GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
Tam Ly Dam Dong Va Phan Tich Cai Toi - Sigmund Freud

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:33' 09-03-2024
Dung lượng: 569.4 KB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:33' 09-03-2024
Dung lượng: 569.4 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG VÀ PHÂN TÍCH
CÁI TÔI
TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG VÀ PHÂN TÍCH
CÁI TÔI
Sigmund Freud
Phạm Minh Ngọc dịch
1. LỜI NÓI ĐẦU
Mới nhìn thì sự đối lập giữa tâm lí cá nhân và tâm
lí xã hội (hay tâm lí đám đông) có vẻ như sâu sắc,
nhưng xét cho kĩ thì tính cách đối lập sẽ bớt đi nhiều.
Tuy khoa tâm lí cá nhân đặt căn bản trên việc quan sát
các cá nhân riêng lẻ, nó nghiên cứu các phương thức
mà cá nhân theo nhằm đáp ứng các dục vọng của mình;
nhưng thực ra chỉ trong những trường hợp hãn hữu,
trong những điều kiện đặc biệt nào đó nó mới có thể bỏ
qua được quan hệ của cá nhân với tha nhân. Trong tâm
trí của cá nhân thì một cá nhân khác luôn luôn hoặc là
thần tượng, hoặc là một đối tượng, một người hỗ trợ
hay kẻ thù và vì vậy mà ngay từ khởi thủy khoa tâm lí cá
nhân đã đồng thời là khoa tâm lí xã hội theo nghĩa thông
dụng nhưng rất đúng này.
Thái độ của cá nhân đối với cha mẹ, anh chị em,
người yêu, thày thuốc nghĩa là tất cả các mối liên hệ của
cá nhân mà cho đến nay đã là các đối tượng nghiên cứu
chủ yếu của môn phân tâm học có thể được coi là
những hiện tượng xã hội đối lập với một vài tiến trình
khác mà chúng tôi gọi là ngã ái (narcissistic) trong đó
việc đáp ứng các dục vọng không dựa vào tha nhân
hoặc tránh tha nhân. Như vậy, sự đối lập giữa hoạt động
của tâm thần xã hội và tâm thần ngã ái – Bleuer có lẽ sẽ
nói là tâm thần tự kỉ (autistic) - là thuộc lĩnh vực của
khoa tâm lí cá nhân và không thể là lí do để tách tâm lí
cá nhân khỏi tâm lí xã hội hay tâm lí đám đông.
Trong các mối quan hệ nêu trên của cá nhân đối
với cha mẹ, anh chị em, người yêu, thày thuốc, cá nhân
chỉ chịu ảnh hưởng của một người hay của một nhóm
người hạn chế, mỗi người trong số họ đều có tầm quan
trọng đặc biệt đối với cá nhân đó. Khi nói đến tâm lí xã
hội hay tâm lí đám đông người ta thường không để ý
đến các mối liên hệ đó, mà người ta coi đối tượng
nghiên cứu là ảnh hưởng đồng thời của một số lớn tha
nhân đối với một cá nhân mà anh ta có quan hệ ở một
phương diện nào đó trong khi trong những phương diện
khác anh ta có thể hoàn toàn xa lạ với họ. Như vậy
nghĩa là môn tâm lí đám đông nghiên cứu từng cá nhân
riêng biệt khi họ là thành viên của một bộ lạc, của dân
tộc, đẳng cấp, thể chế xã hội nhất định hay như một
nhân tố cấu thành của một đám đông tụ tập lại vì một
mục đích nào đó, trong một thời gian nào đó. Sau khi
mối liên hệ tự nhiên đó chấm dứt, người ta có thể coi
những hiện tượng xảy ra trong những điều kiện đặc biệt
đó là biểu hiện của một dục vọng đặc biệt, dục vọng xã
hội (herd instinc t- bản năng bầy đàn, group mind - tâm
lý nhóm), không thể phân tích được và không xuất hiện
trong những điều kiện khác. Nhưng chúng tôi phải bác
bỏ quan điểm ấy vì không thể coi số lượng người có mặt
lại có ảnh hưởng lớn đến nỗi cá nhân có thể đánh thức
dậy một dục vọng mới, cho đến lúc đó vẫn còn ngủ yên,
chưa từng hoạt động. Chúng ta hãy chú ý đến hai khả
năng khác sau đây: dục vọng tập thể có thể không phải
là nguyên thuỷ và có thể phân tích được; có thể tìm thấy
nguồn gốc của dục vọng ấy trong khung cảnh nhỏ hẹp
hơn, thí dụ như trong gia đình.
Khoa tâm lí đám đông tuy mới ra đời nhưng đã bao
gồm rất nhiều vấn đề riêng biệt và đặt ra cho nhà nghiên
cứu hàng loạt bài toán cho đến nay vẫn còn chưa được
tách biệt. Chỉ một việc phân loại các hình thức quần
chúng khác nhau, và mô tả các hiện tượng tâm thần mà
các khối quần chúng ấy thể hiện đã đòi hỏi một quá trình
quan sát lâu dài và ghi chép tỉ mỉ rồi; đã có nhiều tài liệu
về vấn đề này được xuất bản. Lãnh vực tâm lí đám đông
thật là mênh mông, tôi thiết tưởng chẳng cần nói trước
rằng tác phẩm khiêm tốn của tôi chỉ đề cập đến một vài
lĩnh vực mà thôi. Quả thực ở đây chỉ xem xét một số vấn
đề mà phân tâm học miền sâu quan tâm.
2. TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG
(Theo Gustave Le Bon)
Thay vì đưa ra một định nghĩa về tâm lí đám đông,
theo tôi tốt hơn hết là nên chỉ rõ các biểu hiện của nó và
từ đó rút ra những sự kiện chung nhất và lạ lùng nhất để
có thể bắt đầu công cuộc khảo cứu về sau. Cả hai mục
tiêu ấy có thể thực hiện một cách tốt đẹp nhất bằng cách
dựa vào cuốn sách nổi tiếng một cách xứng đáng của
Gustave Le Bon: Tâm lí đám đông (Psychologie des
foules).
Chúng ta hãy trở lại thực chất vấn đề một lần nữa:
giả dụ môn tâm lí học, mà đối tượng nghiên cứu của nó
là các xu hướng, dục vọng, động cơ, ý định của cá nhân
cho đến các hành vi và thái độ của người đó với những
người thân, đã giải quyết được toàn bộ vấn đề và tìm ra
được toàn bộ các mối quan hệ thì nó sẽ cảm thấy rất bất
ngờ khi đối diện với một vấn đề chưa hề được giải
quyết: nó phải lí giải một sự kiện lạ lùng là cái cá nhân
mà nó tưởng là đã hiểu rõ thì trong những điều kiện nhất
định bỗng cảm, suy nghĩ và hành động khác hẳn với
những gì đã được dự đoán; điều kiện đó là sự hội nhập
vào đám đông có tính cách một “đám đông tâm lí”. Đám
đông là gì, làm sao mà đám đông lại có ảnh to lớn như
vậy đối với đời sống tinh thần của một cá nhân, đám
đông làm biến đổi tâm hồn của cá nhân là biến đổi
những gì?
Trả lời ba câu hỏi trên là nhiệm vụ của môn tâm lí lí
thuyết. Tốt nhất là nên bắt đầu từ câu hỏi thứ ba. Quan
sát phản ứng đã bị biến đổi của cá nhân cung cấp cho ta
tài liệu để nghiên cứu tâm lí đám đông, muốn giải thích
điều gì thì phải mô tả điều ấy trước đã.
Vậy thì tôi xin nhường lời cho ông Gustave Le Bon.
Ông viết: (trang 165) “Sự kiện lạ lùng nhất quan sát
được trong một đám đông tâm lí (Psychologische
Masse) là như sau: dù các cá nhân có là ai đi chăng
nữa, dù cách sống của họ, công việc của họ, tính cách
hay trí tuệ của họ có thế nào đi chăng nữa, chỉ một việc
tham gia của họ vào đám đông đã đủ để tạo ra một dạng
linh hồn tập thể, buộc họ cảm, suy nghĩ và hành động
khác hẳn lúc họ đứng riêng một mình. Một số tư tưởng
và tình cảm chỉ xuất hiện và biến thành hành động khi
người ta tụ tập thành đám đông. Đám đông tâm lí là một
cơ thể lâm thời, được tạo ra từ những thành phần khác
nhau, nhất thời gắn kết với nhau giống như các tế bào
trong thành phần một cơ thể sống và bằng cách liên kết
đó tạo ra một thực thể mới có những tính chất hoàn toàn
khác với tính chất của các tế bào riêng lẻ.”
Chúng ta hãy tạm ngưng trích dẫn để bình luận và
đưa ra nhận xét như sau: nếu các cá nhân ở trong đám
đông đã liên kết thành một khối thống nhất thì nhất định
phải có một cái gì đó liên kết họ lại với nhau và có thể
cái mắt xích liên kết đó chính là đặc trưng của đám
đông. Nhưng Le Bon không trả lời câu hỏi đó; ông chỉ
nghiên cứu sự thay đổi của cá nhân trong đám đông và
mô tả một cách rất phù hợp với các luận điểm cơ bản
của môn tâm lí học miền sâu của chúng tôi.
“Người ta dễ dàng nhận thấy cá nhân tham dự vào
đám đông khác hẳn cá nhân đơn độc, nhưng tìm ra
nguyên nhân của sự khác biệt ấy không phải là dễ. Để
có thể hiểu được những nguyên nhân đó chúng ta phải
nhắc lại một trong những quan điểm của khoa tâm lí học
hiện đại, mà cụ thể là: những hiện tượng vô thức đóng
một vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt đông của cơ
thể mà cả trong các chức năng trí tuệ nữa. Hoạt động
hữu thức của trí tuệ chỉ là một phần nhỏ bé so với hoạt
động vô thức của nó. Người phân tích tế nhị nhất, người
quan sát thấu đáo nhất cũng chỉ có thể nhận ra một
phần rất nhỏ các động cơ vô thức mà anh ta phục tùng
mà thôi. Những hành động hữu thức của chúng ta xuất
phát từ nền tảng vô thức, được tạo lập bởi ảnh hưởng di
truyền. Nền tảng vô thức đó chứa đựng hằng hà sa số
các dấu tích di truyền tạo nên chính linh hồn của nòi
giống. Ngoài những nguyên nhân điều khiển hành vi của
chúng ta mà chúng ta công nhận công khai còn có
những nguyên nhân bí mật mà ta không công nhận,
nhưng đằng sau những nguyên nhân bí mật ấy còn có
những nguyên nhân bí mật hơn vì chính chúng ta cũng
không biết đến sự hiện hữu của chúng. Phần lớn những
hành động hàng ngày của chúng ta được điều khiển bởi
những động cơ bí ẩn ngoài tầm quan sát của chúng ta”
(trang 166).
Le Bon cho rằng trong đám đông, sở đắc của từng
cá nhân bị xoá nhoà đi và vì vậy cá tính của từng người
cũng biến mất theo. Cái vô thức của nòi giống vượt lên
hàng đầu, cái dị biệt chìm trong cái tương đồng. Chúng
ta có thể nói: thượng tầng kiến trúc tâm lí phát triển một
cách hoàn toàn khác nhau ở những cá thể khác nhau đã
bị phá hủy và nhân đó cái nền tảng vô thức đồng đều ở
tất cả mọi người mới biểu hiện ra.
Như vậy nghĩa là con người của đám đông là con
người có đặc trưng trung bình. Nhưng Le Bon còn nhận
thấy con người trong đám đông còn có những phẩm
chất khác mà trước đây họ không có và ông cắt nghĩa
sự xuất hiện của những đặc tính đó bằng ba yếu tố sau
đây (trang 168): “Nguyên nhân thứ nhất là cá nhân, nhờ
có đông người, thấy mình có một sức mạnh vô địch và
nhận thức đó cho phép anh ta ngả theo một số bản
năng, mà khi có một mình anh ta phải kiềm chế. Người
ta giảm hẳn xu hướng chế ngự bản năng còn vì đám
đông là vô danh và vì vậy chẳng phải chịu trách nhiệm gì
hết. Trong đám đông ý thức trách nhiệm, vốn luôn luôn
là cái cơ chế kìm hãm các cá nhân riêng lẻ, đã biến mất
hoàn toàn”.
Theo quan niệm của mình, chúng tôi không chú
trọng nhiều đến việc xuất hiện những phẩm chất mới.
Chúng tôi chỉ cần nói rằng con người trong đám đông là
đã nằm trong những điều kiện cho phép anh ta loại bỏ
mọi đè nén các dục vọng vô thức của mình. Những
phẩm chất có vẻ mới mà cá nhân thể hiện thực ra chỉ là
biểu hiện của cái vô thức là cái chứa đựng toàn bộ
những điều xấu xa của tâm hồn con người; trong những
điều kiện như vậy thì việc đánh mất lương tri hay ý thức
trách nhiệm là điều dễ hiểu. Chúng tôi đã khẳng định từ
lâu rằng cốt lõi của cái gọi là lương tâm chính là “nỗi sợ
hãi do xã hội ấn định”
Sự khác biệt giữa quan niệm của Le Bon và quan
niệm của chúng tôi là do quan điểm của ông về vô thức
không hoàn toàn phù hợp với quan điểm được thừa
nhận trong phân tâm học. Vô thức của Le Bon bao gồm
trước hết những nét đặc thù sâu kín của linh hồn nòi
giống vốn nằm ngoài khảo cứu của phân tâm học. Thực
ra chúng tôi công nhận rằng hạt nhân của cái “Tôi” gồm
chứa cả “cái di truyền từ xa xưa” của linh hồn nhân loại
một cách vô thức; ngoài ra chúng tôi còn phân biệt “vô
thức bị dồn nén” như là kết quả của một phần của sự di
truyền đó. Le Bon không có khái niệm này.
“Nguyên nhân thứ hai - sự lây nhiễm, góp phần tạo
ra và quyết định xu hướng của những tính cách đặc biệt
trong đám đông. Lây nhiễm là hiện tượng dễ nhận ra
nhưng khó giải thích; phải coi như thuộc về lĩnh vực các
hiện tượng thôi miên mà chúng ta sẽ nghiên cứu sau.
Trong đám đông mọi tình cảm, mọi hành động đều có
tính hay lây, hay lây đến độ cá nhân sẵn sàng hi sinh
quyền lợi của mình cho quyền lợi tập thể. Tuy nhiên
hành vi đó là trái với bản chất của con người và vì vậy
người ta chỉ hành động như vậy khi họ là một phần tử
của đám đông” (trang 168). Câu này là cơ sở của một
giả thuyết quan trọng trong tương lai.
“Nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân quan trọng
nhất, làm xuất hiện những phẩm chất đặc biệt đó ở các
cá thể giữa đám đông, những phẩm chất mà cá thể
không có khi đứng một mình, đấy là khả năng dễ bị ám
thị; sự lây nhiễm mà chúng ta vừa nói chỉ là kết quả của
khả năng bị ám thị này. Để hiểu được hiện tượng đó cần
phải nhắc lại một số phát minh mới nhất của môn sinh lí
học. Giờ đây chúng ta đã biết rằng bằng những phương
pháp khác nhau có thể đưa một người vào trạng thái mà
cá tính hữu thức của anh ta biến mất và anh ta tuân theo
mọi ám thị của ông thày thôi miên, theo lệnh ông thày
làm những hành động thường khi trái ngược hẳn với
tính tình và thói quen của anh ta. Quan sát cũng chỉ ra
rằng khi cá nhân nằm trong đám đông náo động một
thời gian - do ảnh hưởng của xung lực của đám đông
hay do những nguyên nhân nào khác chưa rõ - cá nhân
đó sẽ rơi vào trạng thái giống như trạng thái của người
bị thôi miên… Cá tính hữu thức cũng như ý chí và lí trí
của người bị thôi miên hoàn toàn biến mất; tình cảm và
tư tưởng của anh ta hoàn toàn lệ thuộc vào ý chí của
ông thày thôi miên. Tình trạng của một người như là
phần tử tạo thành đám đông tâm lí cũng tương tự như
vậy. Anh ta không còn ý thức được hành vi của mình
nữa, giống như người bị thôi miên, một số năng lực của
anh ta biến mất, trong khi đó một số khác lại bị kích
động đến tột độ. Một người bị thôi miên có thể thực hiện
một vài hành động với sự phấn khích không gì ngăn cản
được; trong đám đông thì sự phấn khích này còn mãnh
liệt hơn vì ảnh hưởng của ám thị với mỗi người là giống
nhau, họ hỗ tương ám thị nhau thành thử làm bội tăng
mức độ ám thị (trang 169). “Như vậy là sự biến mất của
cá tính hữu thức, vô thức đóng vai trò chủ đạo, tình cảm
và tư tưởng do bị ám thị mà hướng về một phía và ước
muốn biến ngay những tư tưởng do ám thị mà có thành
hành động là những đặc trưng chủ yếu của cá nhân
trong đám đông. Anh ta đã không còn là mình nữa, anh
ta đã thành một người máy, không ý chí” (trang 170).
Tôi trích dẫn hết đoạn này để khẳng định rằng
Gustave Le Bon thực sự coi một người trong đám đông
là nằm trong tình trạng bị thôi miên chứ không phải là so
sánh với người một người như vậy. Chúng tôi không
thấy có gì mâu thuẫn ở đây cả, chúng tôi chỉ muốn nhấn
mạnh rằng hai nguyên nhân sau của sự thay đổi của cá
nhân trong đám đông, khả năng bị lây nhiễm và khả
năng bị thôi miên, chắc chắn là không có giá trị như
nhau bởi vì khả năng bị lây nhiễm cũng là biểu hiện của
khả năng bị thôi miên. Hình như Le Bon cũng không
phân biệt rõ ảnh hưởng của hai nguyên nhân ấy. Có thể
chúng ta sẽ giải thích ý kiến của ông một cách rõ ràng
hơn nếu chúng ta coi khả năng bị lây nhiễm là ảnh
hưởng qua lại của các thành viên trong đám đông với
nhau trong khi các biểu hiện ám thị, liên quan đến hiện
tượng thôi miên lại có nguồn gốc khác. Nguồn gốc nào?
Chúng tôi cảm thấy ở đây có sự thiếu sót vì một trong
những thành phần chính của tác động, mà cụ thể là:
người đóng vai trò ông thày thôi miên quần chúng đã
không được Le Bon nhắc tới trong tác phẩm của mình.
Tuy nhiên ông đã phân biệt được cái ảnh hưởng ghê
gớm còn chưa rõ là gì đó với tác động của lây nhiễm do
người nọ truyền cho người kia và vì vậy mà tác động ám
thị khởi thủy được tăng cường hơn lên.
Le Bon còn đưa ra một luận điểm quan trọng để
đánh giá về cá nhân tham gia vào đám đông. “Như vậy
là khi tham gia vào đám đông có tổ chức mỗi người đã
tụt xuống một vài nấc thang của nền văn minh. Khi đứng
một mình có thể anh ta là người có văn hóa, nhưng
trong đám đông anh ta là một gã mọi rợ, nghĩa là một
sinh vật hành động theo bản năng. Anh ta có xu hướng
dễ bộc phát, hung hãn, độc ác nhưng cũng dễ có những
hành động hăng hái, anh hùng như những người tiền
sử. Do tham gia vào đám đông mà người ta trở nên kém
cỏi hẳn trong hoạt động trí tuệ.
Bây giờ chúng ta hãy để cá nhân sang một bên và
quay lại với mô tả tâm hồn tập thể do Le Bon phác hoạ.
Trong lĩnh vực này thì một nhà phân tâm học dễ dàng
tìm ra ra nguồn gốc và xếp loại tất cả các nét đặc thù.
Chính Le Bon đã chỉ cho ta đường lối khi ông nêu rõ sự
tương đồng giữa đời sống tinh thần của người tiền sử
và trẻ em. “Đám đông bồng bột, bất định và dễ kích
động. Lĩnh vực vô thức gần như hoàn toàn kiểm soát
đám đông. Đám đông tuân theo những kích động, tùy
theo hoàn cảnh, cao cả hay độc ác, hào hùng hay hèn
nhát, nhưng trong mọi trường hợp những kích động ấy
cũng mạnh mẽ đến nỗi chúng luôn chiến thắng cá nhân,
chiến thắng ngay cả bản năng tự bảo tồn” (trang 176).
“Đám đông không làm gì có chủ đích cả. Ngay cả khi
đám đông rất muốn một điều gì đó thì ước muốn đó
cũng không tồn tại lâu, đám đông không có tính kiên trì.
Đám đông không chấp nhận hoãn thực hiện ngay ước
muốn của mình. Đám đông có cảm giác mình có sức
mạnh vô biên, đối với cá nhân tham gia vào đám đông
thì khái niệm “bất khả” là không tồn tại. Đám đông rất dễ
bị thôi miên, cả tin, và không có khả năng tự phê phán,
đối với đám đông thì không có việc gì là không thực hiện
được. Đám đông suy nghĩ bằng hình ảnh, hình nọ tạo ra
hình kia, giống như khi một người để cho trí tưởng
tượng tự do hoạt động vậy. Những hình ảnh đó không
thể nào dùng trí tuệ để so sánh với hiện thực được. Tình
cảm của đám đông bao giờ cũng đơn giản và phấn
khích mạnh. Như vậy là đám đông không hề biết đến
nghi ngờ và dao động” (trang 193).
Trong việc giải thích giấc mơ nhờ đó chúng ta biết
rất nhiều về họat động của vô thức chúng tôi đã theo kĩ
thuật sau đây: chúng tôi không quan tâm đến những mối
nghi ngờ, thiếu tự tin trong khi kể lại giấc mơ và coi tất
cả các yếu tố của giấc mơ bộc lộ đều là yếu tố chắc
chắn. Chúng tôi coi sự nghi ngờ, thiếu tự tin là do họat
động của kiểm duyệt và giả định rằng những ý nghĩ khởi
thủy của giấc mơ thì chưa có nghi ngờ nghĩa là một hình
thức phê phán. Dĩ nhiên nghi ngờ và thiếu tự tin cũng
như mọi thứ khác có thể là vết tích từ lúc thức và khơi
động giấc mơ xuất hiện (xem Giải thích giấc mơ
[Traumdeutung] - bản tiếng Nga, in lần thứ 5, 1919,
trang 386).
“Đám đông tiến ngay đến chỗ cực đoan nhất, một
điều mơ hồ vừa được nói ra lập tức trở thành hiển
nhiên, một chút ác cảm mới nhen nhúm bùng ngay
thành lòng căm thù hung bạo (trang 186). Khuynh
hướng phóng đại, qúa trớn như thế cũng đặc trưng cho
những kích động của trẻ con, khuynh hướng đó lặp lại
trong giấc mơ. Trong mơ, do sự cách li của các kích
động tình cảm trong vô thức mà một chút bực dọc lúc
ban ngày có thể trở thành ước muốn sát hại kẻ có lỗi,
còn một ý nghĩ tội lỗi thoáng qua có thể trở thành
nguyên cớ một hành động tội lỗi được thể hiện trong
giấc mơ. Bác sĩ Hans Sachs có nhận xét rất hay: “Chúng
ta sẽ tìm thấy trong ý thức những điều giấc mơ thông
báo cho ta về quan hệ của ta với thực tại, cũng như ta
chẳng nên ngạc nhiên nếu dưới kính hiển vi con sinh vật
đơn bào đã biến thành một quái vật”. (xem Giải thích
giấc mơ [Traumdeutung] bản tiếng Nga, in lần thứ 5,
1919).
Đám đông vốn có xu hướng cực đoan nên chỉ
những kích động phóng đại mới gây cho nó phấn khích
mà thôi. Kẻ muốn có ảnh hưởng với đám đông chẳng
cần lí lẽ đúng, hắn chỉ cần tạo ra những bức tranh thật
rực rỡ, phóng đại và lặp đi lặp lại một chuyện là đủ. “Vì
đám đông không nghi ngờ vào tính đúng đắn hay sai
lầm của lí lẽ của nó trong lúc hiểu rõ sức mạnh của mình
cho nên nó vừa thiếu khoan dung vừa sùng tín đối với
thủ lĩnh. Đám đông tôn thờ sức mạnh, việc thiện đối với
nó chỉ là biểu hiện của sự yếu đuối. Đám đông đòi hỏi
các anh hùng của nó phải có sức mạnh và uy lực. Đám
đông muốn bị thống trị, muốn bị đè nén. Nó muốn sợ kẻ
thống trị. Đám đông rất bảo thủ, nó khinh bỉ mọi điều
mới mẻ và tiến bộ, nó sùng kính tuyệt đối truyền thống
(trang 189).
Để có thể đánh giá đúng về tư cách của đám đông
ta phải chú ý đến sự kiện sau: trong đám đông các cơ
chế ngăn chặn của từng người biến mất trong khi tất cả
những bản năng dữ tợn, tàn bạo, phá hoại, vết tích của
thời tiền sử vẫn mơ màng trong người ta bỗng bừng tỉnh
và đòi được tự do thoả mãn dục vọng của mình. Nhưng
dưới ảnh hưởng của ám thị đám đông cũng có thể có
những hành vi cao thượng: vị tha, tận tụy với lí tưởng,
bất vụ lợi. Lợi lộc gần như là cái lò xo duy nhất thúc đẩy
cá nhân thì đối với đám đông ít khi nó là động cơ số
một. Người ta có thể nói về tác động giáo hóa của đám
đông đối với cá nhân (trang 192). Trong khi trí tuệ của
đám đông bao giờ cũng thấp hơn trí tuệ của một cá
nhân thì về phương diện đạo đức nó có thể: hoặc là cao
hơn rất nhiều hoặc là thua xa một cá nhân riêng lẻ.
Một số nét đặc trưng khác được Le Bon mô tả
cũng cho thấy sự đúng đắn của việc đồng nhất tâm hồn
đám đông với tâm hồn của người tiền sử. Trong đám
đông có thể có những ý tưởng hoàn toàn trái ngược
nhau cùng tồn tại mà không hề tạo ra xung đột vì mâu
thuẫn. Phân tâm học đã chứng minh có những trường
hợp như thế trong vô thức của một số người, của trẻ em
và của người suy nhược thần kinh. Thí dụ ở trẻ em có
thể tồn tại trong một thời gian dài những tình cảm trái
ngược nhau đối với người thân cận nhất mà không hề
gây bất kì trở ngại nào. Nếu cuối cùng mà có xảy ra
xung đột giữa các khía cạnh tình cảm trái ngược nhau
đó thì xung đột sẽ được giải quyết bằng cách đổi đối
tượng, đứa trẻ sẽ chuyển một trong hai tình cảm mâu
thuẫn đó sang một người khác. Nghiên cứu lịch sử phát
triển bệnh thần kinh ở người lớn, thường khi ta cũng
thấy rằng một tình cảm bị đè nén có thể tồn tại rất lâu
trong những tưởng tượng vô thức và ngay cả hữu thức,
mà nội dung của nó dĩ nhiên là ngược với xu hứơng chủ
đạo, nhưng dù có mâu thuẫn như vậy vẫn không xuất
hiện cái “Tôi” phản kháng, chống lại cái mà nó bác bỏ.
Trí tưởng tượng được dung thứ trong một thời gian dài
cho đến khi, do sự tăng cao quá mức của tình trạng kích
động một cách bất thình lình mà xảy ra xung đột với cái
“Tôi”, với tất cả những hậu quả kèm theo. Khi đứa trẻ
phát triển thành người lớn cá tính của nó trở nên ngày
càng thống nhất, thành sự hợp nhất các dục vọng và
ước nguyện, đã từng phát triển độc lập với nhau. Chúng
ta cũng đã biết một qúa trình tương tự như vậy trong đời
sống tình dục dưới dạng hợp nhất các xu hướng dục
tính thành cái mà chúng ta gọi là tổ chức tính dục Nhiều
thí dụ mà chúng tôi biết lại chứng tỏ rằng sự hợp nhất
của cái “Tôi” cũng như sự hợp nhất của tính dục (libido)
có thể gặp thất bại: thí dụ như các nhà tự nhiên học tiếp
tục tôn sùng kinh thánh v.v…
Ngoài ra, đám đông còn bị mê hoặc bởi ma lực của
ngôn từ, ngôn từ có thể tạo ra trong lòng đám đông
những cơn bão kinh hoàng cũng như có thể trấn an
được nó. “Lí lẽ và sự thuyết phục không thể nào chống
lại được một số từ ngữ, một vài công thức có sẵn. Chỉ
cần nói những từ đó hay những công thức đó trước đám
đông với một thái độ sùng tín thì lập tức người ta sẽ cúi
đầu và nét mặt sẽ đầy thành kính” (trang 235). Ta hãy
nghĩ đến các huý kị của người tiền sử và sức mạnh ma
thuật mà họ gắn cho danh từ và tên gọi . Sau hết: đám
đông không bao giờ khao khát chân lý. Họ đòi hỏi ảo
tưởng mà họ không thể nào thoát ra được. Đối với đám
đông cái phi thực lại ưu việt hơn cái thực, cái không hiện
hữu cũng có ảnh hưởng mạnh như cái hiện hữu. Đám
đông có xu hướng không phân biệt giữa có và không
(trang 203).
Chúng tôi đã chứng minh rằng óc tưởng tượng và
ảo tưởng quá mức do ham muốn không được thoả mãn
là bước khởi đầu quyết định tạo ra các chứng suy
nhược thần kinh. Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng đối
với người bị suy nhược thần kinh thì cái có giá trị không
phải là hiện thực khách quan bình thường, mà chính là
hiện thực do tâm lí của họ tạo ra. Triệu chứng loạn thần
kinh phát sinh chỉ do tưởng tượng chứ không tái tạo một
cảm xúc có thật; một cảm tưởng tội lỗi ám ảnh một
người nào đó thực ra chỉ căn cứ trên cơ sở một dự định
độc ác mà chưa bao giờ được thực hiện. Cũng như
trong giấc mơ và thôi miên, trong tâm lí đám đông
nguyên tắc thực tiễn bị sức mạnh của các ước muốn
phấn khích đẩy xuống hàng thứ yếu.
Những điều mà Le Bon nói về lãnh tụ của đám
đông không được đầy đủ lắm, không cho phép ta tìm ra
qui luật nhất định nào. Ông giả định rằng ngay khi các
con vật tụ tập lại, không kể đấy là đàn gia súc hay một
nhóm người, thì chúng đều theo bản năng mà phục tùng
uy lực của lãnh tụ. Đám đông là một bầy đàn dễ sai
khiến và không thể sống thiếu chúa tể. Đám đông khao
khát phục tòng đến nỗi nó sẽ theo bản năng mà tuân
phục ngay kẻ nào tuyên bố là chúa tể của nó. Nếu đám
đông cần một lãnh tụ thì lãnh tụ cũng phải có một số
phẩm chất cá nhân phù hợp. Chính hắn phải tin tưởng
một cách cuồng nhiệt (vào một lí tưởng) để có thể đánh
thức niềm tin ấy trong quần chúng; hắn phải có một ý chí
đáng khâm phục để có thể truyền ý chí này cho đám
đông nhu nhược (trang 247).
Tiếp theo Le Bon thảo luận những kiểu lãnh tụ
khác nhau và những thủ thuật mà các lãnh tụ dùng để
gây ảnh hưởng với quần chúng. Nói chung thì Le Bon
cho rằng các lãnh tụ gây ảnh hưởng bằng các lí tưởng
mà chính các lãnh tụ cũng tin một cách cuồng nhiệt. Le
Bon gán cho các lí tưởng này cũng như cho các lãnh tụ
một sức mạnh vô địch và bí hiểm mà ông gọi là “uy tín”.
Uy tín là một dạng thống trị của một cá nhân, một tác
phẩm hay một lí tưởng đối với chúng ta. Sự thống trị này
làm tê liệt tất cả những khả năng phê phán của cá nhân
và làm cho cá nhân chỉ còn biết ngạc nhiên và kính
phục. Sự thống trị đó có thể tạo ra những tình cảm giống
như khi bị thôi miên (trang 259). Ông còn chia ra uy tín
tự giành được hay uy tín giả tạo và uy tín cá nhân. Uy
tín giành được do tên tuổi, tài sản, tiếng tăm; uy tín của
dư luận, của tác phẩm nghệ thuật tạo ra bằng con
đường truyền thống. Trong mọi trường hợp uy tín đều có
gốc gác từ trong quá khứ nên nó không cho ta nhiều tư
liệu để có thể nghiên cứu ảnh hưởng bí hiểm này. Chỉ
một ít người có uy tín cá nhân mà nhờ thế họ trở thành
lãnh tụ; mọi người khuất phục họ như có ma thuật vậy.
Nhưng uy tín phụ thuộc vào thành công và có thể biến
mất nếu thất bại (trang 268). Chúng tôi có cảm tưởng
rằng Le Bon chưa đưa được vai trò của lãnh tụ và ảnh
hưởng của uy tín vào một mối liên hệ đúng đắn với điều
được ông mô tả tuyệt vời là tâm lí đám đông.
3. NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC VỀ TÂM LÍ ĐÁM
ĐÔNG
Chúng tôi dùng cuốn sách của Le Bon làm phần đề
dẫn vì ông nhấn mạnh đến vai trò của hoạt động vô thức
trùng hợp với quan niệm về tâm lí của chính chúng tôi.
Tuy nhiên chúng tôi phải nói rằng không có luận điểm
nào của ông là mới mẻ cả. Tất cả những biểu hiện vô
trách nhiệm và nhục nhã của tâm lí đám đông mà ông
nói tới cũng đã được các tác giả khác trước ông nói với
cùng một mức xác quyết và thù địch như vậy; tất cả
những điều đó đã được các nhà văn, nhà thơ, các nhà
tư tưởng, các chính trị gia từ thời cổ đại nói đến nhiều
lần. Hai luận điểm quan trọng nhất của Le Bon là luận
điểm về sự ức chế tập thể trong hoạt động trí tuệ và
phóng đại cảm xúc của đám đông cũng đã được Sighele
đưa ra gần đây. Cái đặc sắc của Le Bon chỉ còn là hai ý
kiến về vô thức và so sánh với đời sống tinh thần của
người tiền sử. Tuy nhiên hai điểm này cũng đã được nói
đến trước ông rồi.
Hơn thế nữa: việc mô tả và đánh giá tâm lí đám
đông như ta thấy trong tác phẩm của Le Bon và của
những người khác không phải là hoàn toàn vững chắc.
Không nghi ngờ gì rằng tất cả những hiện tượng của
tâm lí đám đông đã được mô tả trước đây là đúng,
nhưng có thể nói rằng một số biểu hiện khác ngược lại
hoàn toàn cho phép ta đánh giá tâm lí quần chúng cao
hơn rất nhiều.
Ngay Le Bon cũng sẵn sàng nhận rằng trong một
số hoàn cảnh đạo đức của đám đông có thể cao hơn
đạo đức của từng cá nhân hợp thành và chỉ có đám
đông mới có khả năng làm những hành động bất vụ lợi
và hi sinh cao cả. “Lợi ích cá nhân hiếm khi là động lực
mạnh mẽ của đám đông, trong khi nó chiếm vị thế quan
trọng nhất đối với từng cá nhân riêng rẽ” (trang 193).
Một số người khác thì cho rằng nói chung chỉ có xã
hôi mới có thể đặt ra các qui phạm đạo đức cho cá nhân
theo, trong khi trong một số lĩnh vực từng cá nhân riêng
lẻ không thể vươn tới những đòi hỏi cao đó hay trong
một vài trường hợp đặc biệt trong đám đông có thể bùng
lên những hiện tượng hứng khởi nhờ đó quần chúng có
thể làm được những hành vi cao thượng nhất.
Đúng là trong lĩnh vực hoạt động trí tuệ thì ta phải
nhận rằng những kết quả quan trọng nhất của hoạt động
tư tưởng, những phát minh kéo theo hệ quả to lớn, việc
giải quyết các vấn đề phức tạp chỉ dành cho các cá nhân
làm việc trong môi trường đơn độc. Nhưng linh hồn
quần chúng cũng có sức sáng tạo tinh thần to lớn mà
minh chứng trước hết là ngôn ngữ, sau nữa là dân ca,
folklore… Ngoài ra chúng ta không thể biết có bao nhiêu
nhà tư tưởng hay nhà thơ đã từng lấy cảm hứng từ
chính đám quần chúng mà họ là thành viên; mà có thể
họ chỉ là những người thực hiện cái sự nghiệp mà trong
đó đồng thời có cả những người khác tham dự nữa.
Do những mâu thuẫn rõ ràng như vậy ta dễ có cảm
tưởng rằng môn tâm lí đám đông là môn học vô bổ.
Nhưng chúng ta có thể tìm được một lối ra cho phép hi
vọng tìm được giải đáp khả quan. Danh từ đám đông
được nhiều người gán cho những tập hợp khác nhau
mà đúng ra cần phải tách biệt. Tác phẩm của Sighele,
Le Bon và nhiều người khác liên quan đến những đám
đông không bền vững, được tạo ra một cách nhanh
chóng từ những cá nhân khác hẳn nhau, chỉ liên kết với
nhau bởi những mối quan tâm nhất thời. Không nghi
ngờ gì rằng đặc điểm của các đám đông quần chúng
cách mạng mà cụ thể là cuộc Cách mạng Pháp (1789 –
1799, ND) đã có ảnh hưởng đến các tác phẩm của họ.
Những khẳng định ngược lại dựa trên cơ sở đánh giá
các khối quần chúng ổn định hay những cộng đồng mà
ở đó con người sống suốt đời, những cộng đồng đã thể
hiện thành các định chế xã hội. Đám đông loại thứ nhất
đối với đám đông loại thứ hai cũng như các đợt sóng
ngắn nhưng cao đối với các con sóng dài trong những
vùng nước nông vậy.
Mc Dougal trong tác phẩm The Group Mind, xuất
phát từ mâu thuẫn nêu trên đã tìm được lời giải cho nó
bằng cách đưa thêm vào yếu tố tổ chức. Ông nói rằng
trong trường hợp đơn giản nhất, đám đông (group) hoàn
toàn vô tổ chức hoặc là có tổ chức sơ sài không đáng
kể. Ông gọi khối quần chúng ấy là đám đông (crowd).
Nhưng ông công nhận rằng thật khó tập hợp được một
đám đông như vậy nếu như trong đó không hình thành ít
nhất là những cơ sở ban đầu của một tổ chức, và chính
trong cái khối quần chúng đơn giản ấy đặc biệt dễ dàng
nhận ra một số sự kiện chủ yếu của tâm lí đám đông.
Nhóm người tụ họp một cách tình cờ chỉ có thể trở
thành khối quần chúng về mặt tâm lí với điều kiện là họ
có cùng một điểm chung nào đó: cùng quan tâm đến
một đối tượng, cảm xúc như nhau trong một hoàn cảnh
nhất định và (nếu là tôi thì tôi nói là: vì vậy mà) có khả
năng ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thành viên trong
nhóm (trang 23). Điểm chung mà càng mạnh thì họ càng
dễ họp thành đám đông tâm lí và biểu hiện của tâm lí
đám đông càng rõ rệt. Hiện tượng đặc biệt hơn cả đồng
thời cũng quan trọng hơn cả của đám đông là sự phóng
đại xúc cảm của từng cá nhân (trang 24).
Theo ý kiến của Mc Dougall thì khó có điều kiện
nào mà cảm xúc của người ta lại đạt đến mức như khi
nằm trong đám đông và như thế từng người một đều
cảm thấy khoan khoái, không còn cảm giác cô đơn, họ
để cho dục vọng vô giới hạn của mình dẫn dắt và cùng
với nó tan vào đám đông. Mc Dougall giải thích cái nhiệt
huyết đó của cá nhân bằng nguyên tắc cảm ứng trực
tiếp thông qua giao cảm nguyên thủy, nghĩa là hiện
tượng truyền nhiễm tình cảm mà ta đã biết (trang 25).
Thực chất là những dấu hiệu rõ ràng của trạng thái phấn
khích có khả năng tự động tạo ra những phấn khích như
thế ở ngư...
CÁI TÔI
TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG VÀ PHÂN TÍCH
CÁI TÔI
Sigmund Freud
Phạm Minh Ngọc dịch
1. LỜI NÓI ĐẦU
Mới nhìn thì sự đối lập giữa tâm lí cá nhân và tâm
lí xã hội (hay tâm lí đám đông) có vẻ như sâu sắc,
nhưng xét cho kĩ thì tính cách đối lập sẽ bớt đi nhiều.
Tuy khoa tâm lí cá nhân đặt căn bản trên việc quan sát
các cá nhân riêng lẻ, nó nghiên cứu các phương thức
mà cá nhân theo nhằm đáp ứng các dục vọng của mình;
nhưng thực ra chỉ trong những trường hợp hãn hữu,
trong những điều kiện đặc biệt nào đó nó mới có thể bỏ
qua được quan hệ của cá nhân với tha nhân. Trong tâm
trí của cá nhân thì một cá nhân khác luôn luôn hoặc là
thần tượng, hoặc là một đối tượng, một người hỗ trợ
hay kẻ thù và vì vậy mà ngay từ khởi thủy khoa tâm lí cá
nhân đã đồng thời là khoa tâm lí xã hội theo nghĩa thông
dụng nhưng rất đúng này.
Thái độ của cá nhân đối với cha mẹ, anh chị em,
người yêu, thày thuốc nghĩa là tất cả các mối liên hệ của
cá nhân mà cho đến nay đã là các đối tượng nghiên cứu
chủ yếu của môn phân tâm học có thể được coi là
những hiện tượng xã hội đối lập với một vài tiến trình
khác mà chúng tôi gọi là ngã ái (narcissistic) trong đó
việc đáp ứng các dục vọng không dựa vào tha nhân
hoặc tránh tha nhân. Như vậy, sự đối lập giữa hoạt động
của tâm thần xã hội và tâm thần ngã ái – Bleuer có lẽ sẽ
nói là tâm thần tự kỉ (autistic) - là thuộc lĩnh vực của
khoa tâm lí cá nhân và không thể là lí do để tách tâm lí
cá nhân khỏi tâm lí xã hội hay tâm lí đám đông.
Trong các mối quan hệ nêu trên của cá nhân đối
với cha mẹ, anh chị em, người yêu, thày thuốc, cá nhân
chỉ chịu ảnh hưởng của một người hay của một nhóm
người hạn chế, mỗi người trong số họ đều có tầm quan
trọng đặc biệt đối với cá nhân đó. Khi nói đến tâm lí xã
hội hay tâm lí đám đông người ta thường không để ý
đến các mối liên hệ đó, mà người ta coi đối tượng
nghiên cứu là ảnh hưởng đồng thời của một số lớn tha
nhân đối với một cá nhân mà anh ta có quan hệ ở một
phương diện nào đó trong khi trong những phương diện
khác anh ta có thể hoàn toàn xa lạ với họ. Như vậy
nghĩa là môn tâm lí đám đông nghiên cứu từng cá nhân
riêng biệt khi họ là thành viên của một bộ lạc, của dân
tộc, đẳng cấp, thể chế xã hội nhất định hay như một
nhân tố cấu thành của một đám đông tụ tập lại vì một
mục đích nào đó, trong một thời gian nào đó. Sau khi
mối liên hệ tự nhiên đó chấm dứt, người ta có thể coi
những hiện tượng xảy ra trong những điều kiện đặc biệt
đó là biểu hiện của một dục vọng đặc biệt, dục vọng xã
hội (herd instinc t- bản năng bầy đàn, group mind - tâm
lý nhóm), không thể phân tích được và không xuất hiện
trong những điều kiện khác. Nhưng chúng tôi phải bác
bỏ quan điểm ấy vì không thể coi số lượng người có mặt
lại có ảnh hưởng lớn đến nỗi cá nhân có thể đánh thức
dậy một dục vọng mới, cho đến lúc đó vẫn còn ngủ yên,
chưa từng hoạt động. Chúng ta hãy chú ý đến hai khả
năng khác sau đây: dục vọng tập thể có thể không phải
là nguyên thuỷ và có thể phân tích được; có thể tìm thấy
nguồn gốc của dục vọng ấy trong khung cảnh nhỏ hẹp
hơn, thí dụ như trong gia đình.
Khoa tâm lí đám đông tuy mới ra đời nhưng đã bao
gồm rất nhiều vấn đề riêng biệt và đặt ra cho nhà nghiên
cứu hàng loạt bài toán cho đến nay vẫn còn chưa được
tách biệt. Chỉ một việc phân loại các hình thức quần
chúng khác nhau, và mô tả các hiện tượng tâm thần mà
các khối quần chúng ấy thể hiện đã đòi hỏi một quá trình
quan sát lâu dài và ghi chép tỉ mỉ rồi; đã có nhiều tài liệu
về vấn đề này được xuất bản. Lãnh vực tâm lí đám đông
thật là mênh mông, tôi thiết tưởng chẳng cần nói trước
rằng tác phẩm khiêm tốn của tôi chỉ đề cập đến một vài
lĩnh vực mà thôi. Quả thực ở đây chỉ xem xét một số vấn
đề mà phân tâm học miền sâu quan tâm.
2. TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG
(Theo Gustave Le Bon)
Thay vì đưa ra một định nghĩa về tâm lí đám đông,
theo tôi tốt hơn hết là nên chỉ rõ các biểu hiện của nó và
từ đó rút ra những sự kiện chung nhất và lạ lùng nhất để
có thể bắt đầu công cuộc khảo cứu về sau. Cả hai mục
tiêu ấy có thể thực hiện một cách tốt đẹp nhất bằng cách
dựa vào cuốn sách nổi tiếng một cách xứng đáng của
Gustave Le Bon: Tâm lí đám đông (Psychologie des
foules).
Chúng ta hãy trở lại thực chất vấn đề một lần nữa:
giả dụ môn tâm lí học, mà đối tượng nghiên cứu của nó
là các xu hướng, dục vọng, động cơ, ý định của cá nhân
cho đến các hành vi và thái độ của người đó với những
người thân, đã giải quyết được toàn bộ vấn đề và tìm ra
được toàn bộ các mối quan hệ thì nó sẽ cảm thấy rất bất
ngờ khi đối diện với một vấn đề chưa hề được giải
quyết: nó phải lí giải một sự kiện lạ lùng là cái cá nhân
mà nó tưởng là đã hiểu rõ thì trong những điều kiện nhất
định bỗng cảm, suy nghĩ và hành động khác hẳn với
những gì đã được dự đoán; điều kiện đó là sự hội nhập
vào đám đông có tính cách một “đám đông tâm lí”. Đám
đông là gì, làm sao mà đám đông lại có ảnh to lớn như
vậy đối với đời sống tinh thần của một cá nhân, đám
đông làm biến đổi tâm hồn của cá nhân là biến đổi
những gì?
Trả lời ba câu hỏi trên là nhiệm vụ của môn tâm lí lí
thuyết. Tốt nhất là nên bắt đầu từ câu hỏi thứ ba. Quan
sát phản ứng đã bị biến đổi của cá nhân cung cấp cho ta
tài liệu để nghiên cứu tâm lí đám đông, muốn giải thích
điều gì thì phải mô tả điều ấy trước đã.
Vậy thì tôi xin nhường lời cho ông Gustave Le Bon.
Ông viết: (trang 165) “Sự kiện lạ lùng nhất quan sát
được trong một đám đông tâm lí (Psychologische
Masse) là như sau: dù các cá nhân có là ai đi chăng
nữa, dù cách sống của họ, công việc của họ, tính cách
hay trí tuệ của họ có thế nào đi chăng nữa, chỉ một việc
tham gia của họ vào đám đông đã đủ để tạo ra một dạng
linh hồn tập thể, buộc họ cảm, suy nghĩ và hành động
khác hẳn lúc họ đứng riêng một mình. Một số tư tưởng
và tình cảm chỉ xuất hiện và biến thành hành động khi
người ta tụ tập thành đám đông. Đám đông tâm lí là một
cơ thể lâm thời, được tạo ra từ những thành phần khác
nhau, nhất thời gắn kết với nhau giống như các tế bào
trong thành phần một cơ thể sống và bằng cách liên kết
đó tạo ra một thực thể mới có những tính chất hoàn toàn
khác với tính chất của các tế bào riêng lẻ.”
Chúng ta hãy tạm ngưng trích dẫn để bình luận và
đưa ra nhận xét như sau: nếu các cá nhân ở trong đám
đông đã liên kết thành một khối thống nhất thì nhất định
phải có một cái gì đó liên kết họ lại với nhau và có thể
cái mắt xích liên kết đó chính là đặc trưng của đám
đông. Nhưng Le Bon không trả lời câu hỏi đó; ông chỉ
nghiên cứu sự thay đổi của cá nhân trong đám đông và
mô tả một cách rất phù hợp với các luận điểm cơ bản
của môn tâm lí học miền sâu của chúng tôi.
“Người ta dễ dàng nhận thấy cá nhân tham dự vào
đám đông khác hẳn cá nhân đơn độc, nhưng tìm ra
nguyên nhân của sự khác biệt ấy không phải là dễ. Để
có thể hiểu được những nguyên nhân đó chúng ta phải
nhắc lại một trong những quan điểm của khoa tâm lí học
hiện đại, mà cụ thể là: những hiện tượng vô thức đóng
một vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt đông của cơ
thể mà cả trong các chức năng trí tuệ nữa. Hoạt động
hữu thức của trí tuệ chỉ là một phần nhỏ bé so với hoạt
động vô thức của nó. Người phân tích tế nhị nhất, người
quan sát thấu đáo nhất cũng chỉ có thể nhận ra một
phần rất nhỏ các động cơ vô thức mà anh ta phục tùng
mà thôi. Những hành động hữu thức của chúng ta xuất
phát từ nền tảng vô thức, được tạo lập bởi ảnh hưởng di
truyền. Nền tảng vô thức đó chứa đựng hằng hà sa số
các dấu tích di truyền tạo nên chính linh hồn của nòi
giống. Ngoài những nguyên nhân điều khiển hành vi của
chúng ta mà chúng ta công nhận công khai còn có
những nguyên nhân bí mật mà ta không công nhận,
nhưng đằng sau những nguyên nhân bí mật ấy còn có
những nguyên nhân bí mật hơn vì chính chúng ta cũng
không biết đến sự hiện hữu của chúng. Phần lớn những
hành động hàng ngày của chúng ta được điều khiển bởi
những động cơ bí ẩn ngoài tầm quan sát của chúng ta”
(trang 166).
Le Bon cho rằng trong đám đông, sở đắc của từng
cá nhân bị xoá nhoà đi và vì vậy cá tính của từng người
cũng biến mất theo. Cái vô thức của nòi giống vượt lên
hàng đầu, cái dị biệt chìm trong cái tương đồng. Chúng
ta có thể nói: thượng tầng kiến trúc tâm lí phát triển một
cách hoàn toàn khác nhau ở những cá thể khác nhau đã
bị phá hủy và nhân đó cái nền tảng vô thức đồng đều ở
tất cả mọi người mới biểu hiện ra.
Như vậy nghĩa là con người của đám đông là con
người có đặc trưng trung bình. Nhưng Le Bon còn nhận
thấy con người trong đám đông còn có những phẩm
chất khác mà trước đây họ không có và ông cắt nghĩa
sự xuất hiện của những đặc tính đó bằng ba yếu tố sau
đây (trang 168): “Nguyên nhân thứ nhất là cá nhân, nhờ
có đông người, thấy mình có một sức mạnh vô địch và
nhận thức đó cho phép anh ta ngả theo một số bản
năng, mà khi có một mình anh ta phải kiềm chế. Người
ta giảm hẳn xu hướng chế ngự bản năng còn vì đám
đông là vô danh và vì vậy chẳng phải chịu trách nhiệm gì
hết. Trong đám đông ý thức trách nhiệm, vốn luôn luôn
là cái cơ chế kìm hãm các cá nhân riêng lẻ, đã biến mất
hoàn toàn”.
Theo quan niệm của mình, chúng tôi không chú
trọng nhiều đến việc xuất hiện những phẩm chất mới.
Chúng tôi chỉ cần nói rằng con người trong đám đông là
đã nằm trong những điều kiện cho phép anh ta loại bỏ
mọi đè nén các dục vọng vô thức của mình. Những
phẩm chất có vẻ mới mà cá nhân thể hiện thực ra chỉ là
biểu hiện của cái vô thức là cái chứa đựng toàn bộ
những điều xấu xa của tâm hồn con người; trong những
điều kiện như vậy thì việc đánh mất lương tri hay ý thức
trách nhiệm là điều dễ hiểu. Chúng tôi đã khẳng định từ
lâu rằng cốt lõi của cái gọi là lương tâm chính là “nỗi sợ
hãi do xã hội ấn định”
Sự khác biệt giữa quan niệm của Le Bon và quan
niệm của chúng tôi là do quan điểm của ông về vô thức
không hoàn toàn phù hợp với quan điểm được thừa
nhận trong phân tâm học. Vô thức của Le Bon bao gồm
trước hết những nét đặc thù sâu kín của linh hồn nòi
giống vốn nằm ngoài khảo cứu của phân tâm học. Thực
ra chúng tôi công nhận rằng hạt nhân của cái “Tôi” gồm
chứa cả “cái di truyền từ xa xưa” của linh hồn nhân loại
một cách vô thức; ngoài ra chúng tôi còn phân biệt “vô
thức bị dồn nén” như là kết quả của một phần của sự di
truyền đó. Le Bon không có khái niệm này.
“Nguyên nhân thứ hai - sự lây nhiễm, góp phần tạo
ra và quyết định xu hướng của những tính cách đặc biệt
trong đám đông. Lây nhiễm là hiện tượng dễ nhận ra
nhưng khó giải thích; phải coi như thuộc về lĩnh vực các
hiện tượng thôi miên mà chúng ta sẽ nghiên cứu sau.
Trong đám đông mọi tình cảm, mọi hành động đều có
tính hay lây, hay lây đến độ cá nhân sẵn sàng hi sinh
quyền lợi của mình cho quyền lợi tập thể. Tuy nhiên
hành vi đó là trái với bản chất của con người và vì vậy
người ta chỉ hành động như vậy khi họ là một phần tử
của đám đông” (trang 168). Câu này là cơ sở của một
giả thuyết quan trọng trong tương lai.
“Nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân quan trọng
nhất, làm xuất hiện những phẩm chất đặc biệt đó ở các
cá thể giữa đám đông, những phẩm chất mà cá thể
không có khi đứng một mình, đấy là khả năng dễ bị ám
thị; sự lây nhiễm mà chúng ta vừa nói chỉ là kết quả của
khả năng bị ám thị này. Để hiểu được hiện tượng đó cần
phải nhắc lại một số phát minh mới nhất của môn sinh lí
học. Giờ đây chúng ta đã biết rằng bằng những phương
pháp khác nhau có thể đưa một người vào trạng thái mà
cá tính hữu thức của anh ta biến mất và anh ta tuân theo
mọi ám thị của ông thày thôi miên, theo lệnh ông thày
làm những hành động thường khi trái ngược hẳn với
tính tình và thói quen của anh ta. Quan sát cũng chỉ ra
rằng khi cá nhân nằm trong đám đông náo động một
thời gian - do ảnh hưởng của xung lực của đám đông
hay do những nguyên nhân nào khác chưa rõ - cá nhân
đó sẽ rơi vào trạng thái giống như trạng thái của người
bị thôi miên… Cá tính hữu thức cũng như ý chí và lí trí
của người bị thôi miên hoàn toàn biến mất; tình cảm và
tư tưởng của anh ta hoàn toàn lệ thuộc vào ý chí của
ông thày thôi miên. Tình trạng của một người như là
phần tử tạo thành đám đông tâm lí cũng tương tự như
vậy. Anh ta không còn ý thức được hành vi của mình
nữa, giống như người bị thôi miên, một số năng lực của
anh ta biến mất, trong khi đó một số khác lại bị kích
động đến tột độ. Một người bị thôi miên có thể thực hiện
một vài hành động với sự phấn khích không gì ngăn cản
được; trong đám đông thì sự phấn khích này còn mãnh
liệt hơn vì ảnh hưởng của ám thị với mỗi người là giống
nhau, họ hỗ tương ám thị nhau thành thử làm bội tăng
mức độ ám thị (trang 169). “Như vậy là sự biến mất của
cá tính hữu thức, vô thức đóng vai trò chủ đạo, tình cảm
và tư tưởng do bị ám thị mà hướng về một phía và ước
muốn biến ngay những tư tưởng do ám thị mà có thành
hành động là những đặc trưng chủ yếu của cá nhân
trong đám đông. Anh ta đã không còn là mình nữa, anh
ta đã thành một người máy, không ý chí” (trang 170).
Tôi trích dẫn hết đoạn này để khẳng định rằng
Gustave Le Bon thực sự coi một người trong đám đông
là nằm trong tình trạng bị thôi miên chứ không phải là so
sánh với người một người như vậy. Chúng tôi không
thấy có gì mâu thuẫn ở đây cả, chúng tôi chỉ muốn nhấn
mạnh rằng hai nguyên nhân sau của sự thay đổi của cá
nhân trong đám đông, khả năng bị lây nhiễm và khả
năng bị thôi miên, chắc chắn là không có giá trị như
nhau bởi vì khả năng bị lây nhiễm cũng là biểu hiện của
khả năng bị thôi miên. Hình như Le Bon cũng không
phân biệt rõ ảnh hưởng của hai nguyên nhân ấy. Có thể
chúng ta sẽ giải thích ý kiến của ông một cách rõ ràng
hơn nếu chúng ta coi khả năng bị lây nhiễm là ảnh
hưởng qua lại của các thành viên trong đám đông với
nhau trong khi các biểu hiện ám thị, liên quan đến hiện
tượng thôi miên lại có nguồn gốc khác. Nguồn gốc nào?
Chúng tôi cảm thấy ở đây có sự thiếu sót vì một trong
những thành phần chính của tác động, mà cụ thể là:
người đóng vai trò ông thày thôi miên quần chúng đã
không được Le Bon nhắc tới trong tác phẩm của mình.
Tuy nhiên ông đã phân biệt được cái ảnh hưởng ghê
gớm còn chưa rõ là gì đó với tác động của lây nhiễm do
người nọ truyền cho người kia và vì vậy mà tác động ám
thị khởi thủy được tăng cường hơn lên.
Le Bon còn đưa ra một luận điểm quan trọng để
đánh giá về cá nhân tham gia vào đám đông. “Như vậy
là khi tham gia vào đám đông có tổ chức mỗi người đã
tụt xuống một vài nấc thang của nền văn minh. Khi đứng
một mình có thể anh ta là người có văn hóa, nhưng
trong đám đông anh ta là một gã mọi rợ, nghĩa là một
sinh vật hành động theo bản năng. Anh ta có xu hướng
dễ bộc phát, hung hãn, độc ác nhưng cũng dễ có những
hành động hăng hái, anh hùng như những người tiền
sử. Do tham gia vào đám đông mà người ta trở nên kém
cỏi hẳn trong hoạt động trí tuệ.
Bây giờ chúng ta hãy để cá nhân sang một bên và
quay lại với mô tả tâm hồn tập thể do Le Bon phác hoạ.
Trong lĩnh vực này thì một nhà phân tâm học dễ dàng
tìm ra ra nguồn gốc và xếp loại tất cả các nét đặc thù.
Chính Le Bon đã chỉ cho ta đường lối khi ông nêu rõ sự
tương đồng giữa đời sống tinh thần của người tiền sử
và trẻ em. “Đám đông bồng bột, bất định và dễ kích
động. Lĩnh vực vô thức gần như hoàn toàn kiểm soát
đám đông. Đám đông tuân theo những kích động, tùy
theo hoàn cảnh, cao cả hay độc ác, hào hùng hay hèn
nhát, nhưng trong mọi trường hợp những kích động ấy
cũng mạnh mẽ đến nỗi chúng luôn chiến thắng cá nhân,
chiến thắng ngay cả bản năng tự bảo tồn” (trang 176).
“Đám đông không làm gì có chủ đích cả. Ngay cả khi
đám đông rất muốn một điều gì đó thì ước muốn đó
cũng không tồn tại lâu, đám đông không có tính kiên trì.
Đám đông không chấp nhận hoãn thực hiện ngay ước
muốn của mình. Đám đông có cảm giác mình có sức
mạnh vô biên, đối với cá nhân tham gia vào đám đông
thì khái niệm “bất khả” là không tồn tại. Đám đông rất dễ
bị thôi miên, cả tin, và không có khả năng tự phê phán,
đối với đám đông thì không có việc gì là không thực hiện
được. Đám đông suy nghĩ bằng hình ảnh, hình nọ tạo ra
hình kia, giống như khi một người để cho trí tưởng
tượng tự do hoạt động vậy. Những hình ảnh đó không
thể nào dùng trí tuệ để so sánh với hiện thực được. Tình
cảm của đám đông bao giờ cũng đơn giản và phấn
khích mạnh. Như vậy là đám đông không hề biết đến
nghi ngờ và dao động” (trang 193).
Trong việc giải thích giấc mơ nhờ đó chúng ta biết
rất nhiều về họat động của vô thức chúng tôi đã theo kĩ
thuật sau đây: chúng tôi không quan tâm đến những mối
nghi ngờ, thiếu tự tin trong khi kể lại giấc mơ và coi tất
cả các yếu tố của giấc mơ bộc lộ đều là yếu tố chắc
chắn. Chúng tôi coi sự nghi ngờ, thiếu tự tin là do họat
động của kiểm duyệt và giả định rằng những ý nghĩ khởi
thủy của giấc mơ thì chưa có nghi ngờ nghĩa là một hình
thức phê phán. Dĩ nhiên nghi ngờ và thiếu tự tin cũng
như mọi thứ khác có thể là vết tích từ lúc thức và khơi
động giấc mơ xuất hiện (xem Giải thích giấc mơ
[Traumdeutung] - bản tiếng Nga, in lần thứ 5, 1919,
trang 386).
“Đám đông tiến ngay đến chỗ cực đoan nhất, một
điều mơ hồ vừa được nói ra lập tức trở thành hiển
nhiên, một chút ác cảm mới nhen nhúm bùng ngay
thành lòng căm thù hung bạo (trang 186). Khuynh
hướng phóng đại, qúa trớn như thế cũng đặc trưng cho
những kích động của trẻ con, khuynh hướng đó lặp lại
trong giấc mơ. Trong mơ, do sự cách li của các kích
động tình cảm trong vô thức mà một chút bực dọc lúc
ban ngày có thể trở thành ước muốn sát hại kẻ có lỗi,
còn một ý nghĩ tội lỗi thoáng qua có thể trở thành
nguyên cớ một hành động tội lỗi được thể hiện trong
giấc mơ. Bác sĩ Hans Sachs có nhận xét rất hay: “Chúng
ta sẽ tìm thấy trong ý thức những điều giấc mơ thông
báo cho ta về quan hệ của ta với thực tại, cũng như ta
chẳng nên ngạc nhiên nếu dưới kính hiển vi con sinh vật
đơn bào đã biến thành một quái vật”. (xem Giải thích
giấc mơ [Traumdeutung] bản tiếng Nga, in lần thứ 5,
1919).
Đám đông vốn có xu hướng cực đoan nên chỉ
những kích động phóng đại mới gây cho nó phấn khích
mà thôi. Kẻ muốn có ảnh hưởng với đám đông chẳng
cần lí lẽ đúng, hắn chỉ cần tạo ra những bức tranh thật
rực rỡ, phóng đại và lặp đi lặp lại một chuyện là đủ. “Vì
đám đông không nghi ngờ vào tính đúng đắn hay sai
lầm của lí lẽ của nó trong lúc hiểu rõ sức mạnh của mình
cho nên nó vừa thiếu khoan dung vừa sùng tín đối với
thủ lĩnh. Đám đông tôn thờ sức mạnh, việc thiện đối với
nó chỉ là biểu hiện của sự yếu đuối. Đám đông đòi hỏi
các anh hùng của nó phải có sức mạnh và uy lực. Đám
đông muốn bị thống trị, muốn bị đè nén. Nó muốn sợ kẻ
thống trị. Đám đông rất bảo thủ, nó khinh bỉ mọi điều
mới mẻ và tiến bộ, nó sùng kính tuyệt đối truyền thống
(trang 189).
Để có thể đánh giá đúng về tư cách của đám đông
ta phải chú ý đến sự kiện sau: trong đám đông các cơ
chế ngăn chặn của từng người biến mất trong khi tất cả
những bản năng dữ tợn, tàn bạo, phá hoại, vết tích của
thời tiền sử vẫn mơ màng trong người ta bỗng bừng tỉnh
và đòi được tự do thoả mãn dục vọng của mình. Nhưng
dưới ảnh hưởng của ám thị đám đông cũng có thể có
những hành vi cao thượng: vị tha, tận tụy với lí tưởng,
bất vụ lợi. Lợi lộc gần như là cái lò xo duy nhất thúc đẩy
cá nhân thì đối với đám đông ít khi nó là động cơ số
một. Người ta có thể nói về tác động giáo hóa của đám
đông đối với cá nhân (trang 192). Trong khi trí tuệ của
đám đông bao giờ cũng thấp hơn trí tuệ của một cá
nhân thì về phương diện đạo đức nó có thể: hoặc là cao
hơn rất nhiều hoặc là thua xa một cá nhân riêng lẻ.
Một số nét đặc trưng khác được Le Bon mô tả
cũng cho thấy sự đúng đắn của việc đồng nhất tâm hồn
đám đông với tâm hồn của người tiền sử. Trong đám
đông có thể có những ý tưởng hoàn toàn trái ngược
nhau cùng tồn tại mà không hề tạo ra xung đột vì mâu
thuẫn. Phân tâm học đã chứng minh có những trường
hợp như thế trong vô thức của một số người, của trẻ em
và của người suy nhược thần kinh. Thí dụ ở trẻ em có
thể tồn tại trong một thời gian dài những tình cảm trái
ngược nhau đối với người thân cận nhất mà không hề
gây bất kì trở ngại nào. Nếu cuối cùng mà có xảy ra
xung đột giữa các khía cạnh tình cảm trái ngược nhau
đó thì xung đột sẽ được giải quyết bằng cách đổi đối
tượng, đứa trẻ sẽ chuyển một trong hai tình cảm mâu
thuẫn đó sang một người khác. Nghiên cứu lịch sử phát
triển bệnh thần kinh ở người lớn, thường khi ta cũng
thấy rằng một tình cảm bị đè nén có thể tồn tại rất lâu
trong những tưởng tượng vô thức và ngay cả hữu thức,
mà nội dung của nó dĩ nhiên là ngược với xu hứơng chủ
đạo, nhưng dù có mâu thuẫn như vậy vẫn không xuất
hiện cái “Tôi” phản kháng, chống lại cái mà nó bác bỏ.
Trí tưởng tượng được dung thứ trong một thời gian dài
cho đến khi, do sự tăng cao quá mức của tình trạng kích
động một cách bất thình lình mà xảy ra xung đột với cái
“Tôi”, với tất cả những hậu quả kèm theo. Khi đứa trẻ
phát triển thành người lớn cá tính của nó trở nên ngày
càng thống nhất, thành sự hợp nhất các dục vọng và
ước nguyện, đã từng phát triển độc lập với nhau. Chúng
ta cũng đã biết một qúa trình tương tự như vậy trong đời
sống tình dục dưới dạng hợp nhất các xu hướng dục
tính thành cái mà chúng ta gọi là tổ chức tính dục Nhiều
thí dụ mà chúng tôi biết lại chứng tỏ rằng sự hợp nhất
của cái “Tôi” cũng như sự hợp nhất của tính dục (libido)
có thể gặp thất bại: thí dụ như các nhà tự nhiên học tiếp
tục tôn sùng kinh thánh v.v…
Ngoài ra, đám đông còn bị mê hoặc bởi ma lực của
ngôn từ, ngôn từ có thể tạo ra trong lòng đám đông
những cơn bão kinh hoàng cũng như có thể trấn an
được nó. “Lí lẽ và sự thuyết phục không thể nào chống
lại được một số từ ngữ, một vài công thức có sẵn. Chỉ
cần nói những từ đó hay những công thức đó trước đám
đông với một thái độ sùng tín thì lập tức người ta sẽ cúi
đầu và nét mặt sẽ đầy thành kính” (trang 235). Ta hãy
nghĩ đến các huý kị của người tiền sử và sức mạnh ma
thuật mà họ gắn cho danh từ và tên gọi . Sau hết: đám
đông không bao giờ khao khát chân lý. Họ đòi hỏi ảo
tưởng mà họ không thể nào thoát ra được. Đối với đám
đông cái phi thực lại ưu việt hơn cái thực, cái không hiện
hữu cũng có ảnh hưởng mạnh như cái hiện hữu. Đám
đông có xu hướng không phân biệt giữa có và không
(trang 203).
Chúng tôi đã chứng minh rằng óc tưởng tượng và
ảo tưởng quá mức do ham muốn không được thoả mãn
là bước khởi đầu quyết định tạo ra các chứng suy
nhược thần kinh. Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng đối
với người bị suy nhược thần kinh thì cái có giá trị không
phải là hiện thực khách quan bình thường, mà chính là
hiện thực do tâm lí của họ tạo ra. Triệu chứng loạn thần
kinh phát sinh chỉ do tưởng tượng chứ không tái tạo một
cảm xúc có thật; một cảm tưởng tội lỗi ám ảnh một
người nào đó thực ra chỉ căn cứ trên cơ sở một dự định
độc ác mà chưa bao giờ được thực hiện. Cũng như
trong giấc mơ và thôi miên, trong tâm lí đám đông
nguyên tắc thực tiễn bị sức mạnh của các ước muốn
phấn khích đẩy xuống hàng thứ yếu.
Những điều mà Le Bon nói về lãnh tụ của đám
đông không được đầy đủ lắm, không cho phép ta tìm ra
qui luật nhất định nào. Ông giả định rằng ngay khi các
con vật tụ tập lại, không kể đấy là đàn gia súc hay một
nhóm người, thì chúng đều theo bản năng mà phục tùng
uy lực của lãnh tụ. Đám đông là một bầy đàn dễ sai
khiến và không thể sống thiếu chúa tể. Đám đông khao
khát phục tòng đến nỗi nó sẽ theo bản năng mà tuân
phục ngay kẻ nào tuyên bố là chúa tể của nó. Nếu đám
đông cần một lãnh tụ thì lãnh tụ cũng phải có một số
phẩm chất cá nhân phù hợp. Chính hắn phải tin tưởng
một cách cuồng nhiệt (vào một lí tưởng) để có thể đánh
thức niềm tin ấy trong quần chúng; hắn phải có một ý chí
đáng khâm phục để có thể truyền ý chí này cho đám
đông nhu nhược (trang 247).
Tiếp theo Le Bon thảo luận những kiểu lãnh tụ
khác nhau và những thủ thuật mà các lãnh tụ dùng để
gây ảnh hưởng với quần chúng. Nói chung thì Le Bon
cho rằng các lãnh tụ gây ảnh hưởng bằng các lí tưởng
mà chính các lãnh tụ cũng tin một cách cuồng nhiệt. Le
Bon gán cho các lí tưởng này cũng như cho các lãnh tụ
một sức mạnh vô địch và bí hiểm mà ông gọi là “uy tín”.
Uy tín là một dạng thống trị của một cá nhân, một tác
phẩm hay một lí tưởng đối với chúng ta. Sự thống trị này
làm tê liệt tất cả những khả năng phê phán của cá nhân
và làm cho cá nhân chỉ còn biết ngạc nhiên và kính
phục. Sự thống trị đó có thể tạo ra những tình cảm giống
như khi bị thôi miên (trang 259). Ông còn chia ra uy tín
tự giành được hay uy tín giả tạo và uy tín cá nhân. Uy
tín giành được do tên tuổi, tài sản, tiếng tăm; uy tín của
dư luận, của tác phẩm nghệ thuật tạo ra bằng con
đường truyền thống. Trong mọi trường hợp uy tín đều có
gốc gác từ trong quá khứ nên nó không cho ta nhiều tư
liệu để có thể nghiên cứu ảnh hưởng bí hiểm này. Chỉ
một ít người có uy tín cá nhân mà nhờ thế họ trở thành
lãnh tụ; mọi người khuất phục họ như có ma thuật vậy.
Nhưng uy tín phụ thuộc vào thành công và có thể biến
mất nếu thất bại (trang 268). Chúng tôi có cảm tưởng
rằng Le Bon chưa đưa được vai trò của lãnh tụ và ảnh
hưởng của uy tín vào một mối liên hệ đúng đắn với điều
được ông mô tả tuyệt vời là tâm lí đám đông.
3. NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC VỀ TÂM LÍ ĐÁM
ĐÔNG
Chúng tôi dùng cuốn sách của Le Bon làm phần đề
dẫn vì ông nhấn mạnh đến vai trò của hoạt động vô thức
trùng hợp với quan niệm về tâm lí của chính chúng tôi.
Tuy nhiên chúng tôi phải nói rằng không có luận điểm
nào của ông là mới mẻ cả. Tất cả những biểu hiện vô
trách nhiệm và nhục nhã của tâm lí đám đông mà ông
nói tới cũng đã được các tác giả khác trước ông nói với
cùng một mức xác quyết và thù địch như vậy; tất cả
những điều đó đã được các nhà văn, nhà thơ, các nhà
tư tưởng, các chính trị gia từ thời cổ đại nói đến nhiều
lần. Hai luận điểm quan trọng nhất của Le Bon là luận
điểm về sự ức chế tập thể trong hoạt động trí tuệ và
phóng đại cảm xúc của đám đông cũng đã được Sighele
đưa ra gần đây. Cái đặc sắc của Le Bon chỉ còn là hai ý
kiến về vô thức và so sánh với đời sống tinh thần của
người tiền sử. Tuy nhiên hai điểm này cũng đã được nói
đến trước ông rồi.
Hơn thế nữa: việc mô tả và đánh giá tâm lí đám
đông như ta thấy trong tác phẩm của Le Bon và của
những người khác không phải là hoàn toàn vững chắc.
Không nghi ngờ gì rằng tất cả những hiện tượng của
tâm lí đám đông đã được mô tả trước đây là đúng,
nhưng có thể nói rằng một số biểu hiện khác ngược lại
hoàn toàn cho phép ta đánh giá tâm lí quần chúng cao
hơn rất nhiều.
Ngay Le Bon cũng sẵn sàng nhận rằng trong một
số hoàn cảnh đạo đức của đám đông có thể cao hơn
đạo đức của từng cá nhân hợp thành và chỉ có đám
đông mới có khả năng làm những hành động bất vụ lợi
và hi sinh cao cả. “Lợi ích cá nhân hiếm khi là động lực
mạnh mẽ của đám đông, trong khi nó chiếm vị thế quan
trọng nhất đối với từng cá nhân riêng rẽ” (trang 193).
Một số người khác thì cho rằng nói chung chỉ có xã
hôi mới có thể đặt ra các qui phạm đạo đức cho cá nhân
theo, trong khi trong một số lĩnh vực từng cá nhân riêng
lẻ không thể vươn tới những đòi hỏi cao đó hay trong
một vài trường hợp đặc biệt trong đám đông có thể bùng
lên những hiện tượng hứng khởi nhờ đó quần chúng có
thể làm được những hành vi cao thượng nhất.
Đúng là trong lĩnh vực hoạt động trí tuệ thì ta phải
nhận rằng những kết quả quan trọng nhất của hoạt động
tư tưởng, những phát minh kéo theo hệ quả to lớn, việc
giải quyết các vấn đề phức tạp chỉ dành cho các cá nhân
làm việc trong môi trường đơn độc. Nhưng linh hồn
quần chúng cũng có sức sáng tạo tinh thần to lớn mà
minh chứng trước hết là ngôn ngữ, sau nữa là dân ca,
folklore… Ngoài ra chúng ta không thể biết có bao nhiêu
nhà tư tưởng hay nhà thơ đã từng lấy cảm hứng từ
chính đám quần chúng mà họ là thành viên; mà có thể
họ chỉ là những người thực hiện cái sự nghiệp mà trong
đó đồng thời có cả những người khác tham dự nữa.
Do những mâu thuẫn rõ ràng như vậy ta dễ có cảm
tưởng rằng môn tâm lí đám đông là môn học vô bổ.
Nhưng chúng ta có thể tìm được một lối ra cho phép hi
vọng tìm được giải đáp khả quan. Danh từ đám đông
được nhiều người gán cho những tập hợp khác nhau
mà đúng ra cần phải tách biệt. Tác phẩm của Sighele,
Le Bon và nhiều người khác liên quan đến những đám
đông không bền vững, được tạo ra một cách nhanh
chóng từ những cá nhân khác hẳn nhau, chỉ liên kết với
nhau bởi những mối quan tâm nhất thời. Không nghi
ngờ gì rằng đặc điểm của các đám đông quần chúng
cách mạng mà cụ thể là cuộc Cách mạng Pháp (1789 –
1799, ND) đã có ảnh hưởng đến các tác phẩm của họ.
Những khẳng định ngược lại dựa trên cơ sở đánh giá
các khối quần chúng ổn định hay những cộng đồng mà
ở đó con người sống suốt đời, những cộng đồng đã thể
hiện thành các định chế xã hội. Đám đông loại thứ nhất
đối với đám đông loại thứ hai cũng như các đợt sóng
ngắn nhưng cao đối với các con sóng dài trong những
vùng nước nông vậy.
Mc Dougal trong tác phẩm The Group Mind, xuất
phát từ mâu thuẫn nêu trên đã tìm được lời giải cho nó
bằng cách đưa thêm vào yếu tố tổ chức. Ông nói rằng
trong trường hợp đơn giản nhất, đám đông (group) hoàn
toàn vô tổ chức hoặc là có tổ chức sơ sài không đáng
kể. Ông gọi khối quần chúng ấy là đám đông (crowd).
Nhưng ông công nhận rằng thật khó tập hợp được một
đám đông như vậy nếu như trong đó không hình thành ít
nhất là những cơ sở ban đầu của một tổ chức, và chính
trong cái khối quần chúng đơn giản ấy đặc biệt dễ dàng
nhận ra một số sự kiện chủ yếu của tâm lí đám đông.
Nhóm người tụ họp một cách tình cờ chỉ có thể trở
thành khối quần chúng về mặt tâm lí với điều kiện là họ
có cùng một điểm chung nào đó: cùng quan tâm đến
một đối tượng, cảm xúc như nhau trong một hoàn cảnh
nhất định và (nếu là tôi thì tôi nói là: vì vậy mà) có khả
năng ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thành viên trong
nhóm (trang 23). Điểm chung mà càng mạnh thì họ càng
dễ họp thành đám đông tâm lí và biểu hiện của tâm lí
đám đông càng rõ rệt. Hiện tượng đặc biệt hơn cả đồng
thời cũng quan trọng hơn cả của đám đông là sự phóng
đại xúc cảm của từng cá nhân (trang 24).
Theo ý kiến của Mc Dougall thì khó có điều kiện
nào mà cảm xúc của người ta lại đạt đến mức như khi
nằm trong đám đông và như thế từng người một đều
cảm thấy khoan khoái, không còn cảm giác cô đơn, họ
để cho dục vọng vô giới hạn của mình dẫn dắt và cùng
với nó tan vào đám đông. Mc Dougall giải thích cái nhiệt
huyết đó của cá nhân bằng nguyên tắc cảm ứng trực
tiếp thông qua giao cảm nguyên thủy, nghĩa là hiện
tượng truyền nhiễm tình cảm mà ta đã biết (trang 25).
Thực chất là những dấu hiệu rõ ràng của trạng thái phấn
khích có khả năng tự động tạo ra những phấn khích như
thế ở ngư...
 





