GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
Rèn Luyện Tư Duy Phản Biện - Albert Rutherford

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:03' 07-03-2024
Dung lượng: 532.1 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:03' 07-03-2024
Dung lượng: 532.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Lời mở đầu
Chương 1: Khoa học thần kinh về niềm tin và sự hoàn hảo
Chương 2: Ký ức và sự ngộ nhận
Chương 3:Thực tế
Chương 4: Những lập luận và những ngụy biện logic
Chương 5: Tiếp thị, truyền thông, và những trò chơi trí tuệ
khác
Chương 6: Những thuyết âm mưu được huyền bí hóa
Kết
Tham khảo
Trích dẫn tài liệu tham khảo
LỜI MỞ ĐẦU
S
uy nghĩ là việc chúng ta làm hằng ngày và thường là
trong vô thức. Khi bạn làm bữa sáng, đánh răng hay lái
xe đến chỗ làm, bạn cũng đang suy nghĩ. Nhưng đã bao
giờ bạn nghĩ về quá trình suy nghĩ, cách mà bạn đưa ra quyết
định sẽ ăn gì vào bữa trưa hoặc khi nào thì dậy đi làm chưa?
Nghĩ về quá trình suy nghĩ được gọi là siêu nhận thức
(metacognition). Nhận thức được cách hình thành những suy
nghĩ là bước đầu tiên trong việc phát triển các kỹ năng tư duy
phản biện. Tư duy phản biện là một phương pháp bạn có thể
dùng để xem xét cẩn thận những suy nghĩ và niềm tin của bạn,
và từ đó có khả năng tương tác với ý tưởng của những người
khác một cách cẩn thận. Điều này sẽ khiến những cuộc hội
thoại hằng ngày và những quyết định của bạn dễ dàng hơn và
được cân nhắc cẩn thận hơn, đồng thời giúp bạn giải quyết
những vấn đề phức tạp hơn. Những người tư duy tốt nhất thế
giới dùng những chiến thuật tư duy phản biện để giải quyết
những vấn đề lớn như tìm cách lên Sao Hỏa, biến đổi khí hậu
và xóa bỏ vũ khí hạt nhân. Những thứ này có thể quá vĩ mô
đối với bạn, nhưng nếu bạn nghĩ về câu hỏi ẩn sau chúng, tự
nhiên chúng sẽ trở nên dễ giải quyết hơn. Điều gì gây nên biến
đổi khí hậu? Ai sẽ chịu trách nhiệm đối với hậu quả? Làm thế
nào để thay đổi họ? Quá trình thay đổi họ sẽ như thế nào?
Điều gì khiến quy trình đó trở nên hiệu quả? Bắt đầu suy nghĩ
về những câu hỏi này chính là cách những người thông minh
nhất làm việc.
Bạn cũng có thể áp dụng cách tư duy này cho những vấn đề
nhỏ hơn, ví dụ như nếu bạn muốn bắt đầu tập thể dục, bạn sẽ
bắt đầu từ đâu? Bài tập nào sẽ phù hợp với bạn? Để giải quyết
vấn đề này, bạn có thể chia nhỏ vấn đề: Bạn muốn khỏe mạnh
hơn hay muốn chạy nhanh hơn? Bạn đang tìm kiếm lợi ích sức
khỏe nào? Một bài tập thể dục nọ có thực sự tốt như bạn nghĩ?
Làm thế nào để nhận biết bài tập đó có hiệu quả với bạn hay
không? May mắn là, chúng ta có thể tiếp cận được nhiều thông
tin hơn bao giờ hết nhờ có Internet, nhưng vấn đề là những
thông tin đó không phải lúc nào cũng chính xác hoặc có giá trị
đối với vấn đề của bạn. Tư duy phản biện sẽ giúp bạn lọc
những thông tin này và dùng chúng hiệu quả nhất có thể.
Bộ não là một cơ quan tuyệt vời. Nó không chỉ nảy sinh ra
những suy nghĩ, mà còn có thể nghĩ về cách nó nảy sinh những
suy nghĩ đó. Bộ não có thể nghĩ về quá khứ, tưởng tượng về
tương lai và tưởng tượng những điều chưa bao giờ xảy ra.
Nhưng bộ não cũng có thể đánh lừa chúng ta. Chúng ta đều có
những định kiến mà bản thân không nhận thức được, dựa trên
những kinh nghiệm và kiến thức của chúng ta, thứ sẽ ảnh
hưởng đến cách chúng ta nghĩ và nó có thể đánh lừa đánh giá
của chúng ta. Những cảm xúc và “bản năng” có xu hướng đưa
chúng ta tới những kết luận không phải lúc nào cũng đúng.
Thay vào đó, chúng thường là những quyết định dễ dàng nhất,
những quyết định chúng ta cảm thấy thoải mái dựa trên những
định kiến cá nhân, bởi đây là một chiến lược sinh tồn tốt với
những người nguyên thủy. Họ sống trong một thế giới mà bản
năng là rất có ích, nhưng thế giới hiện đại ngày nay lại phức
tạp hơn rất nhiều. Việc xem xét kỹ lưỡng những quan điểm và
suy nghĩ của chúng ta, vì lợi ích của chính chúng ta và của cả
nhân loại đã ngày càng trở nên tối quan trọng.
Bạn có thể nghĩ về tư duy phản biện như là một bộ chiến lược
để dẫn đường giúp bạn tránh xa khỏi các quyết định thiên vị,
cảm tính và hướng đến sự cân nhắc lý trí cho những hành động
và đức tin của mình. Điều này sẽ giúp chúng ta trở thành
những người suy nghĩ độc lập, có thể tự đưa ra lựa chọn một
cách thấu đáo. Những kỹ năng mà một người tư duy phản biện
cần phát triển bao gồm việc hiểu được những logic đằng sau
những ý niệm và học thuyết, có thể phân tích và công thức hóa
những lập luận, có thể xây dựng những giải pháp từng bước,
xác định tính hợp lệ của những ý tưởng và có thể xem xét
những lý do đằng sau đức tin của chính bạn. Bạn có thể đã
nhận ra rằng tư duy phản biện không có nghĩa là chỉ biết nhiều
kiến thức. Đó là một quá trình rất khác so với việc chỉ ghi nhớ
hay tiếp nhận thông tin; giỏi ghi nhớ không khiến bạn trở
thành một người có tư duy phản biện tốt! Những người có tư
duy phản biện tập trung hơn vào cách họ biết hơn là cái họ
biết. Điều này có nghĩa là họ có thể sử dụng thứ họ biết để dự
đoán hậu quả của chuỗi hành động, giải quyết các vấn đề và
quyết định sẽ dùng thông tin nào khi họ muốn học một thứ
mới.1
Tư duy phản biện không có nghĩa là “phê phán gay gắt”. Thực
tế thì, tư duy phản biện chủ yếu là việc giữ được một cuộc
tranh luận hợp lý, bình tĩnh và trí thức. Tư duy phản biện sẽ
cho phép bạn phân tích những lập luận của mọi người và cho
họ thấy cái sai của họ, mà không cần phải lăng mạ hay sỉ nhục
người khác. Điều này sẽ giúp chúng ta làm việc dễ dàng hơn
với những người không có cùng quan điểm. Tư duy phản biện
là một chiến lược tốt để sử dụng trong các dự án nhóm hoặc
những việc cần sự hợp tác, chính xác là vì nó tạo ra một môi
trường lý tưởng cho việc tương tác về mặt trí thức.
Quá trình tư duy trí tuệ này không nhất thiết phải cực kỳ sáng
tạo. Mặc dù chúng ta thường nghĩ logic là một thứ đối lập
hoàn toàn so với sự sáng tạo, bản chất của tư duy phản biện
chính là làm thế nào để dùng những tư duy logic để kích thích
sự sáng tạo. Sự xem xét một cách logic tất cả các ý tưởng có
nghĩa là bạn nhận ra rằng ý tưởng kém phổ biến hơn lại chính
là ý tưởng hợp lý nhất, hoặc rằng có một giải pháp tốt hơn cho
vấn đề bạn đang cân nhắc. Sử dụng những kỹ năng tư duy
phản biện có thể mở ra cho bạn cả một chân trời mà bạn chưa
bao giờ nghĩ tới.
Chúng ta sinh ra không có sẵn những kỹ năng tư duy phản
biện. Thay vào đó, chúng ta phải học hỏi và luyện tập thì mới
có thể sử dụng tốt những kỹ năng đó. Tin tốt là, ai cũng có thể
học cách tư duy phản biện! Như tất cả các quá trình tự cải
thiện bản thân, học cách tư duy phản biện bắt đầu với việc
nhận ra những thứ bạn cần cải thiện. Điều này có nghĩa là
nhận ra được những lỗi sai trong chính cách suy nghĩ của bạn.
Những lỗi sai đó cũng có đến vài loại. Thứ đầu tiên mà bạn
phải nghĩ đến là những ngụy biện logic, hay chính là lỗi sai
bạn tạo ra trong quá trình hợp lý hóa suy nghĩ. Bạn cũng phải
kiểm tra những lầm tưởng trước đó của bạn và xem cái nào là
sai; bạn có thể không nhận ra rằng một vài thứ mà bạn vẫn
“biết” thực ra lại không hoàn toàn chính xác. Bạn cũng nên tự
đặt câu hỏi về trí nhớ của mình (mà không phải lúc nào cũng
hoàn toàn chính xác) và liệu những dự đoán cũng như “giác
quan thứ 6” của bạn có đúng hay không. Tất cả những lỗi sai
này sẽ được bàn luận chi tiết hơn trong những chương sau,
nhưng hiện tại thì chắc chắn đó là những thứ bạn cần cân nhắc.
May mắn là, chúng ta có thể sửa lại những lỗi sai phổ biến đó.
Đây là khi siêu nhận thức trở nên rất quan trọng – ví dụ, khi
bạn phải nghĩ về việc làm thế nào để lại nhớ lại một sự kiện và
từ đó có thể đánh giá liệu nó có thực sự xảy ra hay không. Bạn
có thể áp dụng những quá trình như theo dõi tiến trình suy
nghĩ của bạn bằng cách ghi chép, thực hiện những thay đổi
nếu bạn thấy rằng có gì đó không tốt hoặc cần cải thiện, tự ý
thức được những chiến lược suy nghĩ, và suy nghĩ xem những
kinh nghiệm bạn rút ra có sự kết nối với nhau ra sao. Bạn có
thể nghĩ về quá trình siêu nhận thức này như việc tiếp nhận
một sự nghi ngờ khoa học về điều mà bạn chưa bao giờ thắc
mắc trước đó. “Sự nghi ngờ khoa học” có nghĩa là nghi ngờ
một cách thông minh, phân tích quá trình tư duy của bản thân
và cách bạn biết những điều bạn đã biết thông qua những bằng
chứng khách quan. Nghiên cứu những suy nghĩ của bạn giống
như chúng là một đối tượng nghiên cứu khoa học sẽ giúp bạn
tìm ra thứ khoa học vẫn luôn hướng tới: sự thật, thay vì những
cái chúng ta mong muốn là sự thật.2
“Duy ý chí” có thể đặc biệt gây hại đến tư duy phản biện vì nó
hướng chúng ta đến những kết luận chúng ta muốn đưa ra thay
vì những kết luận chính xác. Cách tốt nhất để chống lại điều
này là tập trung vào bằng chứng khách quan mà bạn thu thập
được, thay vì những phỏng đoán hay những kiến thức bạn biết.
Ví dụ, nếu bạn luôn cảm thấy buồn nôn và đau đầu, bạn có thể
tra các triệu chứng trên Google hoặc là hỏi bạn bè của mình,
hoặc là tới bác sĩ. Phương án nào sẽ cung cấp câu trả lời tốt
nhất cho vấn đề của bạn? Rõ ràng là, một bác sĩ với nhiều năm
kinh nghiệm sẽ có thể đánh giá những triệu chứng của bạn với
bằng chứng khách quan và đưa ra một kết luận đáng tin cậy
hơn là một trang Wiki hay là bạn của bạn. Do đó, họ sẽ thực
sự nói cho bạn điều gì không ổn (nếu có) và ngăn bạn đi đến
kết luận rằng bạn mắc bệnh gì đó nghiêm trọng.
Tất nhiên, bác sĩ thường đại diện cho khoa học thuần túy –
một yếu tố quan trọng đối với các vấn đề khoa học, bởi ngụy
khoa học cũng sẽ đưa bạn tới những kết luận không chính xác.
Ví dụ, nếu bạn quyết định tới gặp những pháp sư chữa trị bằng
đá khoáng, họ có thể sẽ không thành công trong việc chữa lành
những triệu chứng của bạn so với bác sĩ. Lý do là vì cách họ
hành nghề không hề dựa trên sự khách quan, hay bằng chứng
được xem xét nghiêm ngặt. Bạn luôn có thể nhận biết điều gì
có tính khoa học thuần túy thông qua phương pháp học mà nó
sử dụng. Nó sẽ không đi theo một chuỗi những niềm tin không
có căn cứ. Thay vào đó, nó sẽ đi theo một con đường thẩm
định rất cụ thể, hợp lý và logic để đi tới kết luận. Một người tư
duy phản biện có thể nhận ra điều này, và lựa chọn những điều
họ tin là đúng dựa trên con đường thẩm định một cách khoa
học.
Điều quan trọng tiếp theo là một người có tư duy phản biện
hiểu rất rõ bản chất của kiến thức. Một trong những bằng
chứng khoa học duy nhất có thể quan sát được là tự nhiên;
những hiện tượng thiên nhiên mà chúng ta thấy mỗi ngày chắc
hẳn sẽ có những nguyên nhân tự nhiên. Những nguyên nhân
siêu nhiên đến nay vẫn chưa được chứng minh bởi những
phương pháp khoa học (dù bạn muốn tin vào những thợ săn
ma quỷ ra sao) bởi vì chúng không thể đo lường bằng thực
nghiệm được. Những người có tư duy phản biện biết rằng
những học thuyết khoa học không đồng nghĩa với sự thật; sẽ
luôn luôn có những lỗi sai gây ra bởi yếu tố con người trong
những quan sát thực nghiệm. Điều này có nghĩa là thông tin
luôn luôn có thể được cải thiện với dữ liệu mới – và đây là một
điều tốt! Chừng nào những bằng chứng thực nghiệm được sử
dụng để tiến tới những kết luận và kiến thức, nó sẽ được cân
nhắc cẩn thận hơn là một kết luận được đưa ra mà không có tư
duy phản biện.
Nếu chúng ta sử dụng tư duy phản biện, chúng ta sẽ rất dễ bị
cám dỗ bởi suy nghĩ ảo tưởng, tại đó chúng ta sẽ hoàn toàn
sống trong thực tại của chính mình hay một thực tại được dựng
nên bởi người khác. Những thực tại này không thể biến thành
sự thật được, bởi vì chúng không dựa trên bất kỳ quan sát thực
nghiệm nào. Nếu chúng ta sống dựa vào những xúc cảm và
những đức tin không có căn cứ, chúng ta sẽ ngày càng xa rời
bản chất của vấn đề bởi vì quan điểm của chúng ta đã bẻ cong
chúng. Điều này được biết tới như là những thiên kiến xác
nhận; chúng ta trở nên hứng thú với việc tìm kiếm những bằng
chứng ủng hộ quan điểm của mình hơn là đưa ra những kết
luận từ bằng chứng mà chúng ta nhìn thấy. Trong một thời kỳ
mà chúng ta có thể truy cập vào nhiều thông tin (đúng hoặc sai
lệch) hơn bao giờ hết, sử dụng tư duy phản biện để tránh bị
thao túng và dắt mũi là điều rất cần thiết, cho dù đó là vấn đề
liên quan đến sức khỏe, chính trị hay tiêu dùng. Áp dụng
những chiến lược tư duy sẽ giúp bạn có định hướng rõ ràng
giữa biển tri thức và tìm thấy những sự thật.
Bạn có thể đã biết tới một vài người có tư duy phản biện nổi
tiếng. Họ thường có chung những đặc điểm sau:
• Sự tò mò về nhiều chủ đề đa dạng;
• Nhận thức rõ về những tình huống họ có thể dùng tư duy
phản biện;
• Tự tin vào những lý lẽ của mình;
• Luôn muốn thu nạp thêm nhiều kiến thức mới;
• Hiểu được những quan điểm của người khác;
• Cởi mở để cải thiện đức tin;
• Có sự khách quan trong việc đánh giá lý lẽ;
• Tự nhận thức được những định kiến và những khiếm khuyết
của mình;
• Đánh giá cẩn thận khi thay đổi quan điểm; và
• Sẵn sàng thay đổi một luận điểm sai khi được giải thích hợp
lý.
Như bạn có thể thấy, chìa khóa để trở thành một người có tư
duy phản biện tốt chính là sự tự nhận thức. Bạn cần phải đánh
giá trung thực những điều trước đây bạn nghĩ là đúng, cũng
như quá trình suy nghĩ đã dẫn bạn tới những kết luận đó. Nếu
bạn không có những lý lẽ hợp lý, hoặc nếu suy nghĩ của bạn bị
ảnh hưởng bởi những kinh nghiệm và cảm xúc, thì lúc đó hãy
cân nhắc sử dụng tư duy phản biện! Bạn cần phải nhận ra được
rằng con người, kể từ khi sinh ra, rất giỏi việc đưa ra những lý
do lý giải cho những suy nghĩ khiếm khuyết của mình. Nếu
bạn đang có những kết luận sai lệch này thì có một sự thật là
những đức tin của bạn thường mâu thuẫn với nhau và đó
thường là kết quả của thiên kiến xác nhận, nhưng nếu bạn biết
điều này, thì bạn đã tiến gần hơn tới sự thật rồi!
Những người tư duy phản biện cũng biết rằng họ cần thu thập
những ý tưởng và đức tin của mọi người. Tư duy phản biện
không thể tự nhiên mà có.
Những người khác có thể đưa ra những góc nhìn khác mà bạn
có thể chưa bao giờ nghĩ tới, và họ có thể chỉ ra những lỗ hổng
trong logic của bạn mà bạn đã hoàn toàn bỏ qua. Bạn không
cần phải hoàn toàn đồng ý với ý kiến của những người khác,
bởi vì điều này cũng có thể dẫn tới những vấn đề liên quan đến
thiên kiến, nhưng một cuộc thảo luận phản biện là một bài tập
tư duy cực kỳ hiệu quả. Việc lắng nghe những ý kiến của
người khác cũng có thể giúp bạn nhận ra rằng phạm vi tri thức
của bạn không phải là vô hạn. Không ai có thể biết hết tất cả
mọi thứ. Nhưng với việc chia sẻ và đánh giá phê bình kiến
thức, chúng ta có thể mở rộng tâm trí. Nếu điều này khiến bạn
cảm thấy không thoải mái, không sao cả. Trên thực tế, bước ra
ngoài vùng an toàn là một điều quan trọng để mở rộng niềm
tin và suy nghĩ của bạn. Tư duy phản biện không phải là chỉ
biết vài thứ, và chắc chắn không phải việc xác nhận những
điều bạn đã biết. Thay vào đó, nó xoay quanh việc tìm kiếm sự
thật – và biến chúng trở thành thứ mà bạn biết.
Chương 1
KHOA HỌC THẦN KINH
VỀ NIỀM TIN VÀ SỰ
HOÀN HẢO
G
iả sử rằng bạn muốn có một chú chó, và mặc dù bạn
cảm thấy giống nào cũng được, thì vẫn có một giống
mà bạn rất thích. Giả sử giống chó mà bạn thích là
giống Corgi. Bạn dừng lại ở một trại chó địa phương và ở đó
có một vài con mà bạn thích, một trong số đó là giống Corgi.
Rõ ràng bạn sẽ phải nghiên cứu những giống chó khác nhau
đó. Bạn sẽ gõ gì lên Google? Bạn có thể tìm kiếm những cụm
từ như “chó Pitbull rất nguy hiểm” hay “chó Jack Russell năng
động”, trong khi đối với giống chó mà bạn thích thì bạn lại
không đặt những câu hỏi tương tự. Thay vào đó, bạn gõ vào
những thứ như là “chó Corgi có thân thiện với trẻ em không”
hay “chó Corgi có dễ huấn luyện không”. Rõ ràng là những
câu hỏi khác nhau này sẽ đưa ra cho bạn những câu trả lời
khác nhau. Mặc dù giống gió Jack Russell hay giống Pitbull
bạn vừa thấy trong trại chó có thể là giống chó phù hợp nhất
với bạn – chó Pitbull nguy hiểm chỉ là một giả thiết, và chó
sục Jack Russell vẫn có thể là giống chó tốt cho gia đình –
nhưng những kết quả mà bạn tìm thấy sẽ tích cực đưa bạn tới
kết luận vốn bạn đã định đưa ra: chó Corgi. Bạn đã nghiên
cứu, nhưng não bạn lại lựa chọn những thông tin dựa trên
thiên kiến mà bạn đã ngầm có. Bạn cảm thấy mình như nạn
nhân của một vấn đề quá đỗi “con người”: chúng ta tin vào
những thứ chúng ta muốn tin.
Đây không phải là một lựa chọn có ý thức. Não của chúng ta
thường tạo ra những liên kết nơ-ron khiến chúng ta tin vào
những thứ chúng ta muốn tin, bởi vì đây là những phản ứng
thuộc về cảm xúc. Những phản ứng xúc cảm đã từng có ích
khi con người phải chạy trốn khỏi những động vật ăn thịt,
nhưng chúng lại có thể cản trở những suy nghĩ hợp lý trong
thế giới hiện đại. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu được việc này,
chúng ta có thể giảm nhẹ ảnh hưởng của những thiên kiến cá
nhân trong não chúng ta.
Não chúng ta hoạt động ở ba cấp độ: bộ “não người,” bộ “não
linh trưởng,” và bộ “não bò sát”. Điều này được biết tới như là
“mô hình bộ não ba trong một” và được phát triển bởi nhà
khoa học thần kinh Paul MacLean. Theo như mô hình, ba “bộ
não” này sẽ phản ứng với mỗi phần của bộ não (vỏ não, hệ
viền, và hạch nền), và sẽ hoạt động ở mức độ tương ứng khi
chúng ta dần phát triển. Bộ “não người”, hay tân vỏ não, phần
tiến hóa muộn nhất trong quá trình tiến hóa, có thể bị điều
khiển bởi những phần tiến hóa sớm hơn. Rất nhiều quá trình
nhận thức của chúng ta, bao gồm những xúc cảm, thực sự xảy
ra vô thức ở những phần não tiến hóa sớm hơn. Chúng được
phát triển sớm trong quá trình tiến hóa bởi chúng giúp chúng
ta đưa ra những quyết định nhanh, đây là điều rất quan trọng
để sinh tồn khi chúng ta chưa phát triển được tư duy phức tạp.
Ví dụ, nếu bạn ngửi thấy những hóa chất có mùi khó chịu, bạn
đột nhiên sẽ không muốn ăn nó; điều này giúp bạn sống sót, và
nó nhanh hơn, hiệu quả hơn việc đưa ra lý do tại sao bạn
không nên hấp thụ những thứ bạn ngửi.3
Bộ não bò sát là phần tiến hóa sớm nhất trong ba bộ não. Nó
được điều khiển bởi hạch nền, bộ phận nằm ở trung tâm não
bộ con người và được tìm thấy ở mọi động vật, bao gồm cả bò
sát và các loài chim. Những học giả cho rằng bộ não của loài
bò sát và những loài động vật tiến-hóa-giai-đoạn-đầu được cấu
tạo phần lớn bởi bộ phận này. Do đó, có học thuyết cho rằng
hạch nền là bộ phận phát triển đầu tiên. Hạch nền điều khiển
những hành vi tự vệ, điều cần thiết cho sự sinh tồn của động
vật. Những hành vi này bao gồm ăn uống, chống lại những
mối nguy hại, chạy trốn những nguy hiểm không thể chống
đỡ, và sinh sản. Đằng sau những hành vi này là những hoạt
động cơ bản khác như tự vệ, bảo vệ gia đình, giao tiếp, vai trò
xã hội và bảo vệ lãnh thổ hoặc tài sản. MacLean gọi những
hành vi này là những “hành vi điển hình của loài”.
Mặc dù bộ não bò sát rõ ràng rất hữu dụng trong thế giới
hoang dã, nó vẫn đem lại những lợi ích nhất định trong thế
giới hiện đại. Mỗi lần chúng ta đối mặt với nguy hiểm, phản
ứng “chiến đấu – thoát thân – đông cứng tạm thời” mà chúng
ta gặp phải được điều khiển bởi chính bộ não bò sát. Nó cũng
giúp chúng ta “đánh hơi” thấy hiểm nguy trước khi nó xảy ra;
đây là cách con người có thể “cảm nhận” được một vụ đột
nhập, một vụ cướp hay thậm chí là việc chạm trán một nhân
vật nguy hiểm trước khi nó thực sự xảy ra. Nói ở một cấp độ
cơ bản hơn, bộ phận này của não (hạch nền) là một phản ứng
linh cảm về những cái quen thuộc so với những cái lạ lẫm.
Đây chính là lý do tại sao một tình huống mới lạ có thể khiến
chúng ta cảm thấy phấn khích và làm cho tim ta đập nhanh
hơn, kể cả khi nó chỉ là một cuộc phiêu lưu thú vị và chẳng có
gì nguy hiểm! Bộ não bò sát sẽ nghỉ ngơi khi ở xung quanh
những thứ quen thuộc, nhưng khi đang ở một môi trường lạ
lẫm, nó sẽ tiết ra adrenaline và một phản ứng cảnh giác tự
động. Phản ứng này đứng sau những phản ứng mạnh mẽ như
hồi tưởng và nỗi nhớ nhà. Những nhà quảng cáo thường đánh
mạnh vào những cảm xúc này, và cố gắng gợi chúng ta nghĩ về
những thứ quen thuộc để tạo ra sự liên kết và làm chúng ta
thấy an tâm hơn về một sản phẩm.4
Hiểu được bộ não bò sát là rất quan trọng, bởi vì đó là xuất
phát điểm của những “linh cảm” mà mọi người thường nhắc
đến. Mặc dù những bản năng này giúp chúng ta sống sót trong
những tình huống nguy hiểm, chúng cũng có thể làm chúng ta
nhầm tưởng rằng mình đang an toàn, trong khi thực chất đang
ở trong một tình huống không hề quen thuộc.
Ví dụ, nếu bạn đang ở nước ngoài với nền văn hóa khác biệt
và bạn không thể nói ngôn ngữ của họ, bộ não bò sát có thể
khiến bạn cảm thấy sợ hãi mặc dù bạn không cần phải sợ. Nó
có thể khiến bạn từ chối những ý tưởng không quen thuộc đơn
giản chỉ vì nó mới mẻ đối với bạn. Bộ não bò sát là nguồn gốc
của sự tiến hóa thành công của con người, nhưng nó cũng là
nguồn gốc của nhiều hành động xấu xí nhất của nhân loại. Đó
chính là lý do tại sao việc hiểu được khía cạnh này của cấu tạo
thần kinh lại quan trọng đến thế.
Hoạt động của bộ não bò sát cũng liên quan đến điều kiện
sống của chúng ta. Bạn có thể đã nghe về Tháp nhu cầu của
Maslow. Học thuyết này được phát triển bởi Abraham Maslow
và nó mô tả những nhu cầu cảm xúc của chúng ta dựa trên
những tình huống trong cuộc sống. Chúng ta có những nhu cầu
cơ bản như thức ăn và chỗ ở nhưng mọi người cũng cần thấy
an toàn và được yêu thương. Cuối cùng khi các nhu cầu cảm
xúc khác được đáp ứng, bạn sẽ hình thành lòng tự trọng, và
sau này là thứ gọi là nhu cầu tự thể hiện bản thân. Nhu cầu tự
thể hiện bản thân là giai đoạn khi chúng ta là phiên bản tốt
nhất của chính mình, khi chúng ta được tự do khám phá tiềm
năng của mình bởi vì chúng ta không có nhu cầu gì khác nữa.
Cấu trúc thần kinh của chúng ta phần nào đã mô phỏng lại hệ
thống tháp này, bởi những phần não có những nhu cầu cơ bản
đã nhấn chìm những phần có “ít nhu cầu” hơn. Phần vỏ não,
phần tiến hóa muộn nhất của não, quản lý nhu cầu tự thể hiện
bản thân này. Hệ thống của Maslow không hề bất biến; bạn có
thể ở trong vài thang nhu cầu cùng một lúc (ví dụ, bạn có thể
đói nhưng vẫn yêu và cảm thấy được yêu thương). Nó chỉ
phản ánh những thứ đang diễn ra trong đầu khi chúng ta cần
một thứ gì đó.5
Não bộ chúng ta được tạo ra để biết tránh những hình phạt và
tuyên dương những phần thưởng. Điều này phát triển để chúng
ta có thể học cách tránh những thứ gây hại tới mình - chúng ta
cảm thấy tồi tệ khi bị phạt, nhưng não sẽ tiết ra nhiều
dopamine khi chúng ta được trao thưởng. Dopamine là một
chất hóa học làm chúng ta cảm thấy vui vẻ; phát triển khả
năng chịu đựng nó cũng có thể dẫn tới những chứng nghiện.
Phản ứng tiến hóa này kích thích quá trình suy nghĩ của chúng
ta để có thể tránh bị phạt và cố gắng được thưởng, mặc dù đây
có thể không phải là quyết định chính xác.6
Những nhu cầu con người có những ảnh hưởng khác nhau lên
quá trình suy nghĩ của chúng ta. Chúng ta cảm thấy một nhu
cầu tâm lý sâu sắc đối với việc kiểm soát hành động và cuộc
sống của chính mình, điều này thường được biểu hiện qua
những sai sót phổ biến trong tư duy phản biện. Sự mê tín được
sinh ra khi từ chính nhu cầu kiểm soát của con người, bởi vì
nó tạo ra ảo tưởng rằng chúng ta kiểm soát được những thứ mà
chúng ta không thể kiểm soát. Mặc chiếc áo đội bóng yêu
thích hay đeo đá phong thủy sẽ không thực sự giúp đội của
bạn thắng hay làm cho ngày của bạn tươi đẹp hơn, nhưng
chúng làm cho bạn nghĩ rằng bạn có thể kiểm soát những thứ
này. Mê tín cũng đem lại cho thế giới ngẫu nhiên của chúng ta
một cảm giác về ý nghĩa và mục đích sống. Yếu tố mê tín cũng
ảnh hưởng tới những nhu cầu tâm lý sâu sắc của con người về
sự kết nối và ý nghĩa trong cuộc sống, yếu tố này cũng giải
phóng dopamine vào não khi chúng ta tin rằng chúng có tồn
tại. Để theo đuổi cảm xúc này, chúng ta thường rơi vào những
quá trình suy nghĩ bị làm sai lệch bởi thiên kiến xác nhận và
suy nghĩ viển vông.
Con người cũng khao khát có được những lời giải thích đơn
giản cho những vấn đề phức tạp bởi vì chúng giúp cho vấn đề
đỡ nặng nề và dễ kiểm soát hơn. Mặc dù đơn giản hóa vấn đề
có lẽ sẽ làm cho nó có vẻ dễ dàng hơn, nhưng thực chất nó lại
cản trở chúng ta có những đánh giá phê bình. Điều quan trọng
là bạn phải nhận ra và chia nhỏ sự phức tạp của vấn đề khi sử
dụng tư duy phản biện. Tuy nhiên cũng không nên quá đơn
giản hóa vấn đề vì sẽ dẫn đến sự cố chấp. Thực tế luôn phức
tạp hơn những điều não muốn chúng ta tin vào.
Con người chúng ta có một nhu cầu tâm lý sâu sắc cho ý nghĩa
của cuộc sống. Nó cho ta một mục đích, một lý do để tồn tại,
sinh sản và nhân giống. Mặc dù điều này rõ ràng là có lợi khi
nhìn từ góc độ tiến hóa, nhưng thực chất nó lại dẫn đến thiên
kiến xác nhận trong suy nghĩ của chúng ta. Chúng ta nói rằng
“mọi thứ xảy ra đều có lý do của nó”, và chúng ta cố áp đặt cái
logic đó vào những sự kiện ngẫu nhiên, thậm chí kể cả với
những việc vượt ngoài tầm kiểm soát. Thuyết âm mưu là một
ví dụ; mọi người chế ra những lời giải thích phi logic cho
những tai nạn như những vụ ám sát và tấn công khủng bố bởi
vì họ không thể chấp nhận suy nghĩ rằng một thứ tồi tệ như
vậy lại có thể là một sự kiện ngẫu nhiên. Họ bám vào những
suy nghĩ đó ngay cả khi chúng hoàn toàn phản logic.
Ngoài ra, chúng ta cũng có nhu cầu được tôn trọng bởi cộng
đồng, và cảm thấy tốt về bản thân. Chúng ta đã phát triển nhu
cầu này thông qua ước muốn được hòa nhập vào một nhóm và
được bảo vệ. Tuy nhiên, điều này cũng có thể gây ra những sai
sót trong tư duy phản biện. Mọi người thường tìm những lý do
khách quan khi mọi chuyện không được như ý thay vì tự kiểm
điểm bản thân, hoặc tự thuyết phục rằng họ không thể tránh
những sai lầm mà mình tự gây ra. Những cơ chế tự vệ này bảo
vệ chúng ta khỏi sự xấu hổ hay ngại ngùng, nhưng chúng cũng
làm lu mờ khả năng đánh giá rõ ràng và học tập từ lỗi sai của
chính mình. Bản năng muốn làm hài lòng người khác của
chúng ta cũng có nghĩa chúng ta sẽ cố tránh làm những thứ
khiến họ cảm thấy tức giận hay buồn bã, và chúng ta có thể tự
thuyết phục mình giữ vững quan điểm kể cả khi nó không hợp
lý.
Một nhược điểm logic thường thấy nữa là bất hòa nhận thức,
hay khi chúng ta có hai quan điểm khác nhau cùng một lúc.
Chúng ta thường không nhận ra điều này vì chúng ta có xu
hướng củng cố lòng tự trọng của bản thân, nhưng đây là một
trong những rào cản quan trọng nhất trong việc phát triển
những kỹ năng tư duy phản biện. Nếu bạn nhận ra rằng những
niềm tin của bạn có sự mâu thuẫn, đây là dấu hiệu cho thấy
bạn nên kiểm tra lại kiến thức của mình để tìm ra được thứ mà
bạn cần điều tra. Tuy nhiên để làm được việc này, bạn cần đặc
biệt cẩn thận để không hợp lý hóa những lỗi sai trong quá trình
tiếp nhận những tri thức này. Bản năng con người chính là một
vật cản lớn cho suy nghĩ lý trí!
Hãy nghĩ về đạo đức của bạn. Dù tin hay không, đây cũng là
một phần tiến hóa trong não bạn! Chúng ta, và những thành
viên trong vương quốc động vật, cần một quy tắc đạo đức để
những nhóm xã hội có thể hoạt động. Liệu bạn có mua một
ngôi nhà mà một tên giết người đã từng sở hữu không? Chắc
là không, phải không nào? Không có lời giải thích hợp lý,
chính đáng nào cho việc bạn không nên làm thế cả - phần lớn
mọi người sẽ nghĩ đến quả báo hay ma quỷ - nhưng bạn vẫn sẽ
cảm thấy căn nhà có vẻ u ám. Chúng ta phát triển phản ứng
này là có lý do. Đương nhiên bạn sẽ không muốn lại gần một
kẻ giết người, bạn đã tiến hóa để tránh xa mọi thứ có thể giết
chết bạn!
Sử dụng tư duy phản biện trong cuộc sống hằng ngày có thể
khó khăn hơn nhiều người nghĩ. Tôi chắc chắn sẽ không thể
thay đổi suy nghĩ của bạn về ngôi nhà của kẻ giết người với
những lập luận hợp lý. Thay đổi những mê tín cổ xưa, đức tin
và thói quen là rất khó! Tuy nhiên, áp lực ngang hàng có thể
giúp chúng ta. Chúng ta có xu hướng điều chỉnh hành vi cho
phù hợp với những người xung quanh bởi vì chúng ta muốn là
một phần của cộng đồng. Nên việc ở xung quanh những người
có tư duy phản biện sẽ giúp bạn bắt chước sở thích của họ!
Khi chúng ta nghĩ về “thông minh”, chúng ta thường nghĩ về
kỹ năng trí tuệ hay khối lượng kiến thức mà họ biết. Tuy
nhiên, như chúng ta đã biết, điều này không làm cho bạn trở
thành một người có quyết định hoàn hảo hay có tư duy phản
biện. Có một loại thông minh khác gọi là “trí tuệ xúc cảm”.
Đây là lúc bạn phải tự nhận thức được cảm xúc của mình, biết
được chúng là gì, và có thể điều khiển chúng để chúng có thể
giúp bạn giải quyết những vấn đề. Điều này có nghĩa là bạn có
thể điều chỉnh cảm xúc của mình một cách lành mạnh và cảm
thông với những người khác. Đến nay, những nhà tâm lý học
vẫn chưa đưa ra được một hệ thống đo lường trí tuệ cảm xúc
giống như cách đo trí tuệ thông thường. Điều này nghĩa là
nhiều chuyên gia vẫn đang hoài nghi, nhưng đây là một khái
niệm phổ biến trong giới kinh doanh, nơi mà những nhà tuyển
dụng đã quyết định tạo ra những bài “kiểm tra” với hy vọng
tìm được những nhân viên tốt hơn. Điều quan trọng cần ghi
nhớ là không hề có sự liên kết nào giữa sự thành công trong
công việc và trí tuệ xúc cảm. Tuy nhiên, nó có thể bù đắp cho
sự thiếu tương quan giữa trí tuệ thông thường và những kỹ
năng đưa ra quyết định.
Hãy nghĩ về những tác phẩm ảo ảnh quang học mà bạn đã thấy
trên mạng hoặc trong lớp mỹ thuật. Tại sao não có thể bị lừa
rằng một thứ trong bộ phim 3D thực sự sẽ va vào bạn, hay một
bức tranh vòng xoáy đang chuyển động trong khi nó đứng
yên? Câu trả lời là bộ não chỉ có thể xử lý một lượng thông tin
tiếp nhận nhất định. Ảo ảnh quang học lợi dụng những bất
thường trong quá trình hoạt động của não để đưa vào thông tin
mâu thuẫn với thực tế. Những ảo thuật gia và những nhà tâm
thần khai thác khía cạnh tương tự của cấu trúc não bộ; họ có
thể lừa chúng ta bởi họ biết những mánh có thể lừa bộ não của
chúng ta. Não bộ chúng ta cũng có thể tạo ra một nhận thức
mới mà không bao gồm những dữ liệu não nhận được. Ví dụ,
trong hiện tượng được biết đến như là hiệu ứng McGurk, khi
một tiếng động được ghi đè lên hình ảnh chuyển động môi của
một người đang tạo ra tiếng động khác, chúng ta thực sự sẽ
nghe ra một tiếng động thứ ba, đặc biệt khi chất lượng âm
thanh tệ. Điều này là do não chúng ta đang cố tổng hợp thông
tin mâu thuẫn từ các giác quan.7
Tất cả những hiện tượng kể trên là ví dụ cho thấy thông tin
cảm giác dễ bị đánh lừa ra sao. Não của chúng ta lọc và giải
thích tất cả những dữ liệu mà các giác quan cung cấp, theo
những cách không thực sự chính xác. Hãy nghĩ trong một ngày
bạn đã nghe nhầm bao nhiêu người mà xem! Mắt của bạn cũng
có thể bị lừa; trong một nghiên cứu được gọi là bài kiểm tra về
“con tinh tinh vô hình”, những nhà nghiên cứu phát hiện ra khi
mọi người được yêu cầu tập trung vào hình ảnh một người
đang nảy bóng trong một video, họ hoàn toàn bỏ qua hình ảnh
một người mặc bộ đồ tinh tinh đang đi qua trong khung hình.
Thậm chí kể cả khi họ được bảo về con tinh tinh và nói rằng
hình ảnh đó quá rõ và không đời nào họ có thể bỏ lỡ, thì sự
thật là họ thực sự đã bỏ lỡ! Điều này cho thấy khi bạn quá tập
trung vào một thông tin nà...
Lời mở đầu
Chương 1: Khoa học thần kinh về niềm tin và sự hoàn hảo
Chương 2: Ký ức và sự ngộ nhận
Chương 3:Thực tế
Chương 4: Những lập luận và những ngụy biện logic
Chương 5: Tiếp thị, truyền thông, và những trò chơi trí tuệ
khác
Chương 6: Những thuyết âm mưu được huyền bí hóa
Kết
Tham khảo
Trích dẫn tài liệu tham khảo
LỜI MỞ ĐẦU
S
uy nghĩ là việc chúng ta làm hằng ngày và thường là
trong vô thức. Khi bạn làm bữa sáng, đánh răng hay lái
xe đến chỗ làm, bạn cũng đang suy nghĩ. Nhưng đã bao
giờ bạn nghĩ về quá trình suy nghĩ, cách mà bạn đưa ra quyết
định sẽ ăn gì vào bữa trưa hoặc khi nào thì dậy đi làm chưa?
Nghĩ về quá trình suy nghĩ được gọi là siêu nhận thức
(metacognition). Nhận thức được cách hình thành những suy
nghĩ là bước đầu tiên trong việc phát triển các kỹ năng tư duy
phản biện. Tư duy phản biện là một phương pháp bạn có thể
dùng để xem xét cẩn thận những suy nghĩ và niềm tin của bạn,
và từ đó có khả năng tương tác với ý tưởng của những người
khác một cách cẩn thận. Điều này sẽ khiến những cuộc hội
thoại hằng ngày và những quyết định của bạn dễ dàng hơn và
được cân nhắc cẩn thận hơn, đồng thời giúp bạn giải quyết
những vấn đề phức tạp hơn. Những người tư duy tốt nhất thế
giới dùng những chiến thuật tư duy phản biện để giải quyết
những vấn đề lớn như tìm cách lên Sao Hỏa, biến đổi khí hậu
và xóa bỏ vũ khí hạt nhân. Những thứ này có thể quá vĩ mô
đối với bạn, nhưng nếu bạn nghĩ về câu hỏi ẩn sau chúng, tự
nhiên chúng sẽ trở nên dễ giải quyết hơn. Điều gì gây nên biến
đổi khí hậu? Ai sẽ chịu trách nhiệm đối với hậu quả? Làm thế
nào để thay đổi họ? Quá trình thay đổi họ sẽ như thế nào?
Điều gì khiến quy trình đó trở nên hiệu quả? Bắt đầu suy nghĩ
về những câu hỏi này chính là cách những người thông minh
nhất làm việc.
Bạn cũng có thể áp dụng cách tư duy này cho những vấn đề
nhỏ hơn, ví dụ như nếu bạn muốn bắt đầu tập thể dục, bạn sẽ
bắt đầu từ đâu? Bài tập nào sẽ phù hợp với bạn? Để giải quyết
vấn đề này, bạn có thể chia nhỏ vấn đề: Bạn muốn khỏe mạnh
hơn hay muốn chạy nhanh hơn? Bạn đang tìm kiếm lợi ích sức
khỏe nào? Một bài tập thể dục nọ có thực sự tốt như bạn nghĩ?
Làm thế nào để nhận biết bài tập đó có hiệu quả với bạn hay
không? May mắn là, chúng ta có thể tiếp cận được nhiều thông
tin hơn bao giờ hết nhờ có Internet, nhưng vấn đề là những
thông tin đó không phải lúc nào cũng chính xác hoặc có giá trị
đối với vấn đề của bạn. Tư duy phản biện sẽ giúp bạn lọc
những thông tin này và dùng chúng hiệu quả nhất có thể.
Bộ não là một cơ quan tuyệt vời. Nó không chỉ nảy sinh ra
những suy nghĩ, mà còn có thể nghĩ về cách nó nảy sinh những
suy nghĩ đó. Bộ não có thể nghĩ về quá khứ, tưởng tượng về
tương lai và tưởng tượng những điều chưa bao giờ xảy ra.
Nhưng bộ não cũng có thể đánh lừa chúng ta. Chúng ta đều có
những định kiến mà bản thân không nhận thức được, dựa trên
những kinh nghiệm và kiến thức của chúng ta, thứ sẽ ảnh
hưởng đến cách chúng ta nghĩ và nó có thể đánh lừa đánh giá
của chúng ta. Những cảm xúc và “bản năng” có xu hướng đưa
chúng ta tới những kết luận không phải lúc nào cũng đúng.
Thay vào đó, chúng thường là những quyết định dễ dàng nhất,
những quyết định chúng ta cảm thấy thoải mái dựa trên những
định kiến cá nhân, bởi đây là một chiến lược sinh tồn tốt với
những người nguyên thủy. Họ sống trong một thế giới mà bản
năng là rất có ích, nhưng thế giới hiện đại ngày nay lại phức
tạp hơn rất nhiều. Việc xem xét kỹ lưỡng những quan điểm và
suy nghĩ của chúng ta, vì lợi ích của chính chúng ta và của cả
nhân loại đã ngày càng trở nên tối quan trọng.
Bạn có thể nghĩ về tư duy phản biện như là một bộ chiến lược
để dẫn đường giúp bạn tránh xa khỏi các quyết định thiên vị,
cảm tính và hướng đến sự cân nhắc lý trí cho những hành động
và đức tin của mình. Điều này sẽ giúp chúng ta trở thành
những người suy nghĩ độc lập, có thể tự đưa ra lựa chọn một
cách thấu đáo. Những kỹ năng mà một người tư duy phản biện
cần phát triển bao gồm việc hiểu được những logic đằng sau
những ý niệm và học thuyết, có thể phân tích và công thức hóa
những lập luận, có thể xây dựng những giải pháp từng bước,
xác định tính hợp lệ của những ý tưởng và có thể xem xét
những lý do đằng sau đức tin của chính bạn. Bạn có thể đã
nhận ra rằng tư duy phản biện không có nghĩa là chỉ biết nhiều
kiến thức. Đó là một quá trình rất khác so với việc chỉ ghi nhớ
hay tiếp nhận thông tin; giỏi ghi nhớ không khiến bạn trở
thành một người có tư duy phản biện tốt! Những người có tư
duy phản biện tập trung hơn vào cách họ biết hơn là cái họ
biết. Điều này có nghĩa là họ có thể sử dụng thứ họ biết để dự
đoán hậu quả của chuỗi hành động, giải quyết các vấn đề và
quyết định sẽ dùng thông tin nào khi họ muốn học một thứ
mới.1
Tư duy phản biện không có nghĩa là “phê phán gay gắt”. Thực
tế thì, tư duy phản biện chủ yếu là việc giữ được một cuộc
tranh luận hợp lý, bình tĩnh và trí thức. Tư duy phản biện sẽ
cho phép bạn phân tích những lập luận của mọi người và cho
họ thấy cái sai của họ, mà không cần phải lăng mạ hay sỉ nhục
người khác. Điều này sẽ giúp chúng ta làm việc dễ dàng hơn
với những người không có cùng quan điểm. Tư duy phản biện
là một chiến lược tốt để sử dụng trong các dự án nhóm hoặc
những việc cần sự hợp tác, chính xác là vì nó tạo ra một môi
trường lý tưởng cho việc tương tác về mặt trí thức.
Quá trình tư duy trí tuệ này không nhất thiết phải cực kỳ sáng
tạo. Mặc dù chúng ta thường nghĩ logic là một thứ đối lập
hoàn toàn so với sự sáng tạo, bản chất của tư duy phản biện
chính là làm thế nào để dùng những tư duy logic để kích thích
sự sáng tạo. Sự xem xét một cách logic tất cả các ý tưởng có
nghĩa là bạn nhận ra rằng ý tưởng kém phổ biến hơn lại chính
là ý tưởng hợp lý nhất, hoặc rằng có một giải pháp tốt hơn cho
vấn đề bạn đang cân nhắc. Sử dụng những kỹ năng tư duy
phản biện có thể mở ra cho bạn cả một chân trời mà bạn chưa
bao giờ nghĩ tới.
Chúng ta sinh ra không có sẵn những kỹ năng tư duy phản
biện. Thay vào đó, chúng ta phải học hỏi và luyện tập thì mới
có thể sử dụng tốt những kỹ năng đó. Tin tốt là, ai cũng có thể
học cách tư duy phản biện! Như tất cả các quá trình tự cải
thiện bản thân, học cách tư duy phản biện bắt đầu với việc
nhận ra những thứ bạn cần cải thiện. Điều này có nghĩa là
nhận ra được những lỗi sai trong chính cách suy nghĩ của bạn.
Những lỗi sai đó cũng có đến vài loại. Thứ đầu tiên mà bạn
phải nghĩ đến là những ngụy biện logic, hay chính là lỗi sai
bạn tạo ra trong quá trình hợp lý hóa suy nghĩ. Bạn cũng phải
kiểm tra những lầm tưởng trước đó của bạn và xem cái nào là
sai; bạn có thể không nhận ra rằng một vài thứ mà bạn vẫn
“biết” thực ra lại không hoàn toàn chính xác. Bạn cũng nên tự
đặt câu hỏi về trí nhớ của mình (mà không phải lúc nào cũng
hoàn toàn chính xác) và liệu những dự đoán cũng như “giác
quan thứ 6” của bạn có đúng hay không. Tất cả những lỗi sai
này sẽ được bàn luận chi tiết hơn trong những chương sau,
nhưng hiện tại thì chắc chắn đó là những thứ bạn cần cân nhắc.
May mắn là, chúng ta có thể sửa lại những lỗi sai phổ biến đó.
Đây là khi siêu nhận thức trở nên rất quan trọng – ví dụ, khi
bạn phải nghĩ về việc làm thế nào để lại nhớ lại một sự kiện và
từ đó có thể đánh giá liệu nó có thực sự xảy ra hay không. Bạn
có thể áp dụng những quá trình như theo dõi tiến trình suy
nghĩ của bạn bằng cách ghi chép, thực hiện những thay đổi
nếu bạn thấy rằng có gì đó không tốt hoặc cần cải thiện, tự ý
thức được những chiến lược suy nghĩ, và suy nghĩ xem những
kinh nghiệm bạn rút ra có sự kết nối với nhau ra sao. Bạn có
thể nghĩ về quá trình siêu nhận thức này như việc tiếp nhận
một sự nghi ngờ khoa học về điều mà bạn chưa bao giờ thắc
mắc trước đó. “Sự nghi ngờ khoa học” có nghĩa là nghi ngờ
một cách thông minh, phân tích quá trình tư duy của bản thân
và cách bạn biết những điều bạn đã biết thông qua những bằng
chứng khách quan. Nghiên cứu những suy nghĩ của bạn giống
như chúng là một đối tượng nghiên cứu khoa học sẽ giúp bạn
tìm ra thứ khoa học vẫn luôn hướng tới: sự thật, thay vì những
cái chúng ta mong muốn là sự thật.2
“Duy ý chí” có thể đặc biệt gây hại đến tư duy phản biện vì nó
hướng chúng ta đến những kết luận chúng ta muốn đưa ra thay
vì những kết luận chính xác. Cách tốt nhất để chống lại điều
này là tập trung vào bằng chứng khách quan mà bạn thu thập
được, thay vì những phỏng đoán hay những kiến thức bạn biết.
Ví dụ, nếu bạn luôn cảm thấy buồn nôn và đau đầu, bạn có thể
tra các triệu chứng trên Google hoặc là hỏi bạn bè của mình,
hoặc là tới bác sĩ. Phương án nào sẽ cung cấp câu trả lời tốt
nhất cho vấn đề của bạn? Rõ ràng là, một bác sĩ với nhiều năm
kinh nghiệm sẽ có thể đánh giá những triệu chứng của bạn với
bằng chứng khách quan và đưa ra một kết luận đáng tin cậy
hơn là một trang Wiki hay là bạn của bạn. Do đó, họ sẽ thực
sự nói cho bạn điều gì không ổn (nếu có) và ngăn bạn đi đến
kết luận rằng bạn mắc bệnh gì đó nghiêm trọng.
Tất nhiên, bác sĩ thường đại diện cho khoa học thuần túy –
một yếu tố quan trọng đối với các vấn đề khoa học, bởi ngụy
khoa học cũng sẽ đưa bạn tới những kết luận không chính xác.
Ví dụ, nếu bạn quyết định tới gặp những pháp sư chữa trị bằng
đá khoáng, họ có thể sẽ không thành công trong việc chữa lành
những triệu chứng của bạn so với bác sĩ. Lý do là vì cách họ
hành nghề không hề dựa trên sự khách quan, hay bằng chứng
được xem xét nghiêm ngặt. Bạn luôn có thể nhận biết điều gì
có tính khoa học thuần túy thông qua phương pháp học mà nó
sử dụng. Nó sẽ không đi theo một chuỗi những niềm tin không
có căn cứ. Thay vào đó, nó sẽ đi theo một con đường thẩm
định rất cụ thể, hợp lý và logic để đi tới kết luận. Một người tư
duy phản biện có thể nhận ra điều này, và lựa chọn những điều
họ tin là đúng dựa trên con đường thẩm định một cách khoa
học.
Điều quan trọng tiếp theo là một người có tư duy phản biện
hiểu rất rõ bản chất của kiến thức. Một trong những bằng
chứng khoa học duy nhất có thể quan sát được là tự nhiên;
những hiện tượng thiên nhiên mà chúng ta thấy mỗi ngày chắc
hẳn sẽ có những nguyên nhân tự nhiên. Những nguyên nhân
siêu nhiên đến nay vẫn chưa được chứng minh bởi những
phương pháp khoa học (dù bạn muốn tin vào những thợ săn
ma quỷ ra sao) bởi vì chúng không thể đo lường bằng thực
nghiệm được. Những người có tư duy phản biện biết rằng
những học thuyết khoa học không đồng nghĩa với sự thật; sẽ
luôn luôn có những lỗi sai gây ra bởi yếu tố con người trong
những quan sát thực nghiệm. Điều này có nghĩa là thông tin
luôn luôn có thể được cải thiện với dữ liệu mới – và đây là một
điều tốt! Chừng nào những bằng chứng thực nghiệm được sử
dụng để tiến tới những kết luận và kiến thức, nó sẽ được cân
nhắc cẩn thận hơn là một kết luận được đưa ra mà không có tư
duy phản biện.
Nếu chúng ta sử dụng tư duy phản biện, chúng ta sẽ rất dễ bị
cám dỗ bởi suy nghĩ ảo tưởng, tại đó chúng ta sẽ hoàn toàn
sống trong thực tại của chính mình hay một thực tại được dựng
nên bởi người khác. Những thực tại này không thể biến thành
sự thật được, bởi vì chúng không dựa trên bất kỳ quan sát thực
nghiệm nào. Nếu chúng ta sống dựa vào những xúc cảm và
những đức tin không có căn cứ, chúng ta sẽ ngày càng xa rời
bản chất của vấn đề bởi vì quan điểm của chúng ta đã bẻ cong
chúng. Điều này được biết tới như là những thiên kiến xác
nhận; chúng ta trở nên hứng thú với việc tìm kiếm những bằng
chứng ủng hộ quan điểm của mình hơn là đưa ra những kết
luận từ bằng chứng mà chúng ta nhìn thấy. Trong một thời kỳ
mà chúng ta có thể truy cập vào nhiều thông tin (đúng hoặc sai
lệch) hơn bao giờ hết, sử dụng tư duy phản biện để tránh bị
thao túng và dắt mũi là điều rất cần thiết, cho dù đó là vấn đề
liên quan đến sức khỏe, chính trị hay tiêu dùng. Áp dụng
những chiến lược tư duy sẽ giúp bạn có định hướng rõ ràng
giữa biển tri thức và tìm thấy những sự thật.
Bạn có thể đã biết tới một vài người có tư duy phản biện nổi
tiếng. Họ thường có chung những đặc điểm sau:
• Sự tò mò về nhiều chủ đề đa dạng;
• Nhận thức rõ về những tình huống họ có thể dùng tư duy
phản biện;
• Tự tin vào những lý lẽ của mình;
• Luôn muốn thu nạp thêm nhiều kiến thức mới;
• Hiểu được những quan điểm của người khác;
• Cởi mở để cải thiện đức tin;
• Có sự khách quan trong việc đánh giá lý lẽ;
• Tự nhận thức được những định kiến và những khiếm khuyết
của mình;
• Đánh giá cẩn thận khi thay đổi quan điểm; và
• Sẵn sàng thay đổi một luận điểm sai khi được giải thích hợp
lý.
Như bạn có thể thấy, chìa khóa để trở thành một người có tư
duy phản biện tốt chính là sự tự nhận thức. Bạn cần phải đánh
giá trung thực những điều trước đây bạn nghĩ là đúng, cũng
như quá trình suy nghĩ đã dẫn bạn tới những kết luận đó. Nếu
bạn không có những lý lẽ hợp lý, hoặc nếu suy nghĩ của bạn bị
ảnh hưởng bởi những kinh nghiệm và cảm xúc, thì lúc đó hãy
cân nhắc sử dụng tư duy phản biện! Bạn cần phải nhận ra được
rằng con người, kể từ khi sinh ra, rất giỏi việc đưa ra những lý
do lý giải cho những suy nghĩ khiếm khuyết của mình. Nếu
bạn đang có những kết luận sai lệch này thì có một sự thật là
những đức tin của bạn thường mâu thuẫn với nhau và đó
thường là kết quả của thiên kiến xác nhận, nhưng nếu bạn biết
điều này, thì bạn đã tiến gần hơn tới sự thật rồi!
Những người tư duy phản biện cũng biết rằng họ cần thu thập
những ý tưởng và đức tin của mọi người. Tư duy phản biện
không thể tự nhiên mà có.
Những người khác có thể đưa ra những góc nhìn khác mà bạn
có thể chưa bao giờ nghĩ tới, và họ có thể chỉ ra những lỗ hổng
trong logic của bạn mà bạn đã hoàn toàn bỏ qua. Bạn không
cần phải hoàn toàn đồng ý với ý kiến của những người khác,
bởi vì điều này cũng có thể dẫn tới những vấn đề liên quan đến
thiên kiến, nhưng một cuộc thảo luận phản biện là một bài tập
tư duy cực kỳ hiệu quả. Việc lắng nghe những ý kiến của
người khác cũng có thể giúp bạn nhận ra rằng phạm vi tri thức
của bạn không phải là vô hạn. Không ai có thể biết hết tất cả
mọi thứ. Nhưng với việc chia sẻ và đánh giá phê bình kiến
thức, chúng ta có thể mở rộng tâm trí. Nếu điều này khiến bạn
cảm thấy không thoải mái, không sao cả. Trên thực tế, bước ra
ngoài vùng an toàn là một điều quan trọng để mở rộng niềm
tin và suy nghĩ của bạn. Tư duy phản biện không phải là chỉ
biết vài thứ, và chắc chắn không phải việc xác nhận những
điều bạn đã biết. Thay vào đó, nó xoay quanh việc tìm kiếm sự
thật – và biến chúng trở thành thứ mà bạn biết.
Chương 1
KHOA HỌC THẦN KINH
VỀ NIỀM TIN VÀ SỰ
HOÀN HẢO
G
iả sử rằng bạn muốn có một chú chó, và mặc dù bạn
cảm thấy giống nào cũng được, thì vẫn có một giống
mà bạn rất thích. Giả sử giống chó mà bạn thích là
giống Corgi. Bạn dừng lại ở một trại chó địa phương và ở đó
có một vài con mà bạn thích, một trong số đó là giống Corgi.
Rõ ràng bạn sẽ phải nghiên cứu những giống chó khác nhau
đó. Bạn sẽ gõ gì lên Google? Bạn có thể tìm kiếm những cụm
từ như “chó Pitbull rất nguy hiểm” hay “chó Jack Russell năng
động”, trong khi đối với giống chó mà bạn thích thì bạn lại
không đặt những câu hỏi tương tự. Thay vào đó, bạn gõ vào
những thứ như là “chó Corgi có thân thiện với trẻ em không”
hay “chó Corgi có dễ huấn luyện không”. Rõ ràng là những
câu hỏi khác nhau này sẽ đưa ra cho bạn những câu trả lời
khác nhau. Mặc dù giống gió Jack Russell hay giống Pitbull
bạn vừa thấy trong trại chó có thể là giống chó phù hợp nhất
với bạn – chó Pitbull nguy hiểm chỉ là một giả thiết, và chó
sục Jack Russell vẫn có thể là giống chó tốt cho gia đình –
nhưng những kết quả mà bạn tìm thấy sẽ tích cực đưa bạn tới
kết luận vốn bạn đã định đưa ra: chó Corgi. Bạn đã nghiên
cứu, nhưng não bạn lại lựa chọn những thông tin dựa trên
thiên kiến mà bạn đã ngầm có. Bạn cảm thấy mình như nạn
nhân của một vấn đề quá đỗi “con người”: chúng ta tin vào
những thứ chúng ta muốn tin.
Đây không phải là một lựa chọn có ý thức. Não của chúng ta
thường tạo ra những liên kết nơ-ron khiến chúng ta tin vào
những thứ chúng ta muốn tin, bởi vì đây là những phản ứng
thuộc về cảm xúc. Những phản ứng xúc cảm đã từng có ích
khi con người phải chạy trốn khỏi những động vật ăn thịt,
nhưng chúng lại có thể cản trở những suy nghĩ hợp lý trong
thế giới hiện đại. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu được việc này,
chúng ta có thể giảm nhẹ ảnh hưởng của những thiên kiến cá
nhân trong não chúng ta.
Não chúng ta hoạt động ở ba cấp độ: bộ “não người,” bộ “não
linh trưởng,” và bộ “não bò sát”. Điều này được biết tới như là
“mô hình bộ não ba trong một” và được phát triển bởi nhà
khoa học thần kinh Paul MacLean. Theo như mô hình, ba “bộ
não” này sẽ phản ứng với mỗi phần của bộ não (vỏ não, hệ
viền, và hạch nền), và sẽ hoạt động ở mức độ tương ứng khi
chúng ta dần phát triển. Bộ “não người”, hay tân vỏ não, phần
tiến hóa muộn nhất trong quá trình tiến hóa, có thể bị điều
khiển bởi những phần tiến hóa sớm hơn. Rất nhiều quá trình
nhận thức của chúng ta, bao gồm những xúc cảm, thực sự xảy
ra vô thức ở những phần não tiến hóa sớm hơn. Chúng được
phát triển sớm trong quá trình tiến hóa bởi chúng giúp chúng
ta đưa ra những quyết định nhanh, đây là điều rất quan trọng
để sinh tồn khi chúng ta chưa phát triển được tư duy phức tạp.
Ví dụ, nếu bạn ngửi thấy những hóa chất có mùi khó chịu, bạn
đột nhiên sẽ không muốn ăn nó; điều này giúp bạn sống sót, và
nó nhanh hơn, hiệu quả hơn việc đưa ra lý do tại sao bạn
không nên hấp thụ những thứ bạn ngửi.3
Bộ não bò sát là phần tiến hóa sớm nhất trong ba bộ não. Nó
được điều khiển bởi hạch nền, bộ phận nằm ở trung tâm não
bộ con người và được tìm thấy ở mọi động vật, bao gồm cả bò
sát và các loài chim. Những học giả cho rằng bộ não của loài
bò sát và những loài động vật tiến-hóa-giai-đoạn-đầu được cấu
tạo phần lớn bởi bộ phận này. Do đó, có học thuyết cho rằng
hạch nền là bộ phận phát triển đầu tiên. Hạch nền điều khiển
những hành vi tự vệ, điều cần thiết cho sự sinh tồn của động
vật. Những hành vi này bao gồm ăn uống, chống lại những
mối nguy hại, chạy trốn những nguy hiểm không thể chống
đỡ, và sinh sản. Đằng sau những hành vi này là những hoạt
động cơ bản khác như tự vệ, bảo vệ gia đình, giao tiếp, vai trò
xã hội và bảo vệ lãnh thổ hoặc tài sản. MacLean gọi những
hành vi này là những “hành vi điển hình của loài”.
Mặc dù bộ não bò sát rõ ràng rất hữu dụng trong thế giới
hoang dã, nó vẫn đem lại những lợi ích nhất định trong thế
giới hiện đại. Mỗi lần chúng ta đối mặt với nguy hiểm, phản
ứng “chiến đấu – thoát thân – đông cứng tạm thời” mà chúng
ta gặp phải được điều khiển bởi chính bộ não bò sát. Nó cũng
giúp chúng ta “đánh hơi” thấy hiểm nguy trước khi nó xảy ra;
đây là cách con người có thể “cảm nhận” được một vụ đột
nhập, một vụ cướp hay thậm chí là việc chạm trán một nhân
vật nguy hiểm trước khi nó thực sự xảy ra. Nói ở một cấp độ
cơ bản hơn, bộ phận này của não (hạch nền) là một phản ứng
linh cảm về những cái quen thuộc so với những cái lạ lẫm.
Đây chính là lý do tại sao một tình huống mới lạ có thể khiến
chúng ta cảm thấy phấn khích và làm cho tim ta đập nhanh
hơn, kể cả khi nó chỉ là một cuộc phiêu lưu thú vị và chẳng có
gì nguy hiểm! Bộ não bò sát sẽ nghỉ ngơi khi ở xung quanh
những thứ quen thuộc, nhưng khi đang ở một môi trường lạ
lẫm, nó sẽ tiết ra adrenaline và một phản ứng cảnh giác tự
động. Phản ứng này đứng sau những phản ứng mạnh mẽ như
hồi tưởng và nỗi nhớ nhà. Những nhà quảng cáo thường đánh
mạnh vào những cảm xúc này, và cố gắng gợi chúng ta nghĩ về
những thứ quen thuộc để tạo ra sự liên kết và làm chúng ta
thấy an tâm hơn về một sản phẩm.4
Hiểu được bộ não bò sát là rất quan trọng, bởi vì đó là xuất
phát điểm của những “linh cảm” mà mọi người thường nhắc
đến. Mặc dù những bản năng này giúp chúng ta sống sót trong
những tình huống nguy hiểm, chúng cũng có thể làm chúng ta
nhầm tưởng rằng mình đang an toàn, trong khi thực chất đang
ở trong một tình huống không hề quen thuộc.
Ví dụ, nếu bạn đang ở nước ngoài với nền văn hóa khác biệt
và bạn không thể nói ngôn ngữ của họ, bộ não bò sát có thể
khiến bạn cảm thấy sợ hãi mặc dù bạn không cần phải sợ. Nó
có thể khiến bạn từ chối những ý tưởng không quen thuộc đơn
giản chỉ vì nó mới mẻ đối với bạn. Bộ não bò sát là nguồn gốc
của sự tiến hóa thành công của con người, nhưng nó cũng là
nguồn gốc của nhiều hành động xấu xí nhất của nhân loại. Đó
chính là lý do tại sao việc hiểu được khía cạnh này của cấu tạo
thần kinh lại quan trọng đến thế.
Hoạt động của bộ não bò sát cũng liên quan đến điều kiện
sống của chúng ta. Bạn có thể đã nghe về Tháp nhu cầu của
Maslow. Học thuyết này được phát triển bởi Abraham Maslow
và nó mô tả những nhu cầu cảm xúc của chúng ta dựa trên
những tình huống trong cuộc sống. Chúng ta có những nhu cầu
cơ bản như thức ăn và chỗ ở nhưng mọi người cũng cần thấy
an toàn và được yêu thương. Cuối cùng khi các nhu cầu cảm
xúc khác được đáp ứng, bạn sẽ hình thành lòng tự trọng, và
sau này là thứ gọi là nhu cầu tự thể hiện bản thân. Nhu cầu tự
thể hiện bản thân là giai đoạn khi chúng ta là phiên bản tốt
nhất của chính mình, khi chúng ta được tự do khám phá tiềm
năng của mình bởi vì chúng ta không có nhu cầu gì khác nữa.
Cấu trúc thần kinh của chúng ta phần nào đã mô phỏng lại hệ
thống tháp này, bởi những phần não có những nhu cầu cơ bản
đã nhấn chìm những phần có “ít nhu cầu” hơn. Phần vỏ não,
phần tiến hóa muộn nhất của não, quản lý nhu cầu tự thể hiện
bản thân này. Hệ thống của Maslow không hề bất biến; bạn có
thể ở trong vài thang nhu cầu cùng một lúc (ví dụ, bạn có thể
đói nhưng vẫn yêu và cảm thấy được yêu thương). Nó chỉ
phản ánh những thứ đang diễn ra trong đầu khi chúng ta cần
một thứ gì đó.5
Não bộ chúng ta được tạo ra để biết tránh những hình phạt và
tuyên dương những phần thưởng. Điều này phát triển để chúng
ta có thể học cách tránh những thứ gây hại tới mình - chúng ta
cảm thấy tồi tệ khi bị phạt, nhưng não sẽ tiết ra nhiều
dopamine khi chúng ta được trao thưởng. Dopamine là một
chất hóa học làm chúng ta cảm thấy vui vẻ; phát triển khả
năng chịu đựng nó cũng có thể dẫn tới những chứng nghiện.
Phản ứng tiến hóa này kích thích quá trình suy nghĩ của chúng
ta để có thể tránh bị phạt và cố gắng được thưởng, mặc dù đây
có thể không phải là quyết định chính xác.6
Những nhu cầu con người có những ảnh hưởng khác nhau lên
quá trình suy nghĩ của chúng ta. Chúng ta cảm thấy một nhu
cầu tâm lý sâu sắc đối với việc kiểm soát hành động và cuộc
sống của chính mình, điều này thường được biểu hiện qua
những sai sót phổ biến trong tư duy phản biện. Sự mê tín được
sinh ra khi từ chính nhu cầu kiểm soát của con người, bởi vì
nó tạo ra ảo tưởng rằng chúng ta kiểm soát được những thứ mà
chúng ta không thể kiểm soát. Mặc chiếc áo đội bóng yêu
thích hay đeo đá phong thủy sẽ không thực sự giúp đội của
bạn thắng hay làm cho ngày của bạn tươi đẹp hơn, nhưng
chúng làm cho bạn nghĩ rằng bạn có thể kiểm soát những thứ
này. Mê tín cũng đem lại cho thế giới ngẫu nhiên của chúng ta
một cảm giác về ý nghĩa và mục đích sống. Yếu tố mê tín cũng
ảnh hưởng tới những nhu cầu tâm lý sâu sắc của con người về
sự kết nối và ý nghĩa trong cuộc sống, yếu tố này cũng giải
phóng dopamine vào não khi chúng ta tin rằng chúng có tồn
tại. Để theo đuổi cảm xúc này, chúng ta thường rơi vào những
quá trình suy nghĩ bị làm sai lệch bởi thiên kiến xác nhận và
suy nghĩ viển vông.
Con người cũng khao khát có được những lời giải thích đơn
giản cho những vấn đề phức tạp bởi vì chúng giúp cho vấn đề
đỡ nặng nề và dễ kiểm soát hơn. Mặc dù đơn giản hóa vấn đề
có lẽ sẽ làm cho nó có vẻ dễ dàng hơn, nhưng thực chất nó lại
cản trở chúng ta có những đánh giá phê bình. Điều quan trọng
là bạn phải nhận ra và chia nhỏ sự phức tạp của vấn đề khi sử
dụng tư duy phản biện. Tuy nhiên cũng không nên quá đơn
giản hóa vấn đề vì sẽ dẫn đến sự cố chấp. Thực tế luôn phức
tạp hơn những điều não muốn chúng ta tin vào.
Con người chúng ta có một nhu cầu tâm lý sâu sắc cho ý nghĩa
của cuộc sống. Nó cho ta một mục đích, một lý do để tồn tại,
sinh sản và nhân giống. Mặc dù điều này rõ ràng là có lợi khi
nhìn từ góc độ tiến hóa, nhưng thực chất nó lại dẫn đến thiên
kiến xác nhận trong suy nghĩ của chúng ta. Chúng ta nói rằng
“mọi thứ xảy ra đều có lý do của nó”, và chúng ta cố áp đặt cái
logic đó vào những sự kiện ngẫu nhiên, thậm chí kể cả với
những việc vượt ngoài tầm kiểm soát. Thuyết âm mưu là một
ví dụ; mọi người chế ra những lời giải thích phi logic cho
những tai nạn như những vụ ám sát và tấn công khủng bố bởi
vì họ không thể chấp nhận suy nghĩ rằng một thứ tồi tệ như
vậy lại có thể là một sự kiện ngẫu nhiên. Họ bám vào những
suy nghĩ đó ngay cả khi chúng hoàn toàn phản logic.
Ngoài ra, chúng ta cũng có nhu cầu được tôn trọng bởi cộng
đồng, và cảm thấy tốt về bản thân. Chúng ta đã phát triển nhu
cầu này thông qua ước muốn được hòa nhập vào một nhóm và
được bảo vệ. Tuy nhiên, điều này cũng có thể gây ra những sai
sót trong tư duy phản biện. Mọi người thường tìm những lý do
khách quan khi mọi chuyện không được như ý thay vì tự kiểm
điểm bản thân, hoặc tự thuyết phục rằng họ không thể tránh
những sai lầm mà mình tự gây ra. Những cơ chế tự vệ này bảo
vệ chúng ta khỏi sự xấu hổ hay ngại ngùng, nhưng chúng cũng
làm lu mờ khả năng đánh giá rõ ràng và học tập từ lỗi sai của
chính mình. Bản năng muốn làm hài lòng người khác của
chúng ta cũng có nghĩa chúng ta sẽ cố tránh làm những thứ
khiến họ cảm thấy tức giận hay buồn bã, và chúng ta có thể tự
thuyết phục mình giữ vững quan điểm kể cả khi nó không hợp
lý.
Một nhược điểm logic thường thấy nữa là bất hòa nhận thức,
hay khi chúng ta có hai quan điểm khác nhau cùng một lúc.
Chúng ta thường không nhận ra điều này vì chúng ta có xu
hướng củng cố lòng tự trọng của bản thân, nhưng đây là một
trong những rào cản quan trọng nhất trong việc phát triển
những kỹ năng tư duy phản biện. Nếu bạn nhận ra rằng những
niềm tin của bạn có sự mâu thuẫn, đây là dấu hiệu cho thấy
bạn nên kiểm tra lại kiến thức của mình để tìm ra được thứ mà
bạn cần điều tra. Tuy nhiên để làm được việc này, bạn cần đặc
biệt cẩn thận để không hợp lý hóa những lỗi sai trong quá trình
tiếp nhận những tri thức này. Bản năng con người chính là một
vật cản lớn cho suy nghĩ lý trí!
Hãy nghĩ về đạo đức của bạn. Dù tin hay không, đây cũng là
một phần tiến hóa trong não bạn! Chúng ta, và những thành
viên trong vương quốc động vật, cần một quy tắc đạo đức để
những nhóm xã hội có thể hoạt động. Liệu bạn có mua một
ngôi nhà mà một tên giết người đã từng sở hữu không? Chắc
là không, phải không nào? Không có lời giải thích hợp lý,
chính đáng nào cho việc bạn không nên làm thế cả - phần lớn
mọi người sẽ nghĩ đến quả báo hay ma quỷ - nhưng bạn vẫn sẽ
cảm thấy căn nhà có vẻ u ám. Chúng ta phát triển phản ứng
này là có lý do. Đương nhiên bạn sẽ không muốn lại gần một
kẻ giết người, bạn đã tiến hóa để tránh xa mọi thứ có thể giết
chết bạn!
Sử dụng tư duy phản biện trong cuộc sống hằng ngày có thể
khó khăn hơn nhiều người nghĩ. Tôi chắc chắn sẽ không thể
thay đổi suy nghĩ của bạn về ngôi nhà của kẻ giết người với
những lập luận hợp lý. Thay đổi những mê tín cổ xưa, đức tin
và thói quen là rất khó! Tuy nhiên, áp lực ngang hàng có thể
giúp chúng ta. Chúng ta có xu hướng điều chỉnh hành vi cho
phù hợp với những người xung quanh bởi vì chúng ta muốn là
một phần của cộng đồng. Nên việc ở xung quanh những người
có tư duy phản biện sẽ giúp bạn bắt chước sở thích của họ!
Khi chúng ta nghĩ về “thông minh”, chúng ta thường nghĩ về
kỹ năng trí tuệ hay khối lượng kiến thức mà họ biết. Tuy
nhiên, như chúng ta đã biết, điều này không làm cho bạn trở
thành một người có quyết định hoàn hảo hay có tư duy phản
biện. Có một loại thông minh khác gọi là “trí tuệ xúc cảm”.
Đây là lúc bạn phải tự nhận thức được cảm xúc của mình, biết
được chúng là gì, và có thể điều khiển chúng để chúng có thể
giúp bạn giải quyết những vấn đề. Điều này có nghĩa là bạn có
thể điều chỉnh cảm xúc của mình một cách lành mạnh và cảm
thông với những người khác. Đến nay, những nhà tâm lý học
vẫn chưa đưa ra được một hệ thống đo lường trí tuệ cảm xúc
giống như cách đo trí tuệ thông thường. Điều này nghĩa là
nhiều chuyên gia vẫn đang hoài nghi, nhưng đây là một khái
niệm phổ biến trong giới kinh doanh, nơi mà những nhà tuyển
dụng đã quyết định tạo ra những bài “kiểm tra” với hy vọng
tìm được những nhân viên tốt hơn. Điều quan trọng cần ghi
nhớ là không hề có sự liên kết nào giữa sự thành công trong
công việc và trí tuệ xúc cảm. Tuy nhiên, nó có thể bù đắp cho
sự thiếu tương quan giữa trí tuệ thông thường và những kỹ
năng đưa ra quyết định.
Hãy nghĩ về những tác phẩm ảo ảnh quang học mà bạn đã thấy
trên mạng hoặc trong lớp mỹ thuật. Tại sao não có thể bị lừa
rằng một thứ trong bộ phim 3D thực sự sẽ va vào bạn, hay một
bức tranh vòng xoáy đang chuyển động trong khi nó đứng
yên? Câu trả lời là bộ não chỉ có thể xử lý một lượng thông tin
tiếp nhận nhất định. Ảo ảnh quang học lợi dụng những bất
thường trong quá trình hoạt động của não để đưa vào thông tin
mâu thuẫn với thực tế. Những ảo thuật gia và những nhà tâm
thần khai thác khía cạnh tương tự của cấu trúc não bộ; họ có
thể lừa chúng ta bởi họ biết những mánh có thể lừa bộ não của
chúng ta. Não bộ chúng ta cũng có thể tạo ra một nhận thức
mới mà không bao gồm những dữ liệu não nhận được. Ví dụ,
trong hiện tượng được biết đến như là hiệu ứng McGurk, khi
một tiếng động được ghi đè lên hình ảnh chuyển động môi của
một người đang tạo ra tiếng động khác, chúng ta thực sự sẽ
nghe ra một tiếng động thứ ba, đặc biệt khi chất lượng âm
thanh tệ. Điều này là do não chúng ta đang cố tổng hợp thông
tin mâu thuẫn từ các giác quan.7
Tất cả những hiện tượng kể trên là ví dụ cho thấy thông tin
cảm giác dễ bị đánh lừa ra sao. Não của chúng ta lọc và giải
thích tất cả những dữ liệu mà các giác quan cung cấp, theo
những cách không thực sự chính xác. Hãy nghĩ trong một ngày
bạn đã nghe nhầm bao nhiêu người mà xem! Mắt của bạn cũng
có thể bị lừa; trong một nghiên cứu được gọi là bài kiểm tra về
“con tinh tinh vô hình”, những nhà nghiên cứu phát hiện ra khi
mọi người được yêu cầu tập trung vào hình ảnh một người
đang nảy bóng trong một video, họ hoàn toàn bỏ qua hình ảnh
một người mặc bộ đồ tinh tinh đang đi qua trong khung hình.
Thậm chí kể cả khi họ được bảo về con tinh tinh và nói rằng
hình ảnh đó quá rõ và không đời nào họ có thể bỏ lỡ, thì sự
thật là họ thực sự đã bỏ lỡ! Điều này cho thấy khi bạn quá tập
trung vào một thông tin nà...
 





