hưởng lợi đáng kể từ sự yếu đuối
của chúng ta trước bằng chứng xã hội. Nó tỏ ra hiệu nghiệm
trong một tình huống khiến chúng ta rối trí (ví dụ như khi lựa
chọn giữa vô vàn nhãn hiệu xe, các sản phẩm tẩy rửa, sản
phẩm làm đẹp, vân vân, mà không đưa ra được lợi ích hay bất
lợi hiển nhiên nào), và khi đó nhóm người “cùng hội cùng
thuyền” được hình thành.
Do đó, hãy biết hoài nghi bất cứ khi nào một công ty tuyên
bố rằng sản phẩm của họ tốt hơn vì đó là sản phẩm “được ưa
chuộng nhất”. Làm sao một sản phẩm lại có thể tốt hơn chỉ vì
nó bán được nhiều hơn chứ? Và hãy nhớ lại câu nói khôn
ngoan của văn hào Anh W. Somerset Maugham: “Kể cả khi
năm mươi triệu người cùng nói về thứ ngớ ngẩn nào đó, thì nó
vẫn cứ là thứ ngớ ngẩn.”
5
VÌ SAO BẠN NÊN QUÊN ĐI QUÁ KHỨ
Ngụy biện chi phí đã mất
B
ộ phim thật kinh khủng. Sau một tiếng, tôi liền thì
thầm với vợ: “ ôi nào, ta về nhà thôi.” Nàng trả lời:
“Không được. Chúng ta không thể phí phạm 30 đô la.” “Không
có lý do gì để ở lại cả,” tôi phản đối. “Tiền thì đã mất rồi. Ngụy
biện chi phí đã mất đang phát tác đấy - đây là một sai lầm về tư
duy!” Nàng cau mày nhìn tôi với ánh mắt hình viên đạn.
ôi
được, đôi khi tôi hơi quá trớn trong chuyện này, mà bản thân
nó cũng là một lỗi gọi là bệnh nghề nghiệp (xem chương 92). Tôi
tìm cách làm rõ tình huống này trong tuyệt vọng. “Cho dù có ở
lại hoặc bỏ đi thì ta cũng đã tiêu mất 30 đô la rồi, vì thế yếu tố
này không có vai trò gì trong quyết định của chúng mình hết.”
Khỏi phải nói, tôi vẫn phải chịu thua và ngồi im tại ghế của
mình.
Ngày hôm sau, tôi tham dự một cuộc họp về quảng bá sản
phẩm của công ty. Chiến dịch quảng cáo của chúng tôi đã diễn
ra trong bốn tháng mà không thu được nổi một trong những
mục tiêu đặt ra. Tôi muốn hủy bỏ nó. Song giám đốc quảng
cáo lại không chịu, và nói rằng: “Nhưng chúng ta đã đầu tư
quá nhiều tiền của vào đó rồi. Nếu giờ chúng ta dừng lại, thì
công sức bỏ ra sẽ đổ sông đổ bể.” Lại một nạn nhân khác của
ngụy biện chi phí đã mất.
Một người bạn tôi vật lộn nhiều năm trong một mối quan
hệ khốn khổ. Bạn gái anh ta đã lừa dối anh ta nhiều lần. Lần
nào cô ta cũng quay về đầy vẻ hối lỗi và van xin anh ta tha thứ.
Anh ta giải thích với tôi như sau: “Tôi đã đầu tư quá nhiều
công sức vào mối quan hệ này, sẽ là sai lầm nếu từ bỏ nó.” Một
trường hợp kinh điển về ngụy ...
tư duy
RÀNH
MẠCH
99 LỖI TƯ DUY CẦN TRÁNH
Rolf Dobelli, Die Kunst des klaren Denkens
Copyright ©2011 Carl Hanser Verlag, Munich/FRG
All rights reserved.
Published by Carl Hanser Verlag, Munich/FRG
Xuất bản theo hợp đồng nhượng quyền giữa
Carl Hanser Verlag GmbH & Co. KG và Nhã Nam
Bản quyền bản tiếng Việt © Công ty Văn hóa & Truyền thông
Nhã Nam, 2016.
DÀNH TẶNG SABINE
LỜI MỞ ĐẦU
M
ùa thu năm 2004, một ông trùm truyền thông ở
châu Âu mời tôi đến Munich tham dự sự kiện
được miêu tả là một “cuộc trao đổi thân mật của giới trí thức”.
Tôi thì chưa bao giờ tự coi bản thân là “trí thức” - tôi từng theo
học kinh doanh, chuyên ngành này thực ra còn khiến tôi trái
ngược với một trí thức - thế nhưng tôi cũng đã viết được hai
cuốn tiểu thuyết, và tôi đoán rằng điều đó khiến mình được
xem như đủ tư cách khách mời.
Nassim Nicholas Taleb cũng có mặt ở đó.
ời điểm ấy, ông
là một thương gia Phố Wall chưa có tiếng tăm, một người đam
mê triết học. Người ta giới thiệu tôi là một chuyên gia về thời
kỳ Khai sáng của Scotland và Anh quốc, đặc biệt chuyên sâu về
triết lý của David Hume. Hẳn nhiên, tôi đã bị nhớ nhầm với ai
đó. Dù rất đỗi ngạc nhiên, tôi vẫn nở nụ cười gượng gạo với
quan khách trong phòng, và cứ thế đáp lễ họ bằng sự im lặng
như minh chứng cho sự tinh thông triết học của mình. Ngay
lập tức, Taleb kéo một chiếc ghế trống và vỗ tay vào đó. Tôi liền
ngồi xuống. Sau vài trao đổi qua loa về Hume, may mà cuộc
trò chuyện chuyển sang đề tài Phố Wall. Cả hai đều kinh ngạc
trước những sai lầm có hệ thống trong quá trình ra quyết định
của các CEO và lãnh đạo doanh nghiệp -không ngoại trừ cả
hai chúng tôi. Chúng tôi tán gẫu về thực tế rằng, ngẫm lại
những sự việc không ngờ tới hóa ra lại có khả năng xảy ra cao
hơn nhiều những sự việc được định sẵn, rồi cùng cười trước
những lý do khiến các nhà đầu tư không chịu từ bỏ cổ phiếu
của họ khi chúng mất giá đến mức thấp hơn cả giá mua.
Sau sự kiện ấy, Taleb gửi cho tôi vài trang bản thảo quý báu
của ông, những trang mà tôi đã nhận xét và góp vài lời phê
bình. Những trang sách đó sau này đã trở thành một phần của
tác phẩm bán chạy khắp toàn cầu của ông,
iên nga đen. Cuốn
sách đã đưa Taleb gia nhập hàng ngũ các trí thức tinh hoa.
Cũng trong khoảng thời gian này, đam mê viết lách trong tôi
lớn dần lên, tôi bắt đầu đọc ngấu nghiến những cuốn sách và
bài viết của các nhà khoa học xã hội và khoa học nhận thức về
các đề tài như “suy nghiệm và thành kiến”, rồi tôi còn tăng
cường trao đổi email với rất nhiều nhà nghiên cứu cũng như
đến thăm phòng thí nghiệm của họ. Tới năm 2009, tôi nhận ra
rằng, ngoài công việc của một tiểu thuyết gia, tôi còn trở
thành một nhà nghiên cứu tâm lý học nhận thức và xã hội học.
Việc không thể suy nghĩ thấu suốt, hay điều mà các chuyên
gia gọi là một “lỗi nhận thức”, là sự đi chệch có hệ thống khỏi
logic - chệch khỏi cách cư xử và tư duy tối ưu hợp tình hợp lý.
Khi dùng từ “có hệ thống”, tôi muốn nói đó không chỉ là
những sai lầm thi thoảng mắc phải trong xét đoán, mà là
những sai lầm đều đặn, những rào cản đối với logic mà chúng
ta vấp phải hết lần này đến lần khác, những kiểu tư duy lặp đi
lặp lại từ thế hệ này sang thế hệ khác và kéo dài nhiều thế kỷ.
Chẳng hạn như, chúng ta thường đánh giá quá cao sự hiểu
biết của chính mình chứ chẳng mấy khi đánh giá thấp nó.
Tương tự, nguy cơ đánh mất một thứ gì đó khiến chúng ta bị
kích động hơn nhiều so với khả năng kiếm được thứ tương tự.
Khi ở bên cạnh những người khác, chúng ta thường có xu
hướng điều chỉnh cách cư xử của mình cho phù hợp với cách
cư xử của họ, chứ không phải ngược lại. Những câu chuyện
ngắn khiến chúng ta bỏ qua phân bố thống kê (tỷ lệ cơ bản) ẩn
phía sau, chứ không phải ngược lại. Sai lầm chúng ta mắc
phải vì cứ mải miết đeo đuổi cùng một kiểu tư duy cũ cứ chất
chồng lên nhau ở một góc riêng dễ đoán giống như quần áo
bẩn vậy, trong khi góc bên kia thì vẫn được giữ khá sạch sẽ
(nghĩa là chúng chất đống trong “góc tự tin thái quá”, chứ
không phải “góc thiếu tự tin”).
Để tránh ném khối tài sản tôi đã tích lũy được trong suốt sự
nghiệp cầm bút vào những canh bạc vô bổ, tôi bắt đầu lập ra
một danh sách các lỗi nhận thức mang tính hệ thống ấy, bổ
sung các ghi chú và những câu chuyện cá nhân làm minh họa mà không hề có ý định sẽ xuất bản chúng. Ban đầu tôi chỉ
định lập ra danh sách này cho riêng mình. Trong đó, một số
lỗi tư duy đã được biết đến hàng thế kỷ nay, còn số khác chỉ
được phát hiện trong vài năm qua. Một số lỗi được đặt cho
hẳn hai đến ba cái tên, và tôi lựa chọn những cái tên được sử
dụng rộng rãi nhất. Chẳng bao lâu tôi nhận ra công việc biên
soạn những cái bẫy tư duy đó không chỉ hữu ích cho việc đưa
ra quyết định đầu tư, mà còn cho việc kinh doanh cũng như xử
lý các vấn đề cá nhân. Từ khi soạn ra danh sách này tôi đã cảm
thấy bình tĩnh và điềm đạm hơn. Tôi bắt đầu nhận ra những
sai lầm của bản thân sớm hơn và có thể né tránh chúng trước
khi xảy ra tổn thất khó cứu vãn.
ế là, lần đầu tiên trong đời,
tôi có khả năng nhận biết khi nào thì những người khác có thể
bị chi phối bởi chính những sai lầm mang tính hệ thống kia.
Với một danh sách như thế, giờ đây tôi đã có thể cưỡng lại sức
hút của chúng - và thậm chí còn giành lợi thế trong các cuộc
giao dịch. Tôi đã có các thư mục, các thuật ngữ và những cách
lý giải để xua đi bóng ma của sự phi lý. Từ thời Benjamin
Franklin làm thí nghiệm thả diều, sấm chớp không hề xuất
hiện với tần suất ít đi, hay giảm cường độ hoặc bớt ồn ào hơn nhưng chúng đã trở nên bớt đáng lo ngại. Đây chính xác là
điều giờ đây tôi cảm nhận về sự phi lý trí của chính mình.
Không bao lâu sau thì bạn bè biết đến bản danh sách của
tôi và tỏ ra quan tâm. Kết quả là một chuyên mục trên các
tuần báo ở Đức, Hà Lan và
ụy Sĩ ra đời, cùng với đó là vô số
những buổi thuyết trình (chủ yếu là trước các bác sĩ, giới đầu
tư, thành viên ban quản trị, các CEO và quan chức nhà nước),
rồi cuối cùng là cuốn sách này.
Xin hãy nhớ cho ba điều khi bạn đọc những trang sách sắp
tới: thứ nhất, bản danh sách các lỗi ngụy biện trong cuốn sách
này chưa phải là hoàn thiện. Chắc chắn người ta sẽ còn phát
hiện ra những lỗi khác nữa.
ứ hai, phần lớn các lỗi này có
liên quan đến nhau. Điều này vốn dĩ không có gì đáng ngạc
nhiên. Xét cho cùng thì mọi phân khu của bộ não đều được
liên kết với nhau. Những phóng chiếu thần kinh dịch chuyển
từ phân khu này sang phân khu khác của bộ não; không có
khu vực nào hoạt động độc lập cả.
ứ ba, nghề nghiệp chính
của tôi là tiểu thuyết gia và doanh nhân, chứ không phải là
một nhà khoa học xã hội; tôi không có phòng thí nghiệm riêng
để thử nghiệm các lỗi nhận thức, và tôi cũng không có một
nhóm nghiên cứu để cử đi tìm kiếm các lỗi hành vi. Trong lúc
viết cuốn sách này, tôi giống như một dịch giả có nhiệm vụ
chuyển ngữ và tổng hợp những gì mình đã đọc và học được để diễn giải chúng thành những từ ngữ mà người khác có thể
hiểu. Tôi vô cùng kính phục các nhà nghiên cứu trong những
thập niên gần đây đã phát hiện ra những lỗi nhận thức và lỗi
hành vi ấy.
ành công của cuốn sách này về cơ bản là một sự
tri ân đối với công tác nghiên cứu của họ. Tôi hàm ơn họ rất
nhiều.
Đây không phải là một cuốn sách kim chỉ nam. Bạn sẽ
không tìm thấy “bảy bước để đạt được cuộc sống không sai
lầm” ở đây. Những lỗi nhận thức in sâu trong tiềm thức chúng
ta đến mức không thể nào rũ bỏ chúng hoàn toàn. Chỉ có ý chí
siêu nhiên mới có thể triệt tiêu chúng, nhưng đó thậm chí
không phải là một mục tiêu đáng hướng tới. Bởi không phải
tất cả những lỗi nhận thức đều nguy hại, và một số trong đó
thậm chí còn cần thiết để giúp ta sống tốt. Mặc dù cuốn sách
này không cung cấp chìa khóa mang đến hạnh phúc, nhưng
chí ít nó cũng đảm bảo cho bạn có thể đương đầu với quá
nhiều bất hạnh bạn vẫn tự gây ra cho mình.
Nguyện vọng của tôi vốn dĩ khá giản dị: nếu chúng ta có thể
học được cách nhận ra và tránh khỏi những sai lầm lớn nhất
trong tư duy - trong đời sống riêng, trong công việc, hay trong
quản lý nhà nước - chúng ta có thể tận hưởng sự thịnh vượng
vượt bậc. Chúng ta sẽ không cần thêm những mưu ma chước
quỷ, những ý tưởng mới, những công cụ không cần thiết, hay
sự nỗ lực đến quên mình - tất cả những gì chúng ta cần chỉ là
bớt phi lý trí đi mà thôi.
1
VÌ SAO BẠN NÊN ĐI VIẾNG CÁC NGHĨA TRANG
ành kiến sống sót
N
hìn đâu Rick cũng thấy những ngôi sao nhạc rock.
Họ xuất hiện trên truyền hình, trên trang nhất các
tạp chí, trong các chương trình hòa nhạc, và trên các trang của
người hâm mộ. Đâu đâu cũng nghe thấy những bài hát của họ
- trong trung tâm mua sắm, trong danh sách phát của máy
nghe nhạc cá nhân, trong phòng tập gym. Các ngôi sao nhạc
rock có mặt ở khắp nơi. Có rất nhiều người như thế. Và họ đều
thành công cả. Những câu chuyện về vô số tay guitar xuất sắc
khích lệ Rick, khiến anh chàng thành lập một nhóm nhạc.
Nhưng liệu Rick có thể làm nên chuyện? Khả năng thành công
chỉ nằm ở mấp mé con số không. Như rất nhiều người khác,
có khả năng cao anh chàng sẽ kết thúc sự nghiệp ở nghĩa địa
của những nhạc sĩ thất bại. Các nhạc sĩ trú ngụ trong nghĩa
địa ấy đông hơn gấp mười nghìn lần số nhạc sĩ đứng trên sân
khấu, thế nhưng chẳng có nhà báo nào hứng thú đưa tin về các
thất bại của họ cả - trừ trường hợp của những siêu sao thất
thế. Điều này làm cho những nghĩa trang kia trở nên vô hình
đối với người ngoài cuộc.
Trong cuộc sống hằng ngày, vì chiến thắng hiển hiện rõ
ràng hơn thất bại, nên bạn thường đánh giá cơ hội thành công
cao hơn mức thực tế. Là một người ngoài cuộc, bạn (cũng như
anh chàng Rick) rơi vào ảo tưởng và quên mất tỷ lệ thành công
trên thực tế nhỏ đến thế nào. Như bao người khác, Rick là một
nạn nhân của thành kiến sống sót.
Đằng sau mỗi tác giả được ưa chuộng, bạn có thể tìm thấy
một trăm văn sĩ khác chẳng bao giờ bán được sách. Đằng sau
họ lại là một trăm người nữa thậm chí còn chẳng tìm được
đơn vị xuất bản. Đằng sau những người này lại là một trăm
người khác có những bản thảo dang dở đóng bụi trong các
ngăn kéo. Và đằng sau mỗi người trong số đó là một trăm
người khác đang mơ mộng rằng - một ngày nào đó - họ sẽ viết
một cuốn sách. Riêng bạn thì chỉ nghe nói đến những tác giả
thành công (ngày nay, nhiều người trong số họ còn tự xuất bản
sách của mình), mà không nhận ra rằng thành công trong văn
chương khó đạt được đến thế nào.
ực tế đó cũng áp dụng
với giới nhiếp ảnh gia, doanh nhân, nghệ sĩ, vận động viên,
kiến trúc sư, những người đoạt giải Nobel, những người dẫn
chương trình truyền hình, và những người đẹp trong các cuộc
thi nhan sắc. Giới truyền thông hoàn toàn không có hứng thú
đào bới quanh khu mộ của những kẻ không thành công. Đó
cũng không phải là phận sự của họ. Để tránh sập bẫy thành
kiến sống sót, chính bạn phải tự đào sâu tìm hiểu.
Bạn cũng sẽ gặp phải thành kiến sống sót khi giải quyết
chuyện tiền nong hay rủi ro: hãy hình dung bạn của bạn thành
lập một công ty mới. Bạn nằm trong nhóm các nhà đầu tư
tiềm năng, và nhận thấy một cơ hội thực sự: đây có thể là một
Google thứ hai. Có thể bạn sẽ gặp may mắn. Nhưng thực tế là
gì? Kịch bản dễ xảy ra nhất chính là công ty đó thậm chí còn
không thể bước qua vạch xuất phát. Kịch bản thứ hai dễ xảy ra
hơn là công ty đó sẽ bị phá sản trong vòng ba năm. Trong số
các công ty sống sót qua ba năm đầu này, phần lớn không bao
giờ phát triển đến hơn mười nhân viên. Nếu như thế, bạn chớ
nên mạo hiểm đầu tư số tiền mồ hôi nước mắt của mình hay
sao? Không nhất thiết như vậy. Nhưng bạn nên hiểu rằng
thành kiến sống sót ấy đang hiện hữu, bóp méo tỷ lệ thành công
một cách tinh vi.
Ta hãy lấy ví dụ là chỉ số bình quân công nghiệp Down
Jones. Chỉ số này chỉ bao gồm những người sống sót tuyệt đối
mà thôi. Các doanh nghiệp nhỏ và thua lỗ không thể nào gia
nhập thị trường chứng khoán, nhưng lại chiếm phần lớn
trong tổng số các doanh nghiệp. Chỉ số chứng khoán không
thể hiện nền kinh tế của một quốc gia. Tương tự như thế, báo
chí cũng không đưa tin về tất cả các nhạc sĩ. Và bạn cũng nên
cẩn trọng với số lượng đông đảo các cuốn sách và diễn giả
thuyết trình về thành công: những người không thành đạt
chẳng bao giờ viết sách hay diễn giảng về các thất bại của họ.
ành kiến sống sót có thể trở nên đặc biệt nguy hại khi bạn
trở thành hội viên của đội “chiến thắng”.
ậm chí nếu thành
công của bạn có được hoàn toàn do tình cờ, bạn sẽ phát hiện
ra những điểm tương đồng với những người chiến thắng khác
và coi chúng như là các “yếu tố làm nên thành công”. Tuy
nhiên, nếu từng một lần thăm viếng nghĩa trang của các công
ty và cá nhân thất bại, bạn sẽ nhận ra rằng họ cũng sở hữu
nhiều phẩm chất làm nên thành công giống như bạn.
Nếu có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về một hiện tượng
cụ thể, một vài nghiên cứu sẽ công bố những kết quả có ý
nghĩa thống kê hoàn toàn do tình cờ - ví dụ như mối liên hệ
giữa mức tiêu thụ rượu vang đỏ và tuổi thọ cao. Những nghiên
cứu (không chính xác) này ngay lập tức sẽ rất được quan tâm
và yêu thích. Vì thế, bạn sẽ chẳng đời nào đọc được thông tin
về những nghiên cứu có kết quả chính xác nhưng “tẻ nhạt”.
ành kiến sống sót đồng nghĩa với việc: mọi người đánh giá
quá cao khả năng thành công của họ một cách có hệ thống.
Hãy đề phòng sai lầm bằng cách thường xuyên thăm viếng
nghĩa trang của các thương vụ đầu tư, các dự án và những
nghề nghiệp từng-có-lúc-hứa-hẹn. Chuyến thăm ấy có thể
buồn thật, nhưng nó sẽ giúp giữ cho đầu óc bạn được sáng
suốt.
2
HARVARD CÓ LÀM BẠN THÔNG MINH HƠN?
Ảo tưởng về vóc dáng kình ngư
T
iểu luận gia kiêm thương gia Nassim Taleb quyết
tâm xử lý đám mỡ thừa ngoan cố của mình, nên ông
bèn cân nhắc thử tập nhiều môn thể thao khác nhau. Có điều,
mấy tay chạy bộ trông có vẻ khẳng khiu và khổ sở quá, trong
khi những gã tập thể hình trông lại thô kệch và ngu ngốc, còn
những tay đua xe thì sao? Ôi trời, toàn những gã nặng mông!
Trong khi đó thì, những tay kình ngư thu hút ông nhờ vóc
dáng cân đối, thon gọn. Ông bèn quyết định đăng ký tại một
bể bơi địa phương và tập luyện chăm chỉ hai lần một tuần.
Sau một thời gian ngắn, ông nhận ra mình đã rơi vào ảo
tưởng. Những kình ngư chuyên nghiệp có được cơ thể hoàn
hảo không phải nhờ tập luyện miệt mài. Đúng hơn, họ bơi lội
giỏi chính là nhờ vóc dáng của họ. Kết cấu cơ thể chính là một
nhân tố giúp họ được chọn chứ không phải là kết quả từ hoạt
động rèn luyện. Đối với những người mẫu nữ quảng cáo mỹ
phẩm cũng vậy, rất nhiều người tiêu dùng nữ tin rằng các sản
phẩm đó giúp họ trở nên xinh đẹp.
ế nhưng đâu phải mỹ
phẩm khiến các cô gái ấy xinh đẹp như người mẫu. Đơn giản
chỉ là các cô người mẫu kia bẩm sinh đã hấp dẫn rồi, và chỉ vì
thế nên họ mới được chọn để quảng cáo mỹ phẩm. Còn với vóc
dáng kình ngư, thì vóc dáng đẹp là một nhân tố để được chọn,
chứ không phải là kết quả.
Bất cứ khi nào chúng ta nhầm lẫn các nhân tố để chọn lọc
với kết quả, chúng ta rơi vào cái mà Taleb gọi là ảo tưởng vóc
dáng kình ngư. Nếu không có sự ảo tưởng này, một nửa các
chiến dịch quảng cáo sẽ chẳng đạt được kết quả.
ế nhưng
thành kiến này không chỉ liên quan đến mong ước có được
một bộ ngực đẹp hay gò má chuẩn mực. Chẳng hạn, trường
Harvard có tiếng là một đại học hàng đầu. Rất nhiều người vô
cùng thành đạt đã từng theo học ở đó. Liệu có phải vì Harvard
là một ngôi trường tốt? Chúng ta không biết được điều đó. Có
lẽ ngôi trường ấy dở tệ, nhưng nó lại chiêu mộ được những
sinh viên sáng dạ nhất. Tôi từng kinh qua hiện tượng này tại
Đại học St. Gallen ở
ụy Sĩ. Đây được coi là một trong mười
trường kinh doanh hàng đầu tại châu Âu, nhưng những buổi
học tôi từng tham dự (dù sao cũng xin lưu ý là chúng diễn ra
hai mươi lăm năm trước) lại chỉ ở mức tầm tầm. Tuy nhiên,
rất nhiều người tốt nghiệp trường ấy ra lại thành công. Lý do
là gì vẫn còn chưa rõ - có thể là vì khí hậu ở vùng thung lũng
hẹp hoặc thậm chí là đồ ăn ở căng tin.
ế nhưng lý do khả dĩ
nhất có lẽ chính là sự tuyển chọn gắt gao.
Khắp nơi trên thế giới, các trường đào tạo MBA(1) chiêu dụ
thí sinh bằng những số liệu liên quan đến thu nhập tương lai.
Tính toán đơn giản này nhằm mục đích chứng tỏ rằng tiền học
phí cao ngất ngưởng sẽ được bù đắp trong một thời gian
ngắn. Cách làm này khiến rất nhiều sinh viên tiềm năng sập
bẫy. Tôi không có ý nói là các trường cường điệu hóa số liệu,
thế nhưng bạn không nên tin sái cổ những tuyên bố của họ.
Tại sao? Bởi vì những người theo đuổi tấm bằng MBA vốn đã
khác biệt so với phần còn lại. Chênh lệch thu nhập giữa cả hai
nhóm bắt nguồn từ vô vàn các lý do vốn chẳng liên quan gì
đến tấm bằng MBA cả. Một lần nữa chúng ta lại thấy ảo tưởng
vóc dáng kình ngư phát tác: nhân tố của sự chọn lọc bị nhầm lẫn
với kết quả. Do đó, nếu như bạn đang cân nhắc học lên cao,
hãy làm điều đó vì những lý do nằm ngoài một khoản lương
cao hơn.
(1)
Master of Business Administration (MBA or M.B.A.), thạc sĩ quản trị kinh
doanh. (Mọi chú thích trong sách đều là của người dịch và Ban biên tập tiếng Việt.)
Khi tôi hỏi những người hạnh phúc về bí quyết đạt được sự
mãn nguyện, tôi thường được nghe những câu trả lời kiểu như
“Bạn phải nhìn nhận chiếc cốc đầy một nửa thay vì vơi một
nửa”. Cứ như thể những người ấy không hề nhận ra rằng họ
sinh ra đã hạnh phúc và giờ đây có xu hướng nhìn thấy điều
tích cực ở vạn sự. Họ không hề nhận ra rằng tính cách tươi vui
- theo rất nhiều nghiên cứu, chẳng hạn nghiên cứu do Dan
Gilbert thuộc trường Harvard tiến hành - chính là một đặc
điểm tính cách chủ đạo được duy trì suốt đời. Hoặc, như các
nhà khoa học xã hội David Lykken và Auke Tellegen tuyên bố
thẳng tưng, “cố gắng cảm thấy hạnh phúc hơn cũng vô ích như
cố gắng trở nên cao ráo hơn”. Vì thế, ảo tưởng vóc dáng kình ngư
cũng chính là một dạng tự ảo tưởng. Khi những người lạc
quan ấy viết sách rèn luyện bản thân (self-help), ảo tưởng này
có thể trở nên lừa mị. Đó là lý do ta nên bỏ qua những lời
khuyên lẫn bí kíp mà những tác giả ấy đưa ra. Đối với hàng tỷ
người, những lời khuyên ấy khó lòng có tác dụng. Bởi những
người không hạnh phúc thì chẳng bao giờ viết sách rèn luyện
bản thân về các thất bại của họ cả, nên thực tế này vẫn bị che
giấu.
Kết luận: Hãy cẩn trọng khi người ta khuyến khích bạn cố
gắng đạt được một số thứ nhất định - cho dù đó là cơ bụng săn
chắc, vẻ ngoài không tì vết, một thu nhập cao hơn, tuổi thọ
cao hơn, một phong thái đặc biệt, hay là hạnh phúc. Bạn có
thể sập bẫy ảo tưởng vóc dáng kình ngư. Trước khi quyết định
dấn thân, xin bạn hãy nhìn vào gương - và thành thật với
những gì mình nhìn thấy.
3
VÌ SAO TA THẤY MÂY CÓ HÌNH THÙ
Ảo tưởng tụ nhóm
V
ào năm 1957, ca sĩ opera người
ụy Điển Friedrich
Jorgensen mua một cái đài quay băng để ghi âm
giọng ca của mình. Khi nghe lại phần ghi âm, ông nghe thấy
những tiếng động lạ, những tiếng thì thầm nghe giống như
những thông điệp siêu nhiên vậy. Vài năm sau, ông ghi âm
tiếng chim hót. Lần này, ông lại nghe thấy giọng nói thì thầm
xa xăm của người mẹ đã khuất: “Fried ơi, Fried con yêu, con có
nghe thấy mẹ nói không? Mẹ đây.”
ế là đủ. Cuộc đời
Jorgensen đảo lộn hoàn toàn và ông dành trọn thời gian để
liên lạc với người đã khuất qua những đoạn băng ghi âm.
Năm 1994, Diane Duyser đến từ Florida cũng trải qua một
cuộc chạm trán với thế giới bên kia như vậy. Sau khi cắn lát
bánh mì nướng và đặt nó xuống đĩa, bà nhìn thấy gương mặt
của Đức Mẹ Đồng Trinh trên đó. Ngay lập tức, bà dừng ăn và
cất giữ thông điệp thần thánh ấy (với một vết cắn) vào trong
một cái hộp nhựa. Vào tháng Mười một năm 2004, bà bán đấu
giá miếng bánh được giữ gìn gần như nguyên vẹn ấy trên
eBay. Miếng bánh mì để ăn hằng ngày đó đem lại cho bà
28.000 đô la.
Năm 1978, một phụ nữ từ New Mexico cũng có một trải
nghiệm tương tự. Những vết đen trên miếng bánh tortilla của
bà tạo ra hình trông giống như gương mặt của Đức Chúa
Jesus. Báo chí liền chộp ngay lấy câu chuyện, và hàng ngàn
người lũ lượt đổ tới New Mexico để chiêm ngưỡng đấng cứu
thế trong hình hài chiếc bánh. Trước đó hai năm, tức năm
1976, nhà thám hiểm của tàu vũ trụ Viking chụp từ trên cao
một thành tạo đá trông giống như khuôn mặt người. “Gương
mặt trên sao Hỏa” trở thành chủ đề nóng của các tờ báo trên
toàn cầu.
ế còn bạn thì sao? Bạn đã bao giờ nhìn thấy những gương
mặt trên các đám mây hay hình dáng của loài vật trên các tảng
đá hay chưa? Dĩ nhiên là có rồi. Chuyện này hoàn toàn bình
thường. Bộ não chúng ta luôn tìm kiếm những khuôn mẫu và
quy tắc.
ực ra, nó hoạt động còn tích cực hơn thế. Nếu
không thấy một hình mẫu quen thuộc nào, bộ não sẽ tự động
chế ra một hình mẫu nào đó. Dấu hiệu càng khó đoán, ví dụ
như tiếng động xa xăm trong băng ghi âm, thì càng dễ để tìm
thấy những “thông điệp ẩn” đằng sau nó. Hai mươi lăm năm
sau khi “gương mặt trên sao Hỏa” được phát hiện, tàu vũ trụ
Mars Global Surveyor gửi về những hình ảnh rõ nét, sinh động
của các thành tạo đá kia: gương mặt người đầy thu hút ấy hóa
ra chỉ là cồn đá bình thường giữa sa mạc.
Những ví dụ phù phiếm ấy khiến cho ảo tưởng tụ nhóm
tưởng như vô thưởng vô phạt; nhưng không phải vậy. Hãy
nghĩ đến các thị trường tài chính vẫn sản xuất ồ ạt hàng núi
dữ liệu mỗi giây. Một người bạn của tôi đã cười khoái trá mà
bảo rằng cậu ta vừa phát hiện ra một quy luật trong biển dữ
liệu. “Nếu anh nhân sự thay đổi phần trăm của Dow Jones với
sự thay đổi phần trăm của giá dầu, anh sẽ có được sự dịch
chuyển của giá vàng trong hai ngày tới.” Nói cách khác, nếu
như giá cổ phiếu và dầu mỏ cùng leo thang hoặc đi xuống, thì
giá vàng sẽ tăng sau hai ngày. Lý thuyết của cậu ta tỏ ra chính
xác trong một vài tuần, cho đến khi cậu ta đầu tư tất tay khoản
tiền rất lớn và hệ quả là quẳng hết tiền tiết kiệm của mình qua
cửa sổ. Cậu ta đã cảm nhận được một quy luật không hề tồn
tại.
oxxxoxxxoxxoooxooxxoo. Chuỗi ký tự này liệu có phải là
ngẫu nhiên không, hay đã được tính toán trước? Giáo sư tâm
lý học
omas Gilovich đã phỏng vấn hàng trăm người để tìm
câu trả lời. Hầu hết trong số họ không muốn tin rằng chuỗi ký
tự đó là vô nghĩa. Họ cho rằng hẳn là có một quy luật nào đó
tạo nên trình tự của các ký tự. Lầm rồi, Gilovich liền giải
thích, và ông chỉ vào một con súc sắc: ta hoàn toàn có thể thả
được cùng một số bốn lần liên tiếp trong một lượt chơi, một
điều khiến cho nhiều người cảm thấy khó hiểu. Rõ ràng là
chúng ta khó lòng chấp nhận rằng những sự việc như thế có
thể diễn ra thuần túy ngẫu nhiên.
Trong
ế chiến II, người Đức đã đánh bom London. Trong
các loại đạn dược, họ sử dụng tên lửa V1, một loại máy bay
không người lái tự dẫn đường. Cứ mỗi đợt tấn công, các khu
vực chịu ảnh hưởng lại được đánh dấu cẩn thận trên bản đồ,
khiến cho dân London phải khiếp sợ: họ cho rằng họ đã phát
hiện ra một quy luật và dựng lên những giả thuyết về khu vực
an toàn nhất của thành phố. Tuy nhiên, sau chiến tranh, phân
tích số liệu lại khẳng định rằng sự phân bổ là hoàn toàn ngẫu
nhiên. Ngày nay lý do đã trở nên rõ ràng: hệ thống dẫn đường
của V1 vô cùng thiếu chính xác.
Nói tóm lại: chúng ta thường nhạy cảm quá mức trong việc
phát hiện quy luật. Hãy lấy lại thái độ hoài nghi ban đầu của
bạn. Nếu bạn nghĩ rằng mình vừa phát hiện ra một quy luật,
thì trước tiên hãy coi đó như một sự ngẫu nhiên thuần túy.
Nếu nó có vẻ quá đúng, hãy tìm một nhà toán học và kiểm
nghiệm dữ liệu trên bằng thống kê. Và nếu có phần nào trên
chiếc bánh của bạn giống y hệt như gương mặt của Chúa
Jesus, hãy tự hỏi bản thân: nếu như ngài thực sự muốn lộ diện,
vì sao ngài không làm vậy ngay ở quảng trường
trên đài CNN?
ời Đại hoặc
4
KỂ CẢ KHI NĂM MƯƠI TRIỆU NGƯỜI CÙNG NÓI VỀ THỨ
NGỚ NGẨN NÀO ĐÓ, THÌ NÓ VẪN CỨ LÀ THỨ NGỚ NGẨN
Bằng chứng xã hội
B
ạn đang trên đường đến xem một buổi hòa nhạc. Ở
một ngã tư, bạn bắt gặp một đám người, tất cả đều
chăm chăm nhìn lên trời. Không cần suy nghĩ, bạn cũng
ngước lên theo. Tại sao vậy? Bằng chứng xã hội. Giữa buổi hòa
nhạc, một ai đó bắt đầu vỗ tay và bất ngờ cả phòng vỗ tay theo.
Bạn cũng vậy. Vì sao? Bằng chứng xã hội. Sau buổi hòa nhạc,
bạn đi đến quầy gửi áo để lấy lại áo khoác. Bạn quan sát thấy
những người phía trước bạn đặt một đồng xu lên chiếc khay,
mặc dù chính ra thì dịch vụ gửi đồ đã bao gồm cả trong giá vé.
Vậy bạn sẽ làm gì? Hẳn là bạn cũng sẽ để lại tiền tip.
Bằng chứng xã hội, đôi khi được gọi là “bản năng bầy đàn”,
làm cho các cá nhân cảm thấy như mình cư xử đúng khi hành
động giống như những người khác. Nói cách khác, càng có
nhiều người theo đuổi một suy nghĩ cụ thể, thì ta càng cảm
thấy ý tưởng đó đúng đắn. Và càng nhiều người thể hiện một
cách hành xử cụ thể, thì cách hành xử ấy càng dễ được những
người khác đánh giá là phù hợp. Điều này, hẳn nhiên, là rất
phi lý.
Bằng chứng xã hội chính là con quỷ nấp sau hiện tượng bong
bóng kinh tế và cơn hoảng loạn của thị trường chứng khoán.
Nó hiển hiện trong ngành thời trang, kỹ thuật quản trị, sở
thích, tôn giáo và cả chế độ ăn uống. Nó có thể làm tê liệt cả
nền văn hóa, ví dụ như khi các nhóm tín đồ cực đoan tự sát
tập thể.
Một thí nghiệm đơn giản, do nhà tâm lý học huyền thoại
Solomon Asch tiến hành hồi thập niên 1950, chứng minh rằng
áp lực từ những người xung quanh có thể làm lệch lạc trí khôn
của người ta như thế nào. Một đối tượng thí nghiệm được cho
xem một đường kẻ vẽ trên giấy, và bên cạnh đó là ba đường kẻ
khác - được đánh số 1,2, và 3 - một đường ngắn hơn, một
đường dài hơn, và một đường cùng chiều dài với đường kẻ
đầu tiên. Anh ta hoặc cô ta phải chỉ ra đường kẻ nào trong số
ba đường tương đương với đường kẻ đầu. Nếu đối tượng chỉ
có một mình trong phòng, người đó sẽ đưa ra câu trả lời đúng
vì công việc này thực sự khá đơn giản.
ế nhưng năm người
khác lại bước vào phòng; họ đều là những diễn viên, nhưng
đối tượng lại không hề biết điều đó. Lần lượt hết người này
đến người khác đều trả lời sai là “đường số 1”, mặc dù sự thật
hiển nhiên là đường số 3 mới là câu trả lời đúng. Và rồi đến
lượt đối tượng. Một phần ba trường hợp, người này sẽ trả lời
sai để trùng khớp với câu trả lời của những người kia.
Tại sao chúng ta lại hành động như vậy?
ực ra trong quá
khứ, bắt chước những người khác là một chiến lược hiệu quả
để tồn tại. Giả sử năm mươi ngàn năm trước nhóm người săn
bắt-hái lượm của bạn đang đi trong vùng đồng cỏ châu Phi, và
bỗng nhiên tất cả bọn họ đều chạy mất. Bạn sẽ làm gì khi đó?
Liệu bạn có đứng yên một chỗ, gãi đầu gãi tai và đánh giá xem
liệu thứ bạn đang nhìn thấy có phải là một con sư tử hay chỉ là
một con vật hoàn toàn vô hại hao hao sư tử nhưng thực ra lại
là nguồn cung cấp protein dồi dào hay không? Không đâu, thể
nào bạn cũng sẽ chạy thục mạng theo sau mấy người kia thôi.
Lát sau, khi đã an toàn rồi, bạn có thể ngồi nhớ lại chuyện gì
thực sự đã xảy ra. Những người hành xử khác đi - mà tôi chắc
chắn có một số người như thế - thì đã bị loại khỏi nguồn gen.
Chúng ta là hậu duệ trực tiếp của những người bắt chước cách
hành xử của người khác. Hình mẫu này đã ăn sâu vào chúng
ta đến nỗi tận ngày nay chúng ta vẫn còn dùng đến chúng,
mặc dù nó chẳng hề đem lại một lợi thế sống còn nào. Tôi chỉ
nghĩ ra một số ít trường hợp trong đó bằng chứng xã hội tỏ ra có
giá trị. Ví dụ như khi bạn bị đói ở một thành phố lạ và không
biết nhà hàng nào tốt, thì bạn chọn nhà hàng nào có nhiều
khách địa phương là điều dễ hiểu. Nói cách khác, bạn bắt
chước theo cách hành xử của dân địa phương.
Các chương trình hài và đối thoại trên truyền hình đều lợi
dụng bằng chứng xã hội bằng cách lồng tiếng cười thu âm sẵn
vào những thời điểm quan trọng, kích thích khán giả cười
theo. Một trong những trường hợp ấn tượng nhất, dù gây
phản cảm, của hiện tượng này chính là bài diễn văn nổi tiếng
mà bộ trưởng tuyên truyền đảng Quốc xã Joseph Goebbels
trình bày trước đám đông khán giả vào năm 1943. (Bạn có thể
xem trên YouTube.) Khi chiến tranh diễn biến theo chiều
hướng xấu thêm đối với nước Đức, ông ta hỏi: “Các bạn có
muốn một cuộc chiến triệt để không? Nếu cần thiết, các bạn
có muốn một cuộc chiến triệt để và ác liệt hơn tất cả những gì
chúng ta có thể tưởng tượng ra vào ngày hôm nay hay không?”
Đám đông liền hò reo. Nếu như từng người có mặt được hỏi
riêng mà không bị công khai danh tính, có thể đã chẳng có ai
đồng tình với đề nghị điên rồ ấy.
Ngành quảng cáo được hưởng lợi đáng kể từ sự yếu đuối
của chúng ta trước bằng chứng xã hội. Nó tỏ ra hiệu nghiệm
trong một tình huống khiến chúng ta rối trí (ví dụ như khi lựa
chọn giữa vô vàn nhãn hiệu xe, các sản phẩm tẩy rửa, sản
phẩm làm đẹp, vân vân, mà không đưa ra được lợi ích hay bất
lợi hiển nhiên nào), và khi đó nhóm người “cùng hội cùng
thuyền” được hình thành.
Do đó, hãy biết hoài nghi bất cứ khi nào một công ty tuyên
bố rằng sản phẩm của họ tốt hơn vì đó là sản phẩm “được ưa
chuộng nhất”. Làm sao một sản phẩm lại có thể tốt hơn chỉ vì
nó bán được nhiều hơn chứ? Và hãy nhớ lại câu nói khôn
ngoan của văn hào Anh W. Somerset Maugham: “Kể cả khi
năm mươi triệu người cùng nói về thứ ngớ ngẩn nào đó, thì nó
vẫn cứ là thứ ngớ ngẩn.”
5
VÌ SAO BẠN NÊN QUÊN ĐI QUÁ KHỨ
Ngụy biện chi phí đã mất
B
ộ phim thật kinh khủng. Sau một tiếng, tôi liền thì
thầm với vợ: “ ôi nào, ta về nhà thôi.” Nàng trả lời:
“Không được. Chúng ta không thể phí phạm 30 đô la.” “Không
có lý do gì để ở lại cả,” tôi phản đối. “Tiền thì đã mất rồi. Ngụy
biện chi phí đã mất đang phát tác đấy - đây là một sai lầm về tư
duy!” Nàng cau mày nhìn tôi với ánh mắt hình viên đạn.
ôi
được, đôi khi tôi hơi quá trớn trong chuyện này, mà bản thân
nó cũng là một lỗi gọi là bệnh nghề nghiệp (xem chương 92). Tôi
tìm cách làm rõ tình huống này trong tuyệt vọng. “Cho dù có ở
lại hoặc bỏ đi thì ta cũng đã tiêu mất 30 đô la rồi, vì thế yếu tố
này không có vai trò gì trong quyết định của chúng mình hết.”
Khỏi phải nói, tôi vẫn phải chịu thua và ngồi im tại ghế của
mình.
Ngày hôm sau, tôi tham dự một cuộc họp về quảng bá sản
phẩm của công ty. Chiến dịch quảng cáo của chúng tôi đã diễn
ra trong bốn tháng mà không thu được nổi một trong những
mục tiêu đặt ra. Tôi muốn hủy bỏ nó. Song giám đốc quảng
cáo lại không chịu, và nói rằng: “Nhưng chúng ta đã đầu tư
quá nhiều tiền của vào đó rồi. Nếu giờ chúng ta dừng lại, thì
công sức bỏ ra sẽ đổ sông đổ bể.” Lại một nạn nhân khác của
ngụy biện chi phí đã mất.
Một người bạn tôi vật lộn nhiều năm trong một mối quan
hệ khốn khổ. Bạn gái anh ta đã lừa dối anh ta nhiều lần. Lần
nào cô ta cũng quay về đầy vẻ hối lỗi và van xin anh ta tha thứ.
Anh ta giải thích với tôi như sau: “Tôi đã đầu tư quá nhiều
công sức vào mối quan hệ này, sẽ là sai lầm nếu từ bỏ nó.” Một
trường hợp kinh điển về ngụy ...
 





