GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
Phan Tam Hoc Nhap Mon - Sigmund Freud

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:31' 09-03-2024
Dung lượng: 3.5 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:31' 09-03-2024
Dung lượng: 3.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
PHÂN TÂM HỌC NHẬP MÔN
Sigmund Freud
Dịch Giả: Nguyễn Xuân Hiến
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
Sigmund Freud - Tâm lý gia của cõi vô thức
Nhập đề
Phần thứ nhất:
Những hành vi sai lạc
Phần thứ hai: Giấc mơ
Những khó khăn đầu tiên
Những điều kiện và kỹ thuật của sự giải thích
Nội dung rõ ràng là những ý tưởng tiềm tàng trong giấc mơ
Những giấc mơ của trẻ con
Sự kiểm duyệt giấc mơ
Tính cách tượng trưng trong giấc mơ
Sự xây dựng giấc mơ
Phân tích một vài ví dụ về giấc mơ
Những điểm cổ lỗ, tính cách ấu trĩ trong giấc mơ
Sự thực của ham muốn
Những điều mơ hồ về phê bình
Phần thứ ba: Thuyết tổng quát về chứng bệnh thần
kinh
Phân tâm học và thần kinh học
Ý nghĩa các triệu chứng
Vô thức có thể coi như một tác động gây thương tích
Chống đối và dồn ép
Đời sống và tình dục của người đàn ông
Sự phát triển của khát dục (libido) và những tổ chức tình
dục
Phương diện của sự phát triển và sự tụt lùi căn bệnh học
Những phương sách thành lập triệu chứng
Tinh thần bất an
Sự lo sợ phập phồng
Thuyết khát dục và bệnh thần kinh Narcissisme
Sự hoán chuyển
Phương pháp trị liệu phân tâm học
Lời giới thiệu
Sigmund Freud - Tâm lý gia của cõi vô
thức
Trong tất cả các ngành khoa học, người ta thường thừa
nhận tâm lý học là một môn khoa học bí hiểm và tối tăm nhất,
và khó có thể chứng minh bằng khoa học hơn bất cứ bộ môn
nào khác. Bản chất của những sự vật ở đây luôn luôn có sự hư
hư thực thực và sự bất ngờ, vì nhà tâm lý học phải nghiên cứu
về một hiện tượng tự nhiên bí mật nhất, đó là cuộc sống tâm lý
của con người. Một lý thuyết hóa học hay vật lý có thể được
chứng minh hay bác bỏ những phương pháp kỹ thuật trong
phòng thí nghiệm, nhưng đối với giá trị của một lý thuyết tâm
lý học, rất có thể không sao chứng minh được một cách minh
bạch, cho nên nhiều cuộc tranh luận bão táp đã nổi lên xung
quanh Sigmund Freud và khoa phân tâm học suốt sáu chục
năm ròng.
Dầu sao, có thể chứng minh được hay không thì học thuyết
của Sigmund Freud cũng đã có một ảnh hưởng vô song đối với
tư duy hiện đại. Ngay Einstein cũng không kích thích trí tưởng
tượng hay thâm nhập vào đời sống của người đương thời bằng
Sigmund Freud. Nhờ tìm tòi nghiên cứu những thứ chưa bao
giờ ai hiểu biết về trí não con người mà Sigmund Freud đã đưa
ra được những ý tưởng và những từ ngữ mà ngày nay đã chan
hòa vào cuộc sống thường nhật của chúng ta. Thực vậy, tất cả
mọi lĩnh vực tri thức của con người như văn chương, nghệ
thuật, tôn giáo, nhân chủng học, giáo dục, luật pháp, xã hội
học, luật học, sử học và những môn học về xã hội hay cá nhân
khác đều chịu ảnh hưởng của học thuyết Sigmund Freud.
Tuy nhiên, học thuyết này lại quá khô khan và ít sáng sủa.
Một nhà phê bình khá hài hước đã nhận xét rằng:
“Đối với người đời thì do sự phổ biến học thuyết này,
Freud đã nổi bật lên như một kẻ phá bĩnh vĩ đại nhất trong lịch
sử tư tưởng nhân loại. Ông đã biến đổi sự giễu cợt và những
niềm vui nhẹ nhàng của con người thành những hiện tượng
dồn nén, bí hiểm và sầu thảm, đã tìm thấy sự hằn thù trong
nguồn gốc yếu thương, ác ý ngay trong lòng sự âu yếm, loạn
luân trong tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái, tội lỗi
trong thái độ đại lượng và trạng thái của sự căm uất bị “dồn
nén” của mọi người cha như là một thứ được lưu truyền của
nhân loại”.
Tuy nhiên nhờ Freud mà ngày nay người ta đã có những ý
nghĩ rất khác nhau về chính mình. Họ chấp nhận các khái niệm
của Freud như: ảnh hưởng của tiềm thức đối với ý thức, nguồn
gốc tính dục của bệnh thần kinh, sự hiện hữu và tầm quan
trọng của tính dục trẻ thơ, tác dụng mặc cảm Ơ-đip” vào các
giấc mộng, tình trạng “dồn nén”… Những khuyết điểm của
con người như lỡ lời, nhớ mặt quên tên và quên lời hứa đều
mang một ý nghĩa mới xét theo quan điểm của Freud. Hiện
nay khó mà xác định được hết những định kiến mà Freud phải
chống lại để truyền bá học thuyết của ông. Những định kiến
này còn cố chấp hơn cả những định kiến mà Copernicus và
Darwin đã vấp phải.
Khi Freud chào đời ở Freiberg thuộc miền Moravia, tác
phẩm Nguồn gốc các chủng loài chưa xuất hiện. Năm đó là
năm 1985. Cũng như Karl Marx, tổ tiên Freud có nhiều người
là pháp sư đạo Do Thái. Ông được đưa tới thành Vienna thủ đô
nước Áo vào năm lên bốn tuổi và đã sống gần suốt cả tuổi
trưởng thành tại đây. Theo Ernest Jones, người viết tiểu sử
chính của Freud thì ông đã được thừa hưởng của cha ông là
một nhà buôn len, “tính hoài nghi sâu sắc về những tai biến
bất thường của cuộc đời, thói quen dùng giai thoại Do Thái để
châm biếm các quan điểm đạo đức, không tín ngưỡng những
vấn đề tôn giáo”. Bà mẹ Freud sống tới năm 59 tuổi, bản tính
năng động và nhanh nhẹn. Sigmund Freud là đứa con cưng
đầu lòng của bà. Sau này Freud đã viết “một người đã từng là
con yêu đặc biệt của một bà mẹ thì suốt đời người ấy có cái
cảm giác là một kẻ đi chinh phục, và chính cái lòng tin chiến
thắng ấy luôn đem lại thành công thực sự”.
Vào những năm đầu của cuộc đời, Freud rất tin vào thuyết
của Darwin vì ông thấy rằng “Những thuyết ấy làm cho người
ta có thể hy vọng vào những bước tiến phi thường trong việc
tìm hiểu thế giới”. Dự định sẽ trở thành thầy thuốc, ông đã
theo học trường Đại học Y khoa thành Vienna. Và ông đã đỗ
bác sĩ năm 1881. Là một thầy thuốc trẻ tuổi của bệnh viện đa
khoa, chữa trị đủ mọi loại bệnh, ông tiếp tục nghiên cứu môn
thần kinh bệnh học và giải phẫu thần kinh. Ít năm sau, số
mệnh xoay chiều và bất thần làm tên tuổi của ông nổi tiếng
khắp thế giới. Một bạn đồng nghiệp của ông đã đi Paris và ông
bèn đi theo sang thành phố này. Tại đây, ông cùng làm việc
với Jean Charcot, lúc ấy đã là một nhà bệnh lý học và thần
kinh học người Pháp nổi tiếng. Ở đây, lần đầu tiên ông được
tiếp xúc với công trình của Charcot về bệnh loạn thần kinh và
cách dùng phương pháp thôi miên để điều trị bệnh này. Freud
đã thoả mãn khi thấy Charcot chứng minh được “bệnh loạn
thần kinh thật mà và loạn thần kinh giả do dùng thôi miên tạo
ra.
Nhưng khi trở lại thành Vienna, Freud không làm thế nào
để thuyết phục được các bác sĩ đồng nghiệp: họ không tin là
phương pháp chữa bệnh loạn thần kinh bằng thôi miên lại có
cơ sở khoa học. Và người ta còn trừng phạt những ý nghĩ quá
tạo bạo của ông bằng cách đuổi ông ra khỏi phòng thí nghiệm
giải phẫu thần kinh. Từ đấy Freud tách khỏi môi trường đại
học và không còn tiếp tục tham gia những buổi họp của giới trí
thức ở Vienne nữa. Trong lúc hành nghề bác sĩ tư, ông tiếp tục
dùng phương pháp thôi miên để thí nghiệm trong nhiều năm
nữa, nhưng dần dần ông đã bỏ phương pháp điều trị này chỉ vì
ít người hợp với lối chữa bằng thôi miên và cũng vì đôi khi
thôi miên có những hiệu quả không hay với nhân cách người
bệnh. Thay vào đó, Freud bắt đầu phát triển một phương pháp
mới, ông đặt tên là “tự do liên tưởng”, về sau kỹ thuật này đã
trở thành một tiêu chuẩn thực hành của khoa học phân tâm
học.
Freud hẳn là người sáng lập ra môn thần kinh bệnh học,
điều đó không còn nghi ngờ gì nữa. Trước ông, các nhà thần
kinh bệnh học chỉ quan tâm đến những triệu chứng của bệnh
tâm thần phân liệt (schizophrenia) và chứng tâm thần suy giảm
(lẩm cẩm), cần phải giam lại trong bệnh viện. Ngay từ khi
chữa chứng dồn nén và chứng thần kinh tương khắc, Freud đã
đi tới kết luận là không phải chỉ riêng con bệnh mà cả những
người lành mạnh bình thường cũng mang trong mình những
xung khắc tâm thần tương tự. Đi xa hơn nữa, bệnh tâm thần
không phải là bệnh theo nghĩa thông thường được chấp nhận
mà là trạng thái tâm lý của trí não. Vấn đề quan trọng là làm
thế nào để điều trị những chứng rối loạn tâm thần đang lan
tràn rộng rãi ấy. Căn cứ vào những quan sát, thí nghiệm và
kinh nghiệm thực hành khi điều trị cho nhiều người bệnh ở
Vienna, Freud đã xây dựng cơ sở cho khoa phân tâm học vào
khoảng cuối thế kỷ 19.
Freud là một trong những nhà khoa học đã sáng tác nhiều
hơn hết trong thời đại chúng ta. Sự phong phú về những đề tài
mới mẻ cùng những phần đóng góp về tâm lý do ngòi bút của
ông đem lại không thể thu gọn trong bất cứ một cuốn sách hay
tờ báo nào. Theo ông, thì chắc chắn cuốn sách quan trọng ra
đời sớm nhất của ông mà cũng được ông yêu thích nhất là
cuốn Đoán Mộng xuất bản năm 1900. Sách này gồm hầu hết
những quan sát cơ bản và những suy luận của ông. Trong cuốn
Nghiên cứu về chứng loạn thần kinh xuất bản sớm hơn (tức là
vào năm 1895), ông đã bộc lộ niềm tin rằng “yếu tố chính
trong sự rối loạn về tính dục là sự suy yếu gây ra cả bệnh tâm
thần (neuros) lẫn bệnh tâm thần suy nhược (psychoneuroses)”.
Đó là nền tảng của thuyết phân tâm. Vài năm sau đó, Freud
hoàn chỉnh được lý thuyết của ông về sức đối kháng, hiện
tượng chuyển biến tính dục tuổi thơ, mối tương quan giữa
những ký ức bất mãn và ảo tưởng, giữa cơ chế tự vệ (defense
mechanism) và sự dồn nén.
Một bản tóm lược những luận đề chính sẽ cho ta thấy được
phần nào tính phức tạp của thuyết phân tâm. Trước hết, thần
kinh bệnh học và phân tâm học không phải là hai từ đồng
nghĩa. Phân tâm học có thể được coi như một ngành của thần
kinh bệnh học và chỉ áp dụng cho những trường hợp khó khăn
nhất là rối loạn nhân cách. Cho nên, phân tâm học có thể được
định nghĩa như một phương pháp dùng để trị những bệnh rối
loạn tâm lý và thần kinh. Theo một bản tường trình mới đây
thì ở Mỹ chỉ có 300 trên 4.000 các bác sĩ thần kinh được tín
nhiệm là những nhà phân tâm học mà thôi.
Họa hoằn lắm Freud mới chú ý tới việc điều trị cá nhân.
Những trường hợp cá nhân không bình thường chỉ được coi là
những triệu chứng xáo trộn về kinh tế, xã hội và văn hoá của
thế giới ngày nay. Mục đích của ông là trị bệnh tận gốc.
Nhiều nhà phê bình đã đồng ý là thành tựu mà Freud đã
đạt được dựa chủ yếu trên công trình phát giác và khảo sát về
lĩnh vực vô thức của con người.
So sánh tâm linh con người với một tảng băng, mà tới tám
chín phần mười tảng băng này chìm dưới nước biển, Freud
cho rằng phần chính tâm lý con người cũng được ẩn giấu trong
cõi vô thức. Bên dưới lớp vỏ ngoài, vì những lý do nào đó,
những cảm giác và những mục đích mà một cá nhân đã không
những giấu kín người khác mà còn tự giấu ngay chính bản
thân mình nữa. Trong tâm lý học của Freud, cõi vô thức là tối
thượng và mọi hoạt động ý thức chỉ có một vị trí phụ thuộc.
Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa của cõi vô thức ắt
chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của con người. Freud
tuyên bố là chúng ta thường suy nghĩ một cách vô thức và chỉ
thỉnh thoảng suy tư của chúng ta mới có tính chất ý thức. Tâm
linh vô thức chính là nguồn gốc gây bệnh tâm thần, vì bệnh
nhân thường cố gắng gạt ra ngoài cõi ý thức mọi ký ức khó
chịu, mọi ước vọng bị “dồn nén” vô hiệu, nhưng kết quả là anh
ta tích tụ ngày càng nhiều ký ức, những ước vọng, để dồn
thành bệnh.
Freud phân loại mọi hoạt động tinh thần của mỗi nhân con
người được thể hiện thành ba cấp độ được ông gọi là Tự Ngã,
(Id. Soi); Bản Ngã (ego moi) và Siêu Ngã (superego Surmoi).
Quan trọng số một là cái Id, Freud bảo: Phạm vi của Id là phần
nhân cách tối tăm và không thể đi đến được của chúng ta. Bản
thân ta chỉ biết chút ít về cái Id qua nghiên cứu các giấc mộng
và qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của bệnh tâm
thần, Id là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thuỷ và các xúc
cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn
là một con thú, Id có tính chất thú vậy và bản chất của nó là
thuộc về dục tính (sexual in nature), nó vốn vô thức. Freud
viết tiếp: Cái Id bao gồm tất cả những gì do di truyền, có ngay
từ lúc sinh ra được kết tụ lại trong sự cấu thành. Id mù quáng
và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thoả mãn các ham
muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến các hậu
quả. Nói theo Thomas Mann thì: “Nó không biết gì đến giá trị,
thiện hay ác, và cả đạo đức nữa”.
Đứa bé sơ sinh là Id được nhân cách hóa. Dần dần cái Id
phát triển lên thành cái Ego (bản ngã Moi). Khi đứa bé lớn lên.
Thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên lý khoái lạc, cái
Ego bị chi phối bởi nguyên lý “thích ứng với thực tại”. Ego
biết được thế giới xung quanh, nhận ra rằng phải kìm hãm
những khuynh hướng phạm pháp của cái Id để ngăn ngừa mọi
xung đột với luật lệ của xã hội. Như Freud viết, cái Ego là
“viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng của cái Id và sự
kiểm soát của thế giới bên ngoài”. Vì vậy Ego thực sự hành
động như một nhân viên kiểm duyệt, cắt xén, sửa đổi những
thúc giục của cái Id làm cho những thúc giục này phù hợp với
tình hình thực tế, biết rằng việc tránh khỏi bị xã hội trừng phạt
và cả để tự bảo toàn hay là ngay cả đến sự bảo tồn, đều phải
tùy thuộc vào những “dồn nén”. Tuy nhiên cuộc đấu tranh
giữa cái Ego và Id có thể gây ra những bệnh tâm thần, ảnh
hưởng nghiêm trọng tới nhân cách cá nhân.
Sau hết, còn một thứ yếu tố thứ ba trong quá trình sinh
hoạt tinh thần gọi là Superego (Siêu ngã). Siêu ngã này có thể
được định nghĩa một cách đại khái là “lương tâm”. Học trò
chính của Freud ở Hoa Kỳ là A.A Brill đã viết:
“Cái Superego là sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con
người có thể đạt tới được và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm
đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi đứa trẻ. Tri giác
lương tâm hoàn toàn tùy thuộc vào sự phát triển của cái
Superego.
Cũng như cái Id, cái Superego cũng nằm trong vô thức và
cả hai cùng luôn ở thế tương tranh, trong khi cái Ego luôn hoạt
động ở giữa như một trọng tài. Lý tưởng đạo đức và quy tắc cư
xử đều nằm trong Superego. Khi ba cái Id và Superego tương
đối hòa hợp thì cá nhân lúc ấy ở trạng thái điều hòa và hạnh
phúc. Nếu cái Ego để cho cái Id vi phạm các luật lệ, cái
Superego sẽ gây ra lo lắng, cảm giác có tội và mọi biểu lộ của
lương tâm.
Lý thuyết tính dục hay còn gọi là nhục dục (Libido) là một
khái niệm khác được ghép chung với Id và do Freud tạo ra.
Ông dạy rằng tất cả những xúc cảm của Id đều là hình thức thể
hiện của “năng lượng tính dục” (sexual). Thuyết tính dục đã
từng được gọi là “cái lõi của phân tâm học”. Mọi sáng tạo văn
hóa của con người: nghệ thuật, luật pháp, tôn giáo, vân vân..
đều được coi là sự phát triển của tính dục. Khi nói “năng lực
của tính dục” (sexual energy), thì ở đây chữ “tính” (sexual)
được dùng theo nghĩa rộng. Ở đứa trẻ bản năng tính dục bộc lộ
qua những hành động như mút tay, bú sữa chai và bài tiết.
Những năm sau đó năng lượng tính dục có thể được truyền
cho người khác qua hôn nhân, mang hình thức một hư hỏng
thuộc về “tính” hay được thể hiện qua hoạt động sáng tạo nghệ
thuật, văn chương hay âm nhạc - đó là phương pháp được gọi
là “dịch chuyển”. Theo Freud thì bản năng tính dục (sex
instinct) là nguồn gốc của mọi công trình sáng tạo vĩ đại nhất.
Thật vậy, Freud đã tuyên bố: “Các bênh tâm thần, không
chừa một bệnh nào, đều là những rối loạn của đời sống sinh
lý”. Nếu luận thêm, không thể cho rằng bệnh tâm thần là do
những cuộc hôn nhân thất bại hay những mối tình lỡ làng gây
ra; trái lại có thể tìm thấy dấu vết tất cả những bệnh này ở thời
kỳ ấu thơ với các mặc cảm tính dục. Freud đã áp dụng lý
thuyết của ông sang lĩnh vực nhân chủng học trong tác phẩm
Vật tổ và cấm kỵ. Ông tin rằng ngay tôn giáo cũng chỉ là biểu
hiện của mặc cảm tính dục. Sau khi phân tích kỹ lưỡng từng
chi tiết hàng trăm trường hợp bệnh nhân đến chữa bệnh, Freud
đã nâng bản năng tính dục và thèm khát nhục dục lên thành
yếu tố đầu tiên và mạnh mẽ nhất trong việc tạo thành nhân
cách con người, đồng thời là nguyên nhân sâu xa của mọi bệnh
tâm thần. Đó là một phán đoán mà một số các nhà phân tâm
học nổi tiếng khác đã bác bỏ như sẽ nói sau đây.
Vì xã hội buộc mỗi con người phải kiềm chế nhiều ham
muốn, theo cách nói của Freud thì mỗi cá nhân đã vô tình tích
trữ nhiều “dồn nén”. Bình thường thì ý thức con người vẫn
thành công trong việc ngăn trở, không cho “những sức mạnh
vô thức đen tối” bị dồn nén kia xuất hiện. Nhưng sự kiểm soát
ấy có thể làm cho những con bệnh tâm thần trải qua những
giai đoạn xúc cảm bị rối loạn sâu xa. Freud cho công việc
chữa bệnh của nhà phân tâm học là “làm bộc lộ và thay thế
những dồn nén bằng những hành động phán đoán có thể đưa
đến, hoặc sự chấp nhận hoặc sự loại bỏ những gì đã bị khước
từ từ trước”. Vì bản chất của sự dồn nén là gây ra sự đau khổ,
nên người bệnh thường cố tìm cách ngăn không cho những
dồn nén ấy bộc lộ ra ngoài. Sự cố gắng che đậy ấy Freud gọi là
“sức đối kháng”. Nhiệm vụ của thầy thuốc là loại bỏ sức đối
kháng này, để người bệnh bộc lộ ra cái “dồn nén” kia.
Kỹ thuật do Freud phát minh ra để giải tỏa với mọi “dồn
nén” và loại bỏ mọi đối kháng là phương pháp “gợi tự do liên
tưởng”: Những lời nói thao thao bất tuyệt có ý thức của người
bệnh khi nằm trên cái giường của nhà phân tâm học trong cảnh
đèn sáng mờ mờ, nhà phân tâm học kích thích, khêu gợi để
người bệnh không nghĩ một cách có ý thức về bất cứ chiều
hướng nào, Freud cho rằng phương pháp “kích thích tự do liên
tưởng” là phương pháp duy nhất hữu hiệu để chữa bệnh tâm
thần. Ông cũng chủ trương là phương pháp ấy “hoàn thành
được điều mà người ta trông đợi, nghĩa là đưa những mong
muốn bị sức đối kháng dồn nén từ xưa ta lĩnh vực ý thức”.
Brill đã mô tả cách Freud chữa bệnh như sau: “Ông thuyết
phục con bệnh gạt mọi suy nghĩ có ý thức, tự buông thả mình
vào một trạng thái tập trung bình thản, tự phó mặc theo những
cảm xúc và suy nghĩ nảy sinh, rồi thuật lại tất cả những điều
đó cho ông biết. Nhờ phương pháp ấy, ông đưa dần bệnh nhân
tới trạng thái “tự do liên tưởng”; và nhờ nghe người bệnh tự do
liên tưởng, mà thầy thuốc có thể tìm ra được nguồn gốc sâu xa
của các triệu chứng”. Sự việc đã quên rồi nay lại được người
bệnh kéo ra khỏi cõi vô thức, có khi phải sau hàng tháng trời
điều trị bằng phương pháp phân tâm. Nguồn gốc thường là
một sự việc nào đó đau đớn, khó chịu, đáng sợ hay nói cách
khác đáng ghét, từ trong quá khứ của bệnh nhân. Đó chính là
những “kỷ niệm” mà người bệnh hoàn toàn không muốn nhớ
lại một cách có ý thức.
Trong quá trình tự do liên tưởng, những hồi tưởng lông
bông ấy không tránh khỏi tạo ra một mớ lộn xộn, rối rắm
những sự kiện lờ mờ không rõ, và tưởng như vô ích. Vì vậy,
người thầy thuốc như nhiều nhà phê bình cho biết, gần như có
vô vàn cách giải thích những dữ kiện ấy. Vì thế nhà phân tâm
học phải hết sức sáng suốt và có tài khéo léo.
Trong khi chữa bệnh bằng phương pháp phân tâm, Freud
phát hiện ra cái mà ông gọi là “một yếu tố quan trọng khó thể
nào lường được”, một giây liên lạc tình cảm nồng nhiệt giữa
con bệnh và nhà phân tâm học. Cái đó gọi là “chuyển dịch”.
“Bệnh nhân không thỏa mãn nếu chỉ coi nhà phân tâm học
như là người giúp đỡ và cố vấn cho họ.. Ngược lại con bệnh
lại nhìn thấy qua nhà phân tâm học một hình ảnh quan trọng
trong thời thơ ấu hay quá khứ của họ hiện lại. Và vì thế mà họ
sẵn sàng bộc lộ mọi tình cảm và phản ứng mà chắc chắn là đã
được dành cho hình ảnh ấy “dịch chuyển” sang phía nhà phân
tâm học”.
Sự dịch chuyển “có thể thay đổi giữa hai thái cực, từ một
tình yêu hoàn toàn xác thịt và cuồng nhiệt tới một thái độ nghi
ngờ chua chát và oán hờn không kìm chế được.”
Trong tình trạng ấy, nhà phân tâm học “như được đặt vào
địa vị của cha mẹ người bệnh”. Freud coi sự kiện dịch chuyển
như “công cụ tốt hơn hết để chữa bệnh theo phương pháp phân
tâm” nhưng ông cũng cho biết “tuy nhiên việc sử dụng phương
pháp này là phần khó khăn và quan trọng hơn hết trong kỹ
thuật phân tâm”. Freud xác nhận là việc này “được thực hiện
bằng cách thuyết phục con bệnh là họ đang sống lại những
mối liên hệ tình cảm phát sinh từ thời ấu thơ”.
Một phương pháp hữu hiệu khác để nghiên cứu những
xung đột và cảm xúc nội tâm được Freud khai triển thêm là
phân tích những giấc mộng. Trong lĩnh vực này, Freud cũng
lại là một nhà tiên phong. Trước ông, người ta coi giấc mộng
là vô nghĩa hoặc không có mục tiêu. Tác phẩm Đoán mộng
của ông là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về hiện
tượng nằm mộng. Ba mươi mốt năm sau khi tác phẩm này
được ấn hành, Freud nhận ra rằng: “Theo nhận xét của tôi
ngày nay thì tác phẩm này chứa đựng tất cả những phát kiến
giá trị nhất mà tôi đã may mắn tìm ra”. Theo Freud thì “chúng
ta đã có lý khi cho rằng giấc mộng là sự biến dạng của một
ước vọng khi bị dồn nén”. Mỗi một giấc mộng đều biểu hiện
một bi kịch trong thế giới nội tâm của con người. Freud xác
nhận rằng: “Giấc mộng bao giờ cũng là sản phẩm của một
cuộc tranh chấp” và “mộng bảo vệ cho giấc ngủ”. Nhiệm vụ
của giấc mộng là trợ giúp chứ không phải là phá rối giấc ngủ.
Giấc mộng làm tan đi cảm giác căng thẳng do những ước
mong không đạt được gây ra.
Theo quan điểm của Freud thì giấc mộng thuộc phạm vi
chi phối của vô thức, của Id và mộng rất quan trọng đối với
nhà phân tâm học vì nhờ nó mà phân tâm học đi được vào cõi
vô thức của con bệnh. Trong cõi vô thức có tất cả những ước
vọng đầu tiên và những ham muốn thuộc cảm xúc đã bị hai cái
Ego và Superego gạt ra khỏi ý thức. Những ham muốn thú tính
luôn luôn nằm ngay bên dưới cái vỏ ngoài ý thức, và tự thúc
đẩy tiến vào thế giới mộng mị. Tuy nhiên, ngay trong giấc
mộng, Ego và Superego vẫn có mặt để canh chừng, kiểm
duyệt. Vì lẽ đó, ý nghĩa của giấc mộng không luôn rõ ràng,
những ý nghĩa này được biểu lộ bằng những hiện tượng và
thầy thuốc cần biểu lộ chúng một cách lão luyện. Vì mang tính
kí hiệu cho nên ý nghĩa của giấc mộng ta không thể hiểu được
theo nghĩa đen, ngoại trừ những giấc mộng đơn giản của trẻ
thơ. Trong tác phẩm Đoán mộng có nhiều ví dụ được Freud
dùng phương pháp phân tâm phân tích.
Đọc nhầm, nói lỡ lời và những biểu hiện đãng trí lặt vặt
khác đều là những dấu hiệu cho biết hoạt động ngầm của vô
thức. Freud viết: “Đã biết dùng phép đoán mộng để đi vào cõi
vô thức thì phân tâm học cũng sử dụng những lầm lỡ của con
người nhằm mục đích đó. Những lầm lỡ ấy nhà phân tâm học
gọi là triệu chứng hoạt động”. Vấn đề này còn được Freud
nghiên cứu vào năm 1904 trong cuốn Tâm thần bệnh lý học
của đời sống thường ngày (The psychopathology of everyday
life). Trong tác phẩm này, ông vẫn chủ trương “những hiện
tượng đó không phải ngẫu nhiên… chúng có một ý nghĩa và ý
nghĩa đó có thể diễn giải ra được. Và người ta có lý khi từ
những hiện tượng đó suy ra sự hiện hữu của những xúc động
và mong muốn bị dồn nén, ngăn cấm”. Quên tên ai có thể có
nghĩa là mình không ưa gì người mang tên ấy. Một người lỡ
tầu vì nhầm lẫn bảng tầu chạy, có thể có nghĩa là người ấy
không muốn đi chuyến tầu ấy. Một người chồng đánh mất hay
quên chìa khóa nhà có thể vì người ấy cảm thấy đã phải sống
khổ sở trong gia đình và không muốn về nhà. Nghiên cứu
những lầm lẫn như vậy có thể đưa nhà phân tâm học đi vào cõi
vô thức đầy rối rắm của con người.
Người ta còn tự giải thoát được những gì bị dồn nén nhờ
biết giễu cợt. Giễu cợt đã được Freud mệnh danh là “cái nắp
xả hơi tối tân và an toàn nhất mà con người đã dần tạo ra
được” vì chính nhờ giễu cợt mà chúng ta tạm thời thoát ra khỏi
những dồn nén mà cái xã hội lễ giáo này đòi hỏi chúng ta phải
che giấu đi.
Có thể vì những phản ứng chung quanh hoặc vì càng ngày
càng bất mãn hay bi quan, khi về già Freud tỏ ra lo lắng về cái
chết (bản năng đi đến cái chết). Có lần ông quan niệm “bản
năng chết” này quan trọng ngang với bản năng tính dục. Freud
cho rằng có một “bản năng đi đến cái chết” thúc đẩy tất cả
những thứ đang sống trở về trạng thái vô cơ (không sống). Bản
năng này cũng làm biến dạng mọi vật. Theo quan điểm ấy con
người luôn luôn bị xâu xé giữa nhu cầu tức bản năng sinh lý
và một sức mạnh đối kháng, sự thôi thúc của hủy diệt, hay là
bản năng tử vong. Lẽ dĩ nhiên thì cuối cùng bản năng tử vong
đã chiến thắng. Bản năng này gây ra chiến tranh và những thú
đê hèn đồi bại như gây tổn hại cho dòng giống và giai cấp, gây
ra niềm thích thú hạ đẳng khi xem những vụ xử tội phạm, đấu
bò rừng, và xử lăng trì tùng xẻo.
Tóm lại, những điều vừa nói trên là những khía cạnh của
học thuyết Freud. Các nhà phân tâm học ngày nay cũng chia ra
làm hai hay hơn nữa, phe phái chống đối nhau, một phe chống
lại và một phe hùa theo Freud. Alfried Adler, một trong những
học trò đi theo Freud ngay từ đầu đã tách ra khỏi nhóm Freud
vì ông tin rằng Freud đã quá quan trọng hóa bản năng tính dục.
Và đây là học thuyết của Adler đối lại Freud. Theo Adler thì
niềm mong muốn tỏ ra mình hơn đồng loại là động lực chính
lối cư xử của con người. Ông đã mở rộng ý tưởng về “mặc
cảm tự ti”. Mặc cảm này thúc giục mỗi cá nhân con người cố
gắng có một hoạt động để người khác thừa nhận mình. Một
nhà ly khai nổi danh khác là Karl Jung ở Zurich cũng đã cố
gắng làm giảm bớt tầm quan trọng của vai trò tính dục (sex).
Jung chia nhân loại ra làm hai loại tâm lý: loại hướng ngoại và
loại hướng nội, mặc dù ông vẫn thừa nhận rằng mỗi cá nhân
đều là một hỗn hợp của hai loại tâm lý đó. Khác với Freud,
Jung nhấn mạnh vào yếu tố di truyền trong sự phát triển nhân
cách.
Nói chung những người phê phán Freud đã tách rời khỏi
Freud vì những bất đồng như: Freud quá nhấn mạnh vào ý
nghĩa khởi đầu của bệnh tâm thần thơ ấu, Freud tin rằng chính
những bản năng dữ dội, tối sơ đã giám sát con người. Cũng có
một số người đã không đồng ý với Freud tin rằng “tự do liên
tưởng” là một kỹ thuật không thể sai lầm trong việc thám hiểm
cõi vô thức của con người. Họ đặc biệt nêu ra những khó khăn
trong việc giải thích những dữ kiện do phương pháp ấy đem
lại.
Tuy nhiên, một nhà tâm thần học, đã nhận xét lại:
“Những biến đổi và phát triển trong sáu chục năm qua đã
không hề làm giảm giá trị tinh thần hay ảnh hưởng của Freud.
Ông đã phát hiện ra cõi vô thức. Ông đã cho biết vô thức ấy
giúp tạo thành cái “tôi” như thế nào và ta phải làm thế nào để
đạt tới nó. Các nhà phân tâm học sau đó đã thay đổi nội dung
nhiều ý tưởng và khái niệm của Freud dưới ánh sáng của
những kinh nghiệm sâu xa hơn. Quý độc giả có thể bảo rằng
các nhà phân tâm học này đã viết được một cuốn Tân ước về
tâm thần bệnh học, còn Freud thì viết cuốn Cựu ước. Tác
phẩm của Freud sẽ vẫn là tác phẩm nền móng”.
Đa số thái độ hiện nay của chúng ta đối với bệnh điên đều
do Freud mà có. Hiện nay có khuynh hướng cho rằng “Bệnh
nhân tâm thần đều giống y như chúng ta, chỉ khác là họ đã
giống nhiều hơn mà thôi”. Alexander Reid Martin nhấn mạnh:
“Dù thừa nhận hay chối bỏ học thuyết Freud thì hiện nay tất cả
những bệnh viện tâm thần đều sử dụng những yếu tố và những
nguyên lý cơ bản trong khoa tâm lý học của Freud. Cái mà
trước đây được coi như một thế giới bí hiểm, cấm ngăn, kỳ
cục, không đâu vào đâu, vô nghĩa thì qua Freud, đã trở thành
sáng sủa đầy ý nghĩa, không những được y học mà còn được
tất cả các khoa học xã hội thừa nhận và chú ý tới”.
Ảnh hưởng của học thuyết Freud đối với văn học và nghệ
thuật cũng đáng chú ý không kém. Trong tiểu thuyết, thơ, kịch
và các hình thức văn chương khác, những ý tưởng chính của
Freud đã được phát triển trong ít năm gần đây. Bernard Dana
Evans Voto đã miêu tả quan niệm là “chưa có một nhà khoa
học nào khác có một ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng rãi đến văn
học như Freud”. Ảnh hưởng của Freud trong hội họa, điêu
khắc và thế giới nghệ thuật nói chung cũng sâu xa không kém.
Tóm tắt lại, đánh giá sự đóng góp phức tạp của thiên tài
Freud là việc vô cùng khó khăn vì phạm vi ông quan tâm quá
rộng và vì tính chất mâu thuẫn trong những khám phá của ông.
Một nhà văn Anh, Robert Hamilton đã cố gắng làm công việc
ấy, ông đánh giá như sau:
“Freud đã vẽ bản đồ khoa học tâm lý học. Ông là một nhà
tiên phong vĩ đại và phần lớn những thành công của ông là
nhờ ở cái mới lạ cùng bút pháp của ông. Mặc dù phương pháp
này có mặt đáng hoài nghi, nhưng chưa bao giờ có một
phương pháp nào lý thú hơn và mới lạ hơn, ngay cả về mặt bút
pháp nếu không kể loại thuần túy văn chương, cũng chưa bao
giờ có một bút pháp nào quyến rũ hơn của Freud. Ông đã buộc
thế giới phải suy tư theo kiểu tâm lý học, đó là một nhu cầu
cốt yếu của thời đại chúng ta. Ông cũng đã buộc con người
phải tự đặt cho mình những câu hỏi liên quan đến hạnh phúc
của loài người. Đánh đổ luận thuyết tâm lý khô khan, cầu kỳ
của thế kỷ mười chín, Freud đã đưa ra phản luận “phân tâm”
chứa đầy rối ren”.
Một nhà tâm thần học Hoa kỳ nổi tiếng là Frederic
Wertham đã đứng trên một quan điểm khác để nhận định về
trường hợp của Freud như sau:
“Phải thừa nhận rằng ngoài một số lớn sự kiện bệnh lý của
các bệnh nhân mà ông quan sát được, Freud đã đem lại ba thay
đổi cơ bản trên con đường nghiên cứu về nhân cách và tâm
thần bệnh lý. Điều thứ nhất là ít ra ông đã nói về những
phương pháp tâm lý và đã suy từ những phương pháp ấy với
cách lý luận của khoa học tự nhiên. Điều đó chỉ thực hiện
được khi mà Freud đưa ra khái niệm thực tế về cõi vô thức và
những phương pháp thực tiễn để khảo sát nó. Điều thứ hai là
Freud đã tìm ra một khía cạnh mới cho môn tâm thần bệnh lý
học. Đó là tuổi thơ. Trước Freud, khoa tâm thần bệnh học đã
chữa trị theo cách coi mỗi bệnh nhân như một Adam, con
người chưa bao giờ sống qua tuổi thơ. Điều thứ ba, ông đã mở
đầu sự hiểu biết về sự di truyền của tính dục. Phát hiện thực sự
của ông ở đây là bản năng tính dục ở dạng tiềm ẩn nhiều hơn
là trẻ con có đời sống tính dục”.
Một sự đánh giá tương tự đã được A.G.Tansley diễn tả
trong bài kỷ niệm Freud viết cho Hội Khoa học Hoàng gia
Luân đôn:
“Tính cách mạng trong những kết luận của Freud sẽ trở
thành dễ hiểu nếu chúng ta nhớ lại rằng ông đã thám hiểm một
lĩnh vực hoàn toàn chưa ai thám hiểm, lĩnh vực của trí não con
người mà trước ông chưa ai bước vào. Những hiện tượng rõ
rệt của lĩnh vực trí não này, vốn bị coi là không thể giải thích
đựơc hay bị coi như là những thác loạn thần kinh, hoặc bị bỏ
qua vì những hiện tượng này thuộc về những cấm kỵ nghiêm
khắc nhất của con người. Sự tồn tại của lĩnh vực này trước kia
không được thừa nhận. Freud buộc lòng phải khẳng định cõi
vô thức của trí não là có thực để rồi cố gắng thám hiểm, khám
phá miền đất đó ”.
Sau đó, Winfred Overholser đã nhận định: “Có nhiều lý do
để nói rằng từ một năm nay Freud được đặt ngang hàng với
Copernicus và Newton và là một trong những vĩ nhân đã mở
ra những chân trời mới cho tư tưởng con người. Một điều chắc
chắn là ở thời đại chúng ta chưa ai lại đem nhiều ánh sáng dọi
vào sự hoạt động trí não của con người nhiều bằng Freud”.
Những tháng cuối cùng trong cuộc đời dài dằng dặc của
Freud đã diễn ra trong tình trạng lưu đày. Sau khi Đức quốc xã
chiếm đóng nước áo, ông buộc phải rời Vienna vào năm 1938.
Nước Anh chấp nhận ông cư ngụ, nhưng chưa được một năm
sau thì ông đã mất vì bệnh ung thư miệng, vào khoảng tháng
chín năm 1939.
Theo Jostein Gaarder
(Những luận thuyết nổi tiếng thế giới - NXB Grasset Paris)
Nhập đề
Phần thứ nhất:
Những hành vi sai lạc
Không...
Sigmund Freud
Dịch Giả: Nguyễn Xuân Hiến
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
Sigmund Freud - Tâm lý gia của cõi vô thức
Nhập đề
Phần thứ nhất:
Những hành vi sai lạc
Phần thứ hai: Giấc mơ
Những khó khăn đầu tiên
Những điều kiện và kỹ thuật của sự giải thích
Nội dung rõ ràng là những ý tưởng tiềm tàng trong giấc mơ
Những giấc mơ của trẻ con
Sự kiểm duyệt giấc mơ
Tính cách tượng trưng trong giấc mơ
Sự xây dựng giấc mơ
Phân tích một vài ví dụ về giấc mơ
Những điểm cổ lỗ, tính cách ấu trĩ trong giấc mơ
Sự thực của ham muốn
Những điều mơ hồ về phê bình
Phần thứ ba: Thuyết tổng quát về chứng bệnh thần
kinh
Phân tâm học và thần kinh học
Ý nghĩa các triệu chứng
Vô thức có thể coi như một tác động gây thương tích
Chống đối và dồn ép
Đời sống và tình dục của người đàn ông
Sự phát triển của khát dục (libido) và những tổ chức tình
dục
Phương diện của sự phát triển và sự tụt lùi căn bệnh học
Những phương sách thành lập triệu chứng
Tinh thần bất an
Sự lo sợ phập phồng
Thuyết khát dục và bệnh thần kinh Narcissisme
Sự hoán chuyển
Phương pháp trị liệu phân tâm học
Lời giới thiệu
Sigmund Freud - Tâm lý gia của cõi vô
thức
Trong tất cả các ngành khoa học, người ta thường thừa
nhận tâm lý học là một môn khoa học bí hiểm và tối tăm nhất,
và khó có thể chứng minh bằng khoa học hơn bất cứ bộ môn
nào khác. Bản chất của những sự vật ở đây luôn luôn có sự hư
hư thực thực và sự bất ngờ, vì nhà tâm lý học phải nghiên cứu
về một hiện tượng tự nhiên bí mật nhất, đó là cuộc sống tâm lý
của con người. Một lý thuyết hóa học hay vật lý có thể được
chứng minh hay bác bỏ những phương pháp kỹ thuật trong
phòng thí nghiệm, nhưng đối với giá trị của một lý thuyết tâm
lý học, rất có thể không sao chứng minh được một cách minh
bạch, cho nên nhiều cuộc tranh luận bão táp đã nổi lên xung
quanh Sigmund Freud và khoa phân tâm học suốt sáu chục
năm ròng.
Dầu sao, có thể chứng minh được hay không thì học thuyết
của Sigmund Freud cũng đã có một ảnh hưởng vô song đối với
tư duy hiện đại. Ngay Einstein cũng không kích thích trí tưởng
tượng hay thâm nhập vào đời sống của người đương thời bằng
Sigmund Freud. Nhờ tìm tòi nghiên cứu những thứ chưa bao
giờ ai hiểu biết về trí não con người mà Sigmund Freud đã đưa
ra được những ý tưởng và những từ ngữ mà ngày nay đã chan
hòa vào cuộc sống thường nhật của chúng ta. Thực vậy, tất cả
mọi lĩnh vực tri thức của con người như văn chương, nghệ
thuật, tôn giáo, nhân chủng học, giáo dục, luật pháp, xã hội
học, luật học, sử học và những môn học về xã hội hay cá nhân
khác đều chịu ảnh hưởng của học thuyết Sigmund Freud.
Tuy nhiên, học thuyết này lại quá khô khan và ít sáng sủa.
Một nhà phê bình khá hài hước đã nhận xét rằng:
“Đối với người đời thì do sự phổ biến học thuyết này,
Freud đã nổi bật lên như một kẻ phá bĩnh vĩ đại nhất trong lịch
sử tư tưởng nhân loại. Ông đã biến đổi sự giễu cợt và những
niềm vui nhẹ nhàng của con người thành những hiện tượng
dồn nén, bí hiểm và sầu thảm, đã tìm thấy sự hằn thù trong
nguồn gốc yếu thương, ác ý ngay trong lòng sự âu yếm, loạn
luân trong tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái, tội lỗi
trong thái độ đại lượng và trạng thái của sự căm uất bị “dồn
nén” của mọi người cha như là một thứ được lưu truyền của
nhân loại”.
Tuy nhiên nhờ Freud mà ngày nay người ta đã có những ý
nghĩ rất khác nhau về chính mình. Họ chấp nhận các khái niệm
của Freud như: ảnh hưởng của tiềm thức đối với ý thức, nguồn
gốc tính dục của bệnh thần kinh, sự hiện hữu và tầm quan
trọng của tính dục trẻ thơ, tác dụng mặc cảm Ơ-đip” vào các
giấc mộng, tình trạng “dồn nén”… Những khuyết điểm của
con người như lỡ lời, nhớ mặt quên tên và quên lời hứa đều
mang một ý nghĩa mới xét theo quan điểm của Freud. Hiện
nay khó mà xác định được hết những định kiến mà Freud phải
chống lại để truyền bá học thuyết của ông. Những định kiến
này còn cố chấp hơn cả những định kiến mà Copernicus và
Darwin đã vấp phải.
Khi Freud chào đời ở Freiberg thuộc miền Moravia, tác
phẩm Nguồn gốc các chủng loài chưa xuất hiện. Năm đó là
năm 1985. Cũng như Karl Marx, tổ tiên Freud có nhiều người
là pháp sư đạo Do Thái. Ông được đưa tới thành Vienna thủ đô
nước Áo vào năm lên bốn tuổi và đã sống gần suốt cả tuổi
trưởng thành tại đây. Theo Ernest Jones, người viết tiểu sử
chính của Freud thì ông đã được thừa hưởng của cha ông là
một nhà buôn len, “tính hoài nghi sâu sắc về những tai biến
bất thường của cuộc đời, thói quen dùng giai thoại Do Thái để
châm biếm các quan điểm đạo đức, không tín ngưỡng những
vấn đề tôn giáo”. Bà mẹ Freud sống tới năm 59 tuổi, bản tính
năng động và nhanh nhẹn. Sigmund Freud là đứa con cưng
đầu lòng của bà. Sau này Freud đã viết “một người đã từng là
con yêu đặc biệt của một bà mẹ thì suốt đời người ấy có cái
cảm giác là một kẻ đi chinh phục, và chính cái lòng tin chiến
thắng ấy luôn đem lại thành công thực sự”.
Vào những năm đầu của cuộc đời, Freud rất tin vào thuyết
của Darwin vì ông thấy rằng “Những thuyết ấy làm cho người
ta có thể hy vọng vào những bước tiến phi thường trong việc
tìm hiểu thế giới”. Dự định sẽ trở thành thầy thuốc, ông đã
theo học trường Đại học Y khoa thành Vienna. Và ông đã đỗ
bác sĩ năm 1881. Là một thầy thuốc trẻ tuổi của bệnh viện đa
khoa, chữa trị đủ mọi loại bệnh, ông tiếp tục nghiên cứu môn
thần kinh bệnh học và giải phẫu thần kinh. Ít năm sau, số
mệnh xoay chiều và bất thần làm tên tuổi của ông nổi tiếng
khắp thế giới. Một bạn đồng nghiệp của ông đã đi Paris và ông
bèn đi theo sang thành phố này. Tại đây, ông cùng làm việc
với Jean Charcot, lúc ấy đã là một nhà bệnh lý học và thần
kinh học người Pháp nổi tiếng. Ở đây, lần đầu tiên ông được
tiếp xúc với công trình của Charcot về bệnh loạn thần kinh và
cách dùng phương pháp thôi miên để điều trị bệnh này. Freud
đã thoả mãn khi thấy Charcot chứng minh được “bệnh loạn
thần kinh thật mà và loạn thần kinh giả do dùng thôi miên tạo
ra.
Nhưng khi trở lại thành Vienna, Freud không làm thế nào
để thuyết phục được các bác sĩ đồng nghiệp: họ không tin là
phương pháp chữa bệnh loạn thần kinh bằng thôi miên lại có
cơ sở khoa học. Và người ta còn trừng phạt những ý nghĩ quá
tạo bạo của ông bằng cách đuổi ông ra khỏi phòng thí nghiệm
giải phẫu thần kinh. Từ đấy Freud tách khỏi môi trường đại
học và không còn tiếp tục tham gia những buổi họp của giới trí
thức ở Vienne nữa. Trong lúc hành nghề bác sĩ tư, ông tiếp tục
dùng phương pháp thôi miên để thí nghiệm trong nhiều năm
nữa, nhưng dần dần ông đã bỏ phương pháp điều trị này chỉ vì
ít người hợp với lối chữa bằng thôi miên và cũng vì đôi khi
thôi miên có những hiệu quả không hay với nhân cách người
bệnh. Thay vào đó, Freud bắt đầu phát triển một phương pháp
mới, ông đặt tên là “tự do liên tưởng”, về sau kỹ thuật này đã
trở thành một tiêu chuẩn thực hành của khoa học phân tâm
học.
Freud hẳn là người sáng lập ra môn thần kinh bệnh học,
điều đó không còn nghi ngờ gì nữa. Trước ông, các nhà thần
kinh bệnh học chỉ quan tâm đến những triệu chứng của bệnh
tâm thần phân liệt (schizophrenia) và chứng tâm thần suy giảm
(lẩm cẩm), cần phải giam lại trong bệnh viện. Ngay từ khi
chữa chứng dồn nén và chứng thần kinh tương khắc, Freud đã
đi tới kết luận là không phải chỉ riêng con bệnh mà cả những
người lành mạnh bình thường cũng mang trong mình những
xung khắc tâm thần tương tự. Đi xa hơn nữa, bệnh tâm thần
không phải là bệnh theo nghĩa thông thường được chấp nhận
mà là trạng thái tâm lý của trí não. Vấn đề quan trọng là làm
thế nào để điều trị những chứng rối loạn tâm thần đang lan
tràn rộng rãi ấy. Căn cứ vào những quan sát, thí nghiệm và
kinh nghiệm thực hành khi điều trị cho nhiều người bệnh ở
Vienna, Freud đã xây dựng cơ sở cho khoa phân tâm học vào
khoảng cuối thế kỷ 19.
Freud là một trong những nhà khoa học đã sáng tác nhiều
hơn hết trong thời đại chúng ta. Sự phong phú về những đề tài
mới mẻ cùng những phần đóng góp về tâm lý do ngòi bút của
ông đem lại không thể thu gọn trong bất cứ một cuốn sách hay
tờ báo nào. Theo ông, thì chắc chắn cuốn sách quan trọng ra
đời sớm nhất của ông mà cũng được ông yêu thích nhất là
cuốn Đoán Mộng xuất bản năm 1900. Sách này gồm hầu hết
những quan sát cơ bản và những suy luận của ông. Trong cuốn
Nghiên cứu về chứng loạn thần kinh xuất bản sớm hơn (tức là
vào năm 1895), ông đã bộc lộ niềm tin rằng “yếu tố chính
trong sự rối loạn về tính dục là sự suy yếu gây ra cả bệnh tâm
thần (neuros) lẫn bệnh tâm thần suy nhược (psychoneuroses)”.
Đó là nền tảng của thuyết phân tâm. Vài năm sau đó, Freud
hoàn chỉnh được lý thuyết của ông về sức đối kháng, hiện
tượng chuyển biến tính dục tuổi thơ, mối tương quan giữa
những ký ức bất mãn và ảo tưởng, giữa cơ chế tự vệ (defense
mechanism) và sự dồn nén.
Một bản tóm lược những luận đề chính sẽ cho ta thấy được
phần nào tính phức tạp của thuyết phân tâm. Trước hết, thần
kinh bệnh học và phân tâm học không phải là hai từ đồng
nghĩa. Phân tâm học có thể được coi như một ngành của thần
kinh bệnh học và chỉ áp dụng cho những trường hợp khó khăn
nhất là rối loạn nhân cách. Cho nên, phân tâm học có thể được
định nghĩa như một phương pháp dùng để trị những bệnh rối
loạn tâm lý và thần kinh. Theo một bản tường trình mới đây
thì ở Mỹ chỉ có 300 trên 4.000 các bác sĩ thần kinh được tín
nhiệm là những nhà phân tâm học mà thôi.
Họa hoằn lắm Freud mới chú ý tới việc điều trị cá nhân.
Những trường hợp cá nhân không bình thường chỉ được coi là
những triệu chứng xáo trộn về kinh tế, xã hội và văn hoá của
thế giới ngày nay. Mục đích của ông là trị bệnh tận gốc.
Nhiều nhà phê bình đã đồng ý là thành tựu mà Freud đã
đạt được dựa chủ yếu trên công trình phát giác và khảo sát về
lĩnh vực vô thức của con người.
So sánh tâm linh con người với một tảng băng, mà tới tám
chín phần mười tảng băng này chìm dưới nước biển, Freud
cho rằng phần chính tâm lý con người cũng được ẩn giấu trong
cõi vô thức. Bên dưới lớp vỏ ngoài, vì những lý do nào đó,
những cảm giác và những mục đích mà một cá nhân đã không
những giấu kín người khác mà còn tự giấu ngay chính bản
thân mình nữa. Trong tâm lý học của Freud, cõi vô thức là tối
thượng và mọi hoạt động ý thức chỉ có một vị trí phụ thuộc.
Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa của cõi vô thức ắt
chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của con người. Freud
tuyên bố là chúng ta thường suy nghĩ một cách vô thức và chỉ
thỉnh thoảng suy tư của chúng ta mới có tính chất ý thức. Tâm
linh vô thức chính là nguồn gốc gây bệnh tâm thần, vì bệnh
nhân thường cố gắng gạt ra ngoài cõi ý thức mọi ký ức khó
chịu, mọi ước vọng bị “dồn nén” vô hiệu, nhưng kết quả là anh
ta tích tụ ngày càng nhiều ký ức, những ước vọng, để dồn
thành bệnh.
Freud phân loại mọi hoạt động tinh thần của mỗi nhân con
người được thể hiện thành ba cấp độ được ông gọi là Tự Ngã,
(Id. Soi); Bản Ngã (ego moi) và Siêu Ngã (superego Surmoi).
Quan trọng số một là cái Id, Freud bảo: Phạm vi của Id là phần
nhân cách tối tăm và không thể đi đến được của chúng ta. Bản
thân ta chỉ biết chút ít về cái Id qua nghiên cứu các giấc mộng
và qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của bệnh tâm
thần, Id là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thuỷ và các xúc
cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn
là một con thú, Id có tính chất thú vậy và bản chất của nó là
thuộc về dục tính (sexual in nature), nó vốn vô thức. Freud
viết tiếp: Cái Id bao gồm tất cả những gì do di truyền, có ngay
từ lúc sinh ra được kết tụ lại trong sự cấu thành. Id mù quáng
và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thoả mãn các ham
muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến các hậu
quả. Nói theo Thomas Mann thì: “Nó không biết gì đến giá trị,
thiện hay ác, và cả đạo đức nữa”.
Đứa bé sơ sinh là Id được nhân cách hóa. Dần dần cái Id
phát triển lên thành cái Ego (bản ngã Moi). Khi đứa bé lớn lên.
Thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên lý khoái lạc, cái
Ego bị chi phối bởi nguyên lý “thích ứng với thực tại”. Ego
biết được thế giới xung quanh, nhận ra rằng phải kìm hãm
những khuynh hướng phạm pháp của cái Id để ngăn ngừa mọi
xung đột với luật lệ của xã hội. Như Freud viết, cái Ego là
“viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng của cái Id và sự
kiểm soát của thế giới bên ngoài”. Vì vậy Ego thực sự hành
động như một nhân viên kiểm duyệt, cắt xén, sửa đổi những
thúc giục của cái Id làm cho những thúc giục này phù hợp với
tình hình thực tế, biết rằng việc tránh khỏi bị xã hội trừng phạt
và cả để tự bảo toàn hay là ngay cả đến sự bảo tồn, đều phải
tùy thuộc vào những “dồn nén”. Tuy nhiên cuộc đấu tranh
giữa cái Ego và Id có thể gây ra những bệnh tâm thần, ảnh
hưởng nghiêm trọng tới nhân cách cá nhân.
Sau hết, còn một thứ yếu tố thứ ba trong quá trình sinh
hoạt tinh thần gọi là Superego (Siêu ngã). Siêu ngã này có thể
được định nghĩa một cách đại khái là “lương tâm”. Học trò
chính của Freud ở Hoa Kỳ là A.A Brill đã viết:
“Cái Superego là sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con
người có thể đạt tới được và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm
đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi đứa trẻ. Tri giác
lương tâm hoàn toàn tùy thuộc vào sự phát triển của cái
Superego.
Cũng như cái Id, cái Superego cũng nằm trong vô thức và
cả hai cùng luôn ở thế tương tranh, trong khi cái Ego luôn hoạt
động ở giữa như một trọng tài. Lý tưởng đạo đức và quy tắc cư
xử đều nằm trong Superego. Khi ba cái Id và Superego tương
đối hòa hợp thì cá nhân lúc ấy ở trạng thái điều hòa và hạnh
phúc. Nếu cái Ego để cho cái Id vi phạm các luật lệ, cái
Superego sẽ gây ra lo lắng, cảm giác có tội và mọi biểu lộ của
lương tâm.
Lý thuyết tính dục hay còn gọi là nhục dục (Libido) là một
khái niệm khác được ghép chung với Id và do Freud tạo ra.
Ông dạy rằng tất cả những xúc cảm của Id đều là hình thức thể
hiện của “năng lượng tính dục” (sexual). Thuyết tính dục đã
từng được gọi là “cái lõi của phân tâm học”. Mọi sáng tạo văn
hóa của con người: nghệ thuật, luật pháp, tôn giáo, vân vân..
đều được coi là sự phát triển của tính dục. Khi nói “năng lực
của tính dục” (sexual energy), thì ở đây chữ “tính” (sexual)
được dùng theo nghĩa rộng. Ở đứa trẻ bản năng tính dục bộc lộ
qua những hành động như mút tay, bú sữa chai và bài tiết.
Những năm sau đó năng lượng tính dục có thể được truyền
cho người khác qua hôn nhân, mang hình thức một hư hỏng
thuộc về “tính” hay được thể hiện qua hoạt động sáng tạo nghệ
thuật, văn chương hay âm nhạc - đó là phương pháp được gọi
là “dịch chuyển”. Theo Freud thì bản năng tính dục (sex
instinct) là nguồn gốc của mọi công trình sáng tạo vĩ đại nhất.
Thật vậy, Freud đã tuyên bố: “Các bênh tâm thần, không
chừa một bệnh nào, đều là những rối loạn của đời sống sinh
lý”. Nếu luận thêm, không thể cho rằng bệnh tâm thần là do
những cuộc hôn nhân thất bại hay những mối tình lỡ làng gây
ra; trái lại có thể tìm thấy dấu vết tất cả những bệnh này ở thời
kỳ ấu thơ với các mặc cảm tính dục. Freud đã áp dụng lý
thuyết của ông sang lĩnh vực nhân chủng học trong tác phẩm
Vật tổ và cấm kỵ. Ông tin rằng ngay tôn giáo cũng chỉ là biểu
hiện của mặc cảm tính dục. Sau khi phân tích kỹ lưỡng từng
chi tiết hàng trăm trường hợp bệnh nhân đến chữa bệnh, Freud
đã nâng bản năng tính dục và thèm khát nhục dục lên thành
yếu tố đầu tiên và mạnh mẽ nhất trong việc tạo thành nhân
cách con người, đồng thời là nguyên nhân sâu xa của mọi bệnh
tâm thần. Đó là một phán đoán mà một số các nhà phân tâm
học nổi tiếng khác đã bác bỏ như sẽ nói sau đây.
Vì xã hội buộc mỗi con người phải kiềm chế nhiều ham
muốn, theo cách nói của Freud thì mỗi cá nhân đã vô tình tích
trữ nhiều “dồn nén”. Bình thường thì ý thức con người vẫn
thành công trong việc ngăn trở, không cho “những sức mạnh
vô thức đen tối” bị dồn nén kia xuất hiện. Nhưng sự kiểm soát
ấy có thể làm cho những con bệnh tâm thần trải qua những
giai đoạn xúc cảm bị rối loạn sâu xa. Freud cho công việc
chữa bệnh của nhà phân tâm học là “làm bộc lộ và thay thế
những dồn nén bằng những hành động phán đoán có thể đưa
đến, hoặc sự chấp nhận hoặc sự loại bỏ những gì đã bị khước
từ từ trước”. Vì bản chất của sự dồn nén là gây ra sự đau khổ,
nên người bệnh thường cố tìm cách ngăn không cho những
dồn nén ấy bộc lộ ra ngoài. Sự cố gắng che đậy ấy Freud gọi là
“sức đối kháng”. Nhiệm vụ của thầy thuốc là loại bỏ sức đối
kháng này, để người bệnh bộc lộ ra cái “dồn nén” kia.
Kỹ thuật do Freud phát minh ra để giải tỏa với mọi “dồn
nén” và loại bỏ mọi đối kháng là phương pháp “gợi tự do liên
tưởng”: Những lời nói thao thao bất tuyệt có ý thức của người
bệnh khi nằm trên cái giường của nhà phân tâm học trong cảnh
đèn sáng mờ mờ, nhà phân tâm học kích thích, khêu gợi để
người bệnh không nghĩ một cách có ý thức về bất cứ chiều
hướng nào, Freud cho rằng phương pháp “kích thích tự do liên
tưởng” là phương pháp duy nhất hữu hiệu để chữa bệnh tâm
thần. Ông cũng chủ trương là phương pháp ấy “hoàn thành
được điều mà người ta trông đợi, nghĩa là đưa những mong
muốn bị sức đối kháng dồn nén từ xưa ta lĩnh vực ý thức”.
Brill đã mô tả cách Freud chữa bệnh như sau: “Ông thuyết
phục con bệnh gạt mọi suy nghĩ có ý thức, tự buông thả mình
vào một trạng thái tập trung bình thản, tự phó mặc theo những
cảm xúc và suy nghĩ nảy sinh, rồi thuật lại tất cả những điều
đó cho ông biết. Nhờ phương pháp ấy, ông đưa dần bệnh nhân
tới trạng thái “tự do liên tưởng”; và nhờ nghe người bệnh tự do
liên tưởng, mà thầy thuốc có thể tìm ra được nguồn gốc sâu xa
của các triệu chứng”. Sự việc đã quên rồi nay lại được người
bệnh kéo ra khỏi cõi vô thức, có khi phải sau hàng tháng trời
điều trị bằng phương pháp phân tâm. Nguồn gốc thường là
một sự việc nào đó đau đớn, khó chịu, đáng sợ hay nói cách
khác đáng ghét, từ trong quá khứ của bệnh nhân. Đó chính là
những “kỷ niệm” mà người bệnh hoàn toàn không muốn nhớ
lại một cách có ý thức.
Trong quá trình tự do liên tưởng, những hồi tưởng lông
bông ấy không tránh khỏi tạo ra một mớ lộn xộn, rối rắm
những sự kiện lờ mờ không rõ, và tưởng như vô ích. Vì vậy,
người thầy thuốc như nhiều nhà phê bình cho biết, gần như có
vô vàn cách giải thích những dữ kiện ấy. Vì thế nhà phân tâm
học phải hết sức sáng suốt và có tài khéo léo.
Trong khi chữa bệnh bằng phương pháp phân tâm, Freud
phát hiện ra cái mà ông gọi là “một yếu tố quan trọng khó thể
nào lường được”, một giây liên lạc tình cảm nồng nhiệt giữa
con bệnh và nhà phân tâm học. Cái đó gọi là “chuyển dịch”.
“Bệnh nhân không thỏa mãn nếu chỉ coi nhà phân tâm học
như là người giúp đỡ và cố vấn cho họ.. Ngược lại con bệnh
lại nhìn thấy qua nhà phân tâm học một hình ảnh quan trọng
trong thời thơ ấu hay quá khứ của họ hiện lại. Và vì thế mà họ
sẵn sàng bộc lộ mọi tình cảm và phản ứng mà chắc chắn là đã
được dành cho hình ảnh ấy “dịch chuyển” sang phía nhà phân
tâm học”.
Sự dịch chuyển “có thể thay đổi giữa hai thái cực, từ một
tình yêu hoàn toàn xác thịt và cuồng nhiệt tới một thái độ nghi
ngờ chua chát và oán hờn không kìm chế được.”
Trong tình trạng ấy, nhà phân tâm học “như được đặt vào
địa vị của cha mẹ người bệnh”. Freud coi sự kiện dịch chuyển
như “công cụ tốt hơn hết để chữa bệnh theo phương pháp phân
tâm” nhưng ông cũng cho biết “tuy nhiên việc sử dụng phương
pháp này là phần khó khăn và quan trọng hơn hết trong kỹ
thuật phân tâm”. Freud xác nhận là việc này “được thực hiện
bằng cách thuyết phục con bệnh là họ đang sống lại những
mối liên hệ tình cảm phát sinh từ thời ấu thơ”.
Một phương pháp hữu hiệu khác để nghiên cứu những
xung đột và cảm xúc nội tâm được Freud khai triển thêm là
phân tích những giấc mộng. Trong lĩnh vực này, Freud cũng
lại là một nhà tiên phong. Trước ông, người ta coi giấc mộng
là vô nghĩa hoặc không có mục tiêu. Tác phẩm Đoán mộng
của ông là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về hiện
tượng nằm mộng. Ba mươi mốt năm sau khi tác phẩm này
được ấn hành, Freud nhận ra rằng: “Theo nhận xét của tôi
ngày nay thì tác phẩm này chứa đựng tất cả những phát kiến
giá trị nhất mà tôi đã may mắn tìm ra”. Theo Freud thì “chúng
ta đã có lý khi cho rằng giấc mộng là sự biến dạng của một
ước vọng khi bị dồn nén”. Mỗi một giấc mộng đều biểu hiện
một bi kịch trong thế giới nội tâm của con người. Freud xác
nhận rằng: “Giấc mộng bao giờ cũng là sản phẩm của một
cuộc tranh chấp” và “mộng bảo vệ cho giấc ngủ”. Nhiệm vụ
của giấc mộng là trợ giúp chứ không phải là phá rối giấc ngủ.
Giấc mộng làm tan đi cảm giác căng thẳng do những ước
mong không đạt được gây ra.
Theo quan điểm của Freud thì giấc mộng thuộc phạm vi
chi phối của vô thức, của Id và mộng rất quan trọng đối với
nhà phân tâm học vì nhờ nó mà phân tâm học đi được vào cõi
vô thức của con bệnh. Trong cõi vô thức có tất cả những ước
vọng đầu tiên và những ham muốn thuộc cảm xúc đã bị hai cái
Ego và Superego gạt ra khỏi ý thức. Những ham muốn thú tính
luôn luôn nằm ngay bên dưới cái vỏ ngoài ý thức, và tự thúc
đẩy tiến vào thế giới mộng mị. Tuy nhiên, ngay trong giấc
mộng, Ego và Superego vẫn có mặt để canh chừng, kiểm
duyệt. Vì lẽ đó, ý nghĩa của giấc mộng không luôn rõ ràng,
những ý nghĩa này được biểu lộ bằng những hiện tượng và
thầy thuốc cần biểu lộ chúng một cách lão luyện. Vì mang tính
kí hiệu cho nên ý nghĩa của giấc mộng ta không thể hiểu được
theo nghĩa đen, ngoại trừ những giấc mộng đơn giản của trẻ
thơ. Trong tác phẩm Đoán mộng có nhiều ví dụ được Freud
dùng phương pháp phân tâm phân tích.
Đọc nhầm, nói lỡ lời và những biểu hiện đãng trí lặt vặt
khác đều là những dấu hiệu cho biết hoạt động ngầm của vô
thức. Freud viết: “Đã biết dùng phép đoán mộng để đi vào cõi
vô thức thì phân tâm học cũng sử dụng những lầm lỡ của con
người nhằm mục đích đó. Những lầm lỡ ấy nhà phân tâm học
gọi là triệu chứng hoạt động”. Vấn đề này còn được Freud
nghiên cứu vào năm 1904 trong cuốn Tâm thần bệnh lý học
của đời sống thường ngày (The psychopathology of everyday
life). Trong tác phẩm này, ông vẫn chủ trương “những hiện
tượng đó không phải ngẫu nhiên… chúng có một ý nghĩa và ý
nghĩa đó có thể diễn giải ra được. Và người ta có lý khi từ
những hiện tượng đó suy ra sự hiện hữu của những xúc động
và mong muốn bị dồn nén, ngăn cấm”. Quên tên ai có thể có
nghĩa là mình không ưa gì người mang tên ấy. Một người lỡ
tầu vì nhầm lẫn bảng tầu chạy, có thể có nghĩa là người ấy
không muốn đi chuyến tầu ấy. Một người chồng đánh mất hay
quên chìa khóa nhà có thể vì người ấy cảm thấy đã phải sống
khổ sở trong gia đình và không muốn về nhà. Nghiên cứu
những lầm lẫn như vậy có thể đưa nhà phân tâm học đi vào cõi
vô thức đầy rối rắm của con người.
Người ta còn tự giải thoát được những gì bị dồn nén nhờ
biết giễu cợt. Giễu cợt đã được Freud mệnh danh là “cái nắp
xả hơi tối tân và an toàn nhất mà con người đã dần tạo ra
được” vì chính nhờ giễu cợt mà chúng ta tạm thời thoát ra khỏi
những dồn nén mà cái xã hội lễ giáo này đòi hỏi chúng ta phải
che giấu đi.
Có thể vì những phản ứng chung quanh hoặc vì càng ngày
càng bất mãn hay bi quan, khi về già Freud tỏ ra lo lắng về cái
chết (bản năng đi đến cái chết). Có lần ông quan niệm “bản
năng chết” này quan trọng ngang với bản năng tính dục. Freud
cho rằng có một “bản năng đi đến cái chết” thúc đẩy tất cả
những thứ đang sống trở về trạng thái vô cơ (không sống). Bản
năng này cũng làm biến dạng mọi vật. Theo quan điểm ấy con
người luôn luôn bị xâu xé giữa nhu cầu tức bản năng sinh lý
và một sức mạnh đối kháng, sự thôi thúc của hủy diệt, hay là
bản năng tử vong. Lẽ dĩ nhiên thì cuối cùng bản năng tử vong
đã chiến thắng. Bản năng này gây ra chiến tranh và những thú
đê hèn đồi bại như gây tổn hại cho dòng giống và giai cấp, gây
ra niềm thích thú hạ đẳng khi xem những vụ xử tội phạm, đấu
bò rừng, và xử lăng trì tùng xẻo.
Tóm lại, những điều vừa nói trên là những khía cạnh của
học thuyết Freud. Các nhà phân tâm học ngày nay cũng chia ra
làm hai hay hơn nữa, phe phái chống đối nhau, một phe chống
lại và một phe hùa theo Freud. Alfried Adler, một trong những
học trò đi theo Freud ngay từ đầu đã tách ra khỏi nhóm Freud
vì ông tin rằng Freud đã quá quan trọng hóa bản năng tính dục.
Và đây là học thuyết của Adler đối lại Freud. Theo Adler thì
niềm mong muốn tỏ ra mình hơn đồng loại là động lực chính
lối cư xử của con người. Ông đã mở rộng ý tưởng về “mặc
cảm tự ti”. Mặc cảm này thúc giục mỗi cá nhân con người cố
gắng có một hoạt động để người khác thừa nhận mình. Một
nhà ly khai nổi danh khác là Karl Jung ở Zurich cũng đã cố
gắng làm giảm bớt tầm quan trọng của vai trò tính dục (sex).
Jung chia nhân loại ra làm hai loại tâm lý: loại hướng ngoại và
loại hướng nội, mặc dù ông vẫn thừa nhận rằng mỗi cá nhân
đều là một hỗn hợp của hai loại tâm lý đó. Khác với Freud,
Jung nhấn mạnh vào yếu tố di truyền trong sự phát triển nhân
cách.
Nói chung những người phê phán Freud đã tách rời khỏi
Freud vì những bất đồng như: Freud quá nhấn mạnh vào ý
nghĩa khởi đầu của bệnh tâm thần thơ ấu, Freud tin rằng chính
những bản năng dữ dội, tối sơ đã giám sát con người. Cũng có
một số người đã không đồng ý với Freud tin rằng “tự do liên
tưởng” là một kỹ thuật không thể sai lầm trong việc thám hiểm
cõi vô thức của con người. Họ đặc biệt nêu ra những khó khăn
trong việc giải thích những dữ kiện do phương pháp ấy đem
lại.
Tuy nhiên, một nhà tâm thần học, đã nhận xét lại:
“Những biến đổi và phát triển trong sáu chục năm qua đã
không hề làm giảm giá trị tinh thần hay ảnh hưởng của Freud.
Ông đã phát hiện ra cõi vô thức. Ông đã cho biết vô thức ấy
giúp tạo thành cái “tôi” như thế nào và ta phải làm thế nào để
đạt tới nó. Các nhà phân tâm học sau đó đã thay đổi nội dung
nhiều ý tưởng và khái niệm của Freud dưới ánh sáng của
những kinh nghiệm sâu xa hơn. Quý độc giả có thể bảo rằng
các nhà phân tâm học này đã viết được một cuốn Tân ước về
tâm thần bệnh học, còn Freud thì viết cuốn Cựu ước. Tác
phẩm của Freud sẽ vẫn là tác phẩm nền móng”.
Đa số thái độ hiện nay của chúng ta đối với bệnh điên đều
do Freud mà có. Hiện nay có khuynh hướng cho rằng “Bệnh
nhân tâm thần đều giống y như chúng ta, chỉ khác là họ đã
giống nhiều hơn mà thôi”. Alexander Reid Martin nhấn mạnh:
“Dù thừa nhận hay chối bỏ học thuyết Freud thì hiện nay tất cả
những bệnh viện tâm thần đều sử dụng những yếu tố và những
nguyên lý cơ bản trong khoa tâm lý học của Freud. Cái mà
trước đây được coi như một thế giới bí hiểm, cấm ngăn, kỳ
cục, không đâu vào đâu, vô nghĩa thì qua Freud, đã trở thành
sáng sủa đầy ý nghĩa, không những được y học mà còn được
tất cả các khoa học xã hội thừa nhận và chú ý tới”.
Ảnh hưởng của học thuyết Freud đối với văn học và nghệ
thuật cũng đáng chú ý không kém. Trong tiểu thuyết, thơ, kịch
và các hình thức văn chương khác, những ý tưởng chính của
Freud đã được phát triển trong ít năm gần đây. Bernard Dana
Evans Voto đã miêu tả quan niệm là “chưa có một nhà khoa
học nào khác có một ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng rãi đến văn
học như Freud”. Ảnh hưởng của Freud trong hội họa, điêu
khắc và thế giới nghệ thuật nói chung cũng sâu xa không kém.
Tóm tắt lại, đánh giá sự đóng góp phức tạp của thiên tài
Freud là việc vô cùng khó khăn vì phạm vi ông quan tâm quá
rộng và vì tính chất mâu thuẫn trong những khám phá của ông.
Một nhà văn Anh, Robert Hamilton đã cố gắng làm công việc
ấy, ông đánh giá như sau:
“Freud đã vẽ bản đồ khoa học tâm lý học. Ông là một nhà
tiên phong vĩ đại và phần lớn những thành công của ông là
nhờ ở cái mới lạ cùng bút pháp của ông. Mặc dù phương pháp
này có mặt đáng hoài nghi, nhưng chưa bao giờ có một
phương pháp nào lý thú hơn và mới lạ hơn, ngay cả về mặt bút
pháp nếu không kể loại thuần túy văn chương, cũng chưa bao
giờ có một bút pháp nào quyến rũ hơn của Freud. Ông đã buộc
thế giới phải suy tư theo kiểu tâm lý học, đó là một nhu cầu
cốt yếu của thời đại chúng ta. Ông cũng đã buộc con người
phải tự đặt cho mình những câu hỏi liên quan đến hạnh phúc
của loài người. Đánh đổ luận thuyết tâm lý khô khan, cầu kỳ
của thế kỷ mười chín, Freud đã đưa ra phản luận “phân tâm”
chứa đầy rối ren”.
Một nhà tâm thần học Hoa kỳ nổi tiếng là Frederic
Wertham đã đứng trên một quan điểm khác để nhận định về
trường hợp của Freud như sau:
“Phải thừa nhận rằng ngoài một số lớn sự kiện bệnh lý của
các bệnh nhân mà ông quan sát được, Freud đã đem lại ba thay
đổi cơ bản trên con đường nghiên cứu về nhân cách và tâm
thần bệnh lý. Điều thứ nhất là ít ra ông đã nói về những
phương pháp tâm lý và đã suy từ những phương pháp ấy với
cách lý luận của khoa học tự nhiên. Điều đó chỉ thực hiện
được khi mà Freud đưa ra khái niệm thực tế về cõi vô thức và
những phương pháp thực tiễn để khảo sát nó. Điều thứ hai là
Freud đã tìm ra một khía cạnh mới cho môn tâm thần bệnh lý
học. Đó là tuổi thơ. Trước Freud, khoa tâm thần bệnh học đã
chữa trị theo cách coi mỗi bệnh nhân như một Adam, con
người chưa bao giờ sống qua tuổi thơ. Điều thứ ba, ông đã mở
đầu sự hiểu biết về sự di truyền của tính dục. Phát hiện thực sự
của ông ở đây là bản năng tính dục ở dạng tiềm ẩn nhiều hơn
là trẻ con có đời sống tính dục”.
Một sự đánh giá tương tự đã được A.G.Tansley diễn tả
trong bài kỷ niệm Freud viết cho Hội Khoa học Hoàng gia
Luân đôn:
“Tính cách mạng trong những kết luận của Freud sẽ trở
thành dễ hiểu nếu chúng ta nhớ lại rằng ông đã thám hiểm một
lĩnh vực hoàn toàn chưa ai thám hiểm, lĩnh vực của trí não con
người mà trước ông chưa ai bước vào. Những hiện tượng rõ
rệt của lĩnh vực trí não này, vốn bị coi là không thể giải thích
đựơc hay bị coi như là những thác loạn thần kinh, hoặc bị bỏ
qua vì những hiện tượng này thuộc về những cấm kỵ nghiêm
khắc nhất của con người. Sự tồn tại của lĩnh vực này trước kia
không được thừa nhận. Freud buộc lòng phải khẳng định cõi
vô thức của trí não là có thực để rồi cố gắng thám hiểm, khám
phá miền đất đó ”.
Sau đó, Winfred Overholser đã nhận định: “Có nhiều lý do
để nói rằng từ một năm nay Freud được đặt ngang hàng với
Copernicus và Newton và là một trong những vĩ nhân đã mở
ra những chân trời mới cho tư tưởng con người. Một điều chắc
chắn là ở thời đại chúng ta chưa ai lại đem nhiều ánh sáng dọi
vào sự hoạt động trí não của con người nhiều bằng Freud”.
Những tháng cuối cùng trong cuộc đời dài dằng dặc của
Freud đã diễn ra trong tình trạng lưu đày. Sau khi Đức quốc xã
chiếm đóng nước áo, ông buộc phải rời Vienna vào năm 1938.
Nước Anh chấp nhận ông cư ngụ, nhưng chưa được một năm
sau thì ông đã mất vì bệnh ung thư miệng, vào khoảng tháng
chín năm 1939.
Theo Jostein Gaarder
(Những luận thuyết nổi tiếng thế giới - NXB Grasset Paris)
Nhập đề
Phần thứ nhất:
Những hành vi sai lạc
Không...
 





