LỜI CHÚC

BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT WEBSITE

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1

    Tam Ly Dam Dong Va Phan Tich Cai Toi - Sigmund Freud

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:33' 09-03-2024
    Dung lượng: 569.4 KB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG VÀ PHÂN TÍCH
    CÁI TÔI
    TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG VÀ PHÂN TÍCH
    CÁI TÔI
    Sigmund Freud
    Phạm Minh Ngọc dịch

    1. LỜI NÓI ĐẦU
    Mới nhìn thì sự đối lập giữa tâm lí cá nhân và tâm
    lí xã hội (hay tâm lí đám đông) có vẻ như sâu sắc,
    nhưng xét cho kĩ thì tính cách đối lập sẽ bớt đi nhiều.
    Tuy khoa tâm lí cá nhân đặt căn bản trên việc quan sát
    các cá nhân riêng lẻ, nó nghiên cứu các phương thức
    mà cá nhân theo nhằm đáp ứng các dục vọng của mình;
    nhưng thực ra chỉ trong những trường hợp hãn hữu,
    trong những điều kiện đặc biệt nào đó nó mới có thể bỏ
    qua được quan hệ của cá nhân với tha nhân. Trong tâm
    trí của cá nhân thì một cá nhân khác luôn luôn hoặc là
    thần tượng, hoặc là một đối tượng, một người hỗ trợ
    hay kẻ thù và vì vậy mà ngay từ khởi thủy khoa tâm lí cá
    nhân đã đồng thời là khoa tâm lí xã hội theo nghĩa thông
    dụng nhưng rất đúng này.
    Thái độ của cá nhân đối với cha mẹ, anh chị em,
    người yêu, thày thuốc nghĩa là tất cả các mối liên hệ của
    cá nhân mà cho đến nay đã là các đối tượng nghiên cứu
    chủ yếu của môn phân tâm học có thể được coi là
    những hiện tượng xã hội đối lập với một vài tiến trình
    khác mà chúng tôi gọi là ngã ái (narcissistic) trong đó
    việc đáp ứng các dục vọng không dựa vào tha nhân
    hoặc tránh tha nhân. Như vậy, sự đối lập giữa hoạt động
    của tâm thần xã hội và tâm thần ngã ái – Bleuer có lẽ sẽ
    nói là tâm thần tự kỉ (autistic) - là thuộc lĩnh vực của
    khoa tâm lí cá nhân và không thể là lí do để tách tâm lí
    cá nhân khỏi tâm lí xã hội hay tâm lí đám đông.
    Trong các mối quan hệ nêu trên của cá nhân đối
    với cha mẹ, anh chị em, người yêu, thày thuốc, cá nhân

    chỉ chịu ảnh hưởng của một người hay của một nhóm
    người hạn chế, mỗi người trong số họ đều có tầm quan
    trọng đặc biệt đối với cá nhân đó. Khi nói đến tâm lí xã
    hội hay tâm lí đám đông người ta thường không để ý
    đến các mối liên hệ đó, mà người ta coi đối tượng
    nghiên cứu là ảnh hưởng đồng thời của một số lớn tha
    nhân đối với một cá nhân mà anh ta có quan hệ ở một
    phương diện nào đó trong khi trong những phương diện
    khác anh ta có thể hoàn toàn xa lạ với họ. Như vậy
    nghĩa là môn tâm lí đám đông nghiên cứu từng cá nhân
    riêng biệt khi họ là thành viên của một bộ lạc, của dân
    tộc, đẳng cấp, thể chế xã hội nhất định hay như một
    nhân tố cấu thành của một đám đông tụ tập lại vì một
    mục đích nào đó, trong một thời gian nào đó. Sau khi
    mối liên hệ tự nhiên đó chấm dứt, người ta có thể coi
    những hiện tượng xảy ra trong những điều kiện đặc biệt
    đó là biểu hiện của một dục vọng đặc biệt, dục vọng xã
    hội (herd instinc t- bản năng bầy đàn, group mind - tâm
    lý nhóm), không thể phân tích được và không xuất hiện
    trong những điều kiện khác. Nhưng chúng tôi phải bác
    bỏ quan điểm ấy vì không thể coi số lượng người có mặt
    lại có ảnh hưởng lớn đến nỗi cá nhân có thể đánh thức
    dậy một dục vọng mới, cho đến lúc đó vẫn còn ngủ yên,
    chưa từng hoạt động. Chúng ta hãy chú ý đến hai khả
    năng khác sau đây: dục vọng tập thể có thể không phải
    là nguyên thuỷ và có thể phân tích được; có thể tìm thấy
    nguồn gốc của dục vọng ấy trong khung cảnh nhỏ hẹp
    hơn, thí dụ như trong gia đình.
    Khoa tâm lí đám đông tuy mới ra đời nhưng đã bao
    gồm rất nhiều vấn đề riêng biệt và đặt ra cho nhà nghiên

    cứu hàng loạt bài toán cho đến nay vẫn còn chưa được
    tách biệt. Chỉ một việc phân loại các hình thức quần
    chúng khác nhau, và mô tả các hiện tượng tâm thần mà
    các khối quần chúng ấy thể hiện đã đòi hỏi một quá trình
    quan sát lâu dài và ghi chép tỉ mỉ rồi; đã có nhiều tài liệu
    về vấn đề này được xuất bản. Lãnh vực tâm lí đám đông
    thật là mênh mông, tôi thiết tưởng chẳng cần nói trước
    rằng tác phẩm khiêm tốn của tôi chỉ đề cập đến một vài
    lĩnh vực mà thôi. Quả thực ở đây chỉ xem xét một số vấn
    đề mà phân tâm học miền sâu quan tâm.

    2. TÂM LÍ ĐÁM ĐÔNG
    (Theo Gustave Le Bon)
    Thay vì đưa ra một định nghĩa về tâm lí đám đông,
    theo tôi tốt hơn hết là nên chỉ rõ các biểu hiện của nó và
    từ đó rút ra những sự kiện chung nhất và lạ lùng nhất để
    có thể bắt đầu công cuộc khảo cứu về sau. Cả hai mục
    tiêu ấy có thể thực hiện một cách tốt đẹp nhất bằng cách
    dựa vào cuốn sách nổi tiếng một cách xứng đáng của
    Gustave Le Bon: Tâm lí đám đông (Psychologie des
    foules).
    Chúng ta hãy trở lại thực chất vấn đề một lần nữa:
    giả dụ môn tâm lí học, mà đối tượng nghiên cứu của nó
    là các xu hướng, dục vọng, động cơ, ý định của cá nhân
    cho đến các hành vi và thái độ của người đó với những
    người thân, đã giải quyết được toàn bộ vấn đề và tìm ra
    được toàn bộ các mối quan hệ thì nó sẽ cảm thấy rất bất
    ngờ khi đối diện với một vấn đề chưa hề được giải
    quyết: nó phải lí giải một sự kiện lạ lùng là cái cá nhân
    mà nó tưởng là đã hiểu rõ thì trong những điều kiện nhất
    định bỗng cảm, suy nghĩ và hành động khác hẳn với
    những gì đã được dự đoán; điều kiện đó là sự hội nhập
    vào đám đông có tính cách một “đám đông tâm lí”. Đám
    đông là gì, làm sao mà đám đông lại có ảnh to lớn như
    vậy đối với đời sống tinh thần của một cá nhân, đám
    đông làm biến đổi tâm hồn của cá nhân là biến đổi
    những gì?
    Trả lời ba câu hỏi trên là nhiệm vụ của môn tâm lí lí
    thuyết. Tốt nhất là nên bắt đầu từ câu hỏi thứ ba. Quan
    sát phản ứng đã bị biến đổi của cá nhân cung cấp cho ta

    tài liệu để nghiên cứu tâm lí đám đông, muốn giải thích
    điều gì thì phải mô tả điều ấy trước đã.
    Vậy thì tôi xin nhường lời cho ông Gustave Le Bon.
    Ông viết: (trang 165) “Sự kiện lạ lùng nhất quan sát
    được trong một đám đông tâm lí (Psychologische
    Masse) là như sau: dù các cá nhân có là ai đi chăng
    nữa, dù cách sống của họ, công việc của họ, tính cách
    hay trí tuệ của họ có thế nào đi chăng nữa, chỉ một việc
    tham gia của họ vào đám đông đã đủ để tạo ra một dạng
    linh hồn tập thể, buộc họ cảm, suy nghĩ và hành động
    khác hẳn lúc họ đứng riêng một mình. Một số tư tưởng
    và tình cảm chỉ xuất hiện và biến thành hành động khi
    người ta tụ tập thành đám đông. Đám đông tâm lí là một
    cơ thể lâm thời, được tạo ra từ những thành phần khác
    nhau, nhất thời gắn kết với nhau giống như các tế bào
    trong thành phần một cơ thể sống và bằng cách liên kết
    đó tạo ra một thực thể mới có những tính chất hoàn toàn
    khác với tính chất của các tế bào riêng lẻ.”
    Chúng ta hãy tạm ngưng trích dẫn để bình luận và
    đưa ra nhận xét như sau: nếu các cá nhân ở trong đám
    đông đã liên kết thành một khối thống nhất thì nhất định
    phải có một cái gì đó liên kết họ lại với nhau và có thể
    cái mắt xích liên kết đó chính là đặc trưng của đám
    đông. Nhưng Le Bon không trả lời câu hỏi đó; ông chỉ
    nghiên cứu sự thay đổi của cá nhân trong đám đông và
    mô tả một cách rất phù hợp với các luận điểm cơ bản
    của môn tâm lí học miền sâu của chúng tôi.
    “Người ta dễ dàng nhận thấy cá nhân tham dự vào
    đám đông khác hẳn cá nhân đơn độc, nhưng tìm ra
    nguyên nhân của sự khác biệt ấy không phải là dễ. Để

    có thể hiểu được những nguyên nhân đó chúng ta phải
    nhắc lại một trong những quan điểm của khoa tâm lí học
    hiện đại, mà cụ thể là: những hiện tượng vô thức đóng
    một vai trò quan trọng không chỉ trong hoạt đông của cơ
    thể mà cả trong các chức năng trí tuệ nữa. Hoạt động
    hữu thức của trí tuệ chỉ là một phần nhỏ bé so với hoạt
    động vô thức của nó. Người phân tích tế nhị nhất, người
    quan sát thấu đáo nhất cũng chỉ có thể nhận ra một
    phần rất nhỏ các động cơ vô thức mà anh ta phục tùng
    mà thôi. Những hành động hữu thức của chúng ta xuất
    phát từ nền tảng vô thức, được tạo lập bởi ảnh hưởng di
    truyền. Nền tảng vô thức đó chứa đựng hằng hà sa số
    các dấu tích di truyền tạo nên chính linh hồn của nòi
    giống. Ngoài những nguyên nhân điều khiển hành vi của
    chúng ta mà chúng ta công nhận công khai còn có
    những nguyên nhân bí mật mà ta không công nhận,
    nhưng đằng sau những nguyên nhân bí mật ấy còn có
    những nguyên nhân bí mật hơn vì chính chúng ta cũng
    không biết đến sự hiện hữu của chúng. Phần lớn những
    hành động hàng ngày của chúng ta được điều khiển bởi
    những động cơ bí ẩn ngoài tầm quan sát của chúng ta”
    (trang 166).
    Le Bon cho rằng trong đám đông, sở đắc của từng
    cá nhân bị xoá nhoà đi và vì vậy cá tính của từng người
    cũng biến mất theo. Cái vô thức của nòi giống vượt lên
    hàng đầu, cái dị biệt chìm trong cái tương đồng. Chúng
    ta có thể nói: thượng tầng kiến trúc tâm lí phát triển một
    cách hoàn toàn khác nhau ở những cá thể khác nhau đã
    bị phá hủy và nhân đó cái nền tảng vô thức đồng đều ở
    tất cả mọi người mới biểu hiện ra.

    Như vậy nghĩa là con người của đám đông là con
    người có đặc trưng trung bình. Nhưng Le Bon còn nhận
    thấy con người trong đám đông còn có những phẩm
    chất khác mà trước đây họ không có và ông cắt nghĩa
    sự xuất hiện của những đặc tính đó bằng ba yếu tố sau
    đây (trang 168): “Nguyên nhân thứ nhất là cá nhân, nhờ
    có đông người, thấy mình có một sức mạnh vô địch và
    nhận thức đó cho phép anh ta ngả theo một số bản
    năng, mà khi có một mình anh ta phải kiềm chế. Người
    ta giảm hẳn xu hướng chế ngự bản năng còn vì đám
    đông là vô danh và vì vậy chẳng phải chịu trách nhiệm gì
    hết. Trong đám đông ý thức trách nhiệm, vốn luôn luôn
    là cái cơ chế kìm hãm các cá nhân riêng lẻ, đã biến mất
    hoàn toàn”.
    Theo quan niệm của mình, chúng tôi không chú
    trọng nhiều đến việc xuất hiện những phẩm chất mới.
    Chúng tôi chỉ cần nói rằng con người trong đám đông là
    đã nằm trong những điều kiện cho phép anh ta loại bỏ
    mọi đè nén các dục vọng vô thức của mình. Những
    phẩm chất có vẻ mới mà cá nhân thể hiện thực ra chỉ là
    biểu hiện của cái vô thức là cái chứa đựng toàn bộ
    những điều xấu xa của tâm hồn con người; trong những
    điều kiện như vậy thì việc đánh mất lương tri hay ý thức
    trách nhiệm là điều dễ hiểu. Chúng tôi đã khẳng định từ
    lâu rằng cốt lõi của cái gọi là lương tâm chính là “nỗi sợ
    hãi do xã hội ấn định”
    Sự khác biệt giữa quan niệm của Le Bon và quan
    niệm của chúng tôi là do quan điểm của ông về vô thức
    không hoàn toàn phù hợp với quan điểm được thừa
    nhận trong phân tâm học. Vô thức của Le Bon bao gồm

    trước hết những nét đặc thù sâu kín của linh hồn nòi
    giống vốn nằm ngoài khảo cứu của phân tâm học. Thực
    ra chúng tôi công nhận rằng hạt nhân của cái “Tôi” gồm
    chứa cả “cái di truyền từ xa xưa” của linh hồn nhân loại
    một cách vô thức; ngoài ra chúng tôi còn phân biệt “vô
    thức bị dồn nén” như là kết quả của một phần của sự di
    truyền đó. Le Bon không có khái niệm này.
    “Nguyên nhân thứ hai - sự lây nhiễm, góp phần tạo
    ra và quyết định xu hướng của những tính cách đặc biệt
    trong đám đông. Lây nhiễm là hiện tượng dễ nhận ra
    nhưng khó giải thích; phải coi như thuộc về lĩnh vực các
    hiện tượng thôi miên mà chúng ta sẽ nghiên cứu sau.
    Trong đám đông mọi tình cảm, mọi hành động đều có
    tính hay lây, hay lây đến độ cá nhân sẵn sàng hi sinh
    quyền lợi của mình cho quyền lợi tập thể. Tuy nhiên
    hành vi đó là trái với bản chất của con người và vì vậy
    người ta chỉ hành động như vậy khi họ là một phần tử
    của đám đông” (trang 168). Câu này là cơ sở của một
    giả thuyết quan trọng trong tương lai.
    “Nguyên nhân thứ ba, nguyên nhân quan trọng
    nhất, làm xuất hiện những phẩm chất đặc biệt đó ở các
    cá thể giữa đám đông, những phẩm chất mà cá thể
    không có khi đứng một mình, đấy là khả năng dễ bị ám
    thị; sự lây nhiễm mà chúng ta vừa nói chỉ là kết quả của
    khả năng bị ám thị này. Để hiểu được hiện tượng đó cần
    phải nhắc lại một số phát minh mới nhất của môn sinh lí
    học. Giờ đây chúng ta đã biết rằng bằng những phương
    pháp khác nhau có thể đưa một người vào trạng thái mà
    cá tính hữu thức của anh ta biến mất và anh ta tuân theo
    mọi ám thị của ông thày thôi miên, theo lệnh ông thày

    làm những hành động thường khi trái ngược hẳn với
    tính tình và thói quen của anh ta. Quan sát cũng chỉ ra
    rằng khi cá nhân nằm trong đám đông náo động một
    thời gian - do ảnh hưởng của xung lực của đám đông
    hay do những nguyên nhân nào khác chưa rõ - cá nhân
    đó sẽ rơi vào trạng thái giống như trạng thái của người
    bị thôi miên… Cá tính hữu thức cũng như ý chí và lí trí
    của người bị thôi miên hoàn toàn biến mất; tình cảm và
    tư tưởng của anh ta hoàn toàn lệ thuộc vào ý chí của
    ông thày thôi miên. Tình trạng của một người như là
    phần tử tạo thành đám đông tâm lí cũng tương tự như
    vậy. Anh ta không còn ý thức được hành vi của mình
    nữa, giống như người bị thôi miên, một số năng lực của
    anh ta biến mất, trong khi đó một số khác lại bị kích
    động đến tột độ. Một người bị thôi miên có thể thực hiện
    một vài hành động với sự phấn khích không gì ngăn cản
    được; trong đám đông thì sự phấn khích này còn mãnh
    liệt hơn vì ảnh hưởng của ám thị với mỗi người là giống
    nhau, họ hỗ tương ám thị nhau thành thử làm bội tăng
    mức độ ám thị (trang 169). “Như vậy là sự biến mất của
    cá tính hữu thức, vô thức đóng vai trò chủ đạo, tình cảm
    và tư tưởng do bị ám thị mà hướng về một phía và ước
    muốn biến ngay những tư tưởng do ám thị mà có thành
    hành động là những đặc trưng chủ yếu của cá nhân
    trong đám đông. Anh ta đã không còn là mình nữa, anh
    ta đã thành một người máy, không ý chí” (trang 170).
    Tôi trích dẫn hết đoạn này để khẳng định rằng
    Gustave Le Bon thực sự coi một người trong đám đông
    là nằm trong tình trạng bị thôi miên chứ không phải là so
    sánh với người một người như vậy. Chúng tôi không

    thấy có gì mâu thuẫn ở đây cả, chúng tôi chỉ muốn nhấn
    mạnh rằng hai nguyên nhân sau của sự thay đổi của cá
    nhân trong đám đông, khả năng bị lây nhiễm và khả
    năng bị thôi miên, chắc chắn là không có giá trị như
    nhau bởi vì khả năng bị lây nhiễm cũng là biểu hiện của
    khả năng bị thôi miên. Hình như Le Bon cũng không
    phân biệt rõ ảnh hưởng của hai nguyên nhân ấy. Có thể
    chúng ta sẽ giải thích ý kiến của ông một cách rõ ràng
    hơn nếu chúng ta coi khả năng bị lây nhiễm là ảnh
    hưởng qua lại của các thành viên trong đám đông với
    nhau trong khi các biểu hiện ám thị, liên quan đến hiện
    tượng thôi miên lại có nguồn gốc khác. Nguồn gốc nào?
    Chúng tôi cảm thấy ở đây có sự thiếu sót vì một trong
    những thành phần chính của tác động, mà cụ thể là:
    người đóng vai trò ông thày thôi miên quần chúng đã
    không được Le Bon nhắc tới trong tác phẩm của mình.
    Tuy nhiên ông đã phân biệt được cái ảnh hưởng ghê
    gớm còn chưa rõ là gì đó với tác động của lây nhiễm do
    người nọ truyền cho người kia và vì vậy mà tác động ám
    thị khởi thủy được tăng cường hơn lên.
    Le Bon còn đưa ra một luận điểm quan trọng để
    đánh giá về cá nhân tham gia vào đám đông. “Như vậy
    là khi tham gia vào đám đông có tổ chức mỗi người đã
    tụt xuống một vài nấc thang của nền văn minh. Khi đứng
    một mình có thể anh ta là người có văn hóa, nhưng
    trong đám đông anh ta là một gã mọi rợ, nghĩa là một
    sinh vật hành động theo bản năng. Anh ta có xu hướng
    dễ bộc phát, hung hãn, độc ác nhưng cũng dễ có những
    hành động hăng hái, anh hùng như những người tiền

    sử. Do tham gia vào đám đông mà người ta trở nên kém
    cỏi hẳn trong hoạt động trí tuệ.
    Bây giờ chúng ta hãy để cá nhân sang một bên và
    quay lại với mô tả tâm hồn tập thể do Le Bon phác hoạ.
    Trong lĩnh vực này thì một nhà phân tâm học dễ dàng
    tìm ra ra nguồn gốc và xếp loại tất cả các nét đặc thù.
    Chính Le Bon đã chỉ cho ta đường lối khi ông nêu rõ sự
    tương đồng giữa đời sống tinh thần của người tiền sử
    và trẻ em. “Đám đông bồng bột, bất định và dễ kích
    động. Lĩnh vực vô thức gần như hoàn toàn kiểm soát
    đám đông. Đám đông tuân theo những kích động, tùy
    theo hoàn cảnh, cao cả hay độc ác, hào hùng hay hèn
    nhát, nhưng trong mọi trường hợp những kích động ấy
    cũng mạnh mẽ đến nỗi chúng luôn chiến thắng cá nhân,
    chiến thắng ngay cả bản năng tự bảo tồn” (trang 176).
    “Đám đông không làm gì có chủ đích cả. Ngay cả khi
    đám đông rất muốn một điều gì đó thì ước muốn đó
    cũng không tồn tại lâu, đám đông không có tính kiên trì.
    Đám đông không chấp nhận hoãn thực hiện ngay ước
    muốn của mình. Đám đông có cảm giác mình có sức
    mạnh vô biên, đối với cá nhân tham gia vào đám đông
    thì khái niệm “bất khả” là không tồn tại. Đám đông rất dễ
    bị thôi miên, cả tin, và không có khả năng tự phê phán,
    đối với đám đông thì không có việc gì là không thực hiện
    được. Đám đông suy nghĩ bằng hình ảnh, hình nọ tạo ra
    hình kia, giống như khi một người để cho trí tưởng
    tượng tự do hoạt động vậy. Những hình ảnh đó không
    thể nào dùng trí tuệ để so sánh với hiện thực được. Tình
    cảm của đám đông bao giờ cũng đơn giản và phấn

    khích mạnh. Như vậy là đám đông không hề biết đến
    nghi ngờ và dao động” (trang 193).
    Trong việc giải thích giấc mơ nhờ đó chúng ta biết
    rất nhiều về họat động của vô thức chúng tôi đã theo kĩ
    thuật sau đây: chúng tôi không quan tâm đến những mối
    nghi ngờ, thiếu tự tin trong khi kể lại giấc mơ và coi tất
    cả các yếu tố của giấc mơ bộc lộ đều là yếu tố chắc
    chắn. Chúng tôi coi sự nghi ngờ, thiếu tự tin là do họat
    động của kiểm duyệt và giả định rằng những ý nghĩ khởi
    thủy của giấc mơ thì chưa có nghi ngờ nghĩa là một hình
    thức phê phán. Dĩ nhiên nghi ngờ và thiếu tự tin cũng
    như mọi thứ khác có thể là vết tích từ lúc thức và khơi
    động giấc mơ xuất hiện (xem Giải thích giấc mơ
    [Traumdeutung] - bản tiếng Nga, in lần thứ 5, 1919,
    trang 386).
    “Đám đông tiến ngay đến chỗ cực đoan nhất, một
    điều mơ hồ vừa được nói ra lập tức trở thành hiển
    nhiên, một chút ác cảm mới nhen nhúm bùng ngay
    thành lòng căm thù hung bạo (trang 186). Khuynh
    hướng phóng đại, qúa trớn như thế cũng đặc trưng cho
    những kích động của trẻ con, khuynh hướng đó lặp lại
    trong giấc mơ. Trong mơ, do sự cách li của các kích
    động tình cảm trong vô thức mà một chút bực dọc lúc
    ban ngày có thể trở thành ước muốn sát hại kẻ có lỗi,
    còn một ý nghĩ tội lỗi thoáng qua có thể trở thành
    nguyên cớ một hành động tội lỗi được thể hiện trong
    giấc mơ. Bác sĩ Hans Sachs có nhận xét rất hay: “Chúng
    ta sẽ tìm thấy trong ý thức những điều giấc mơ thông
    báo cho ta về quan hệ của ta với thực tại, cũng như ta
    chẳng nên ngạc nhiên nếu dưới kính hiển vi con sinh vật

    đơn bào đã biến thành một quái vật”. (xem Giải thích
    giấc mơ [Traumdeutung] bản tiếng Nga, in lần thứ 5,
    1919).
    Đám đông vốn có xu hướng cực đoan nên chỉ
    những kích động phóng đại mới gây cho nó phấn khích
    mà thôi. Kẻ muốn có ảnh hưởng với đám đông chẳng
    cần lí lẽ đúng, hắn chỉ cần tạo ra những bức tranh thật
    rực rỡ, phóng đại và lặp đi lặp lại một chuyện là đủ. “Vì
    đám đông không nghi ngờ vào tính đúng đắn hay sai
    lầm của lí lẽ của nó trong lúc hiểu rõ sức mạnh của mình
    cho nên nó vừa thiếu khoan dung vừa sùng tín đối với
    thủ lĩnh. Đám đông tôn thờ sức mạnh, việc thiện đối với
    nó chỉ là biểu hiện của sự yếu đuối. Đám đông đòi hỏi
    các anh hùng của nó phải có sức mạnh và uy lực. Đám
    đông muốn bị thống trị, muốn bị đè nén. Nó muốn sợ kẻ
    thống trị. Đám đông rất bảo thủ, nó khinh bỉ mọi điều
    mới mẻ và tiến bộ, nó sùng kính tuyệt đối truyền thống
    (trang 189).
    Để có thể đánh giá đúng về tư cách của đám đông
    ta phải chú ý đến sự kiện sau: trong đám đông các cơ
    chế ngăn chặn của từng người biến mất trong khi tất cả
    những bản năng dữ tợn, tàn bạo, phá hoại, vết tích của
    thời tiền sử vẫn mơ màng trong người ta bỗng bừng tỉnh
    và đòi được tự do thoả mãn dục vọng của mình. Nhưng
    dưới ảnh hưởng của ám thị đám đông cũng có thể có
    những hành vi cao thượng: vị tha, tận tụy với lí tưởng,
    bất vụ lợi. Lợi lộc gần như là cái lò xo duy nhất thúc đẩy
    cá nhân thì đối với đám đông ít khi nó là động cơ số
    một. Người ta có thể nói về tác động giáo hóa của đám
    đông đối với cá nhân (trang 192). Trong khi trí tuệ của

    đám đông bao giờ cũng thấp hơn trí tuệ của một cá
    nhân thì về phương diện đạo đức nó có thể: hoặc là cao
    hơn rất nhiều hoặc là thua xa một cá nhân riêng lẻ.
    Một số nét đặc trưng khác được Le Bon mô tả
    cũng cho thấy sự đúng đắn của việc đồng nhất tâm hồn
    đám đông với tâm hồn của người tiền sử. Trong đám
    đông có thể có những ý tưởng hoàn toàn trái ngược
    nhau cùng tồn tại mà không hề tạo ra xung đột vì mâu
    thuẫn. Phân tâm học đã chứng minh có những trường
    hợp như thế trong vô thức của một số người, của trẻ em
    và của người suy nhược thần kinh. Thí dụ ở trẻ em có
    thể tồn tại trong một thời gian dài những tình cảm trái
    ngược nhau đối với người thân cận nhất mà không hề
    gây bất kì trở ngại nào. Nếu cuối cùng mà có xảy ra
    xung đột giữa các khía cạnh tình cảm trái ngược nhau
    đó thì xung đột sẽ được giải quyết bằng cách đổi đối
    tượng, đứa trẻ sẽ chuyển một trong hai tình cảm mâu
    thuẫn đó sang một người khác. Nghiên cứu lịch sử phát
    triển bệnh thần kinh ở người lớn, thường khi ta cũng
    thấy rằng một tình cảm bị đè nén có thể tồn tại rất lâu
    trong những tưởng tượng vô thức và ngay cả hữu thức,
    mà nội dung của nó dĩ nhiên là ngược với xu hứơng chủ
    đạo, nhưng dù có mâu thuẫn như vậy vẫn không xuất
    hiện cái “Tôi” phản kháng, chống lại cái mà nó bác bỏ.
    Trí tưởng tượng được dung thứ trong một thời gian dài
    cho đến khi, do sự tăng cao quá mức của tình trạng kích
    động một cách bất thình lình mà xảy ra xung đột với cái
    “Tôi”, với tất cả những hậu quả kèm theo. Khi đứa trẻ
    phát triển thành người lớn cá tính của nó trở nên ngày
    càng thống nhất, thành sự hợp nhất các dục vọng và

    ước nguyện, đã từng phát triển độc lập với nhau. Chúng
    ta cũng đã biết một qúa trình tương tự như vậy trong đời
    sống tình dục dưới dạng hợp nhất các xu hướng dục
    tính thành cái mà chúng ta gọi là tổ chức tính dục Nhiều
    thí dụ mà chúng tôi biết lại chứng tỏ rằng sự hợp nhất
    của cái “Tôi” cũng như sự hợp nhất của tính dục (libido)
    có thể gặp thất bại: thí dụ như các nhà tự nhiên học tiếp
    tục tôn sùng kinh thánh v.v…
    Ngoài ra, đám đông còn bị mê hoặc bởi ma lực của
    ngôn từ, ngôn từ có thể tạo ra trong lòng đám đông
    những cơn bão kinh hoàng cũng như có thể trấn an
    được nó. “Lí lẽ và sự thuyết phục không thể nào chống
    lại được một số từ ngữ, một vài công thức có sẵn. Chỉ
    cần nói những từ đó hay những công thức đó trước đám
    đông với một thái độ sùng tín thì lập tức người ta sẽ cúi
    đầu và nét mặt sẽ đầy thành kính” (trang 235). Ta hãy
    nghĩ đến các huý kị của người tiền sử và sức mạnh ma
    thuật mà họ gắn cho danh từ và tên gọi . Sau hết: đám
    đông không bao giờ khao khát chân lý. Họ đòi hỏi ảo
    tưởng mà họ không thể nào thoát ra được. Đối với đám
    đông cái phi thực lại ưu việt hơn cái thực, cái không hiện
    hữu cũng có ảnh hưởng mạnh như cái hiện hữu. Đám
    đông có xu hướng không phân biệt giữa có và không
    (trang 203).
    Chúng tôi đã chứng minh rằng óc tưởng tượng và
    ảo tưởng quá mức do ham muốn không được thoả mãn
    là bước khởi đầu quyết định tạo ra các chứng suy
    nhược thần kinh. Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng đối
    với người bị suy nhược thần kinh thì cái có giá trị không
    phải là hiện thực khách quan bình thường, mà chính là

    hiện thực do tâm lí của họ tạo ra. Triệu chứng loạn thần
    kinh phát sinh chỉ do tưởng tượng chứ không tái tạo một
    cảm xúc có thật; một cảm tưởng tội lỗi ám ảnh một
    người nào đó thực ra chỉ căn cứ trên cơ sở một dự định
    độc ác mà chưa bao giờ được thực hiện. Cũng như
    trong giấc mơ và thôi miên, trong tâm lí đám đông
    nguyên tắc thực tiễn bị sức mạnh của các ước muốn
    phấn khích đẩy xuống hàng thứ yếu.
    Những điều mà Le Bon nói về lãnh tụ của đám
    đông không được đầy đủ lắm, không cho phép ta tìm ra
    qui luật nhất định nào. Ông giả định rằng ngay khi các
    con vật tụ tập lại, không kể đấy là đàn gia súc hay một
    nhóm người, thì chúng đều theo bản năng mà phục tùng
    uy lực của lãnh tụ. Đám đông là một bầy đàn dễ sai
    khiến và không thể sống thiếu chúa tể. Đám đông khao
    khát phục tòng đến nỗi nó sẽ theo bản năng mà tuân
    phục ngay kẻ nào tuyên bố là chúa tể của nó. Nếu đám
    đông cần một lãnh tụ thì lãnh tụ cũng phải có một số
    phẩm chất cá nhân phù hợp. Chính hắn phải tin tưởng
    một cách cuồng nhiệt (vào một lí tưởng) để có thể đánh
    thức niềm tin ấy trong quần chúng; hắn phải có một ý chí
    đáng khâm phục để có thể truyền ý chí này cho đám
    đông nhu nhược (trang 247).
    Tiếp theo Le Bon thảo luận những kiểu lãnh tụ
    khác nhau và những thủ thuật mà các lãnh tụ dùng để
    gây ảnh hưởng với quần chúng. Nói chung thì Le Bon
    cho rằng các lãnh tụ gây ảnh hưởng bằng các lí tưởng
    mà chính các lãnh tụ cũng tin một cách cuồng nhiệt. Le
    Bon gán cho các lí tưởng này cũng như cho các lãnh tụ
    một sức mạnh vô địch và bí hiểm mà ông gọi là “uy tín”.

    Uy tín là một dạng thống trị của một cá nhân, một tác
    phẩm hay một lí tưởng đối với chúng ta. Sự thống trị này
    làm tê liệt tất cả những khả năng phê phán của cá nhân
    và làm cho cá nhân chỉ còn biết ngạc nhiên và kính
    phục. Sự thống trị đó có thể tạo ra những tình cảm giống
    như khi bị thôi miên (trang 259). Ông còn chia ra uy tín
    tự giành được hay uy tín giả tạo và uy tín cá nhân. Uy
    tín giành được do tên tuổi, tài sản, tiếng tăm; uy tín của
    dư luận, của tác phẩm nghệ thuật tạo ra bằng con
    đường truyền thống. Trong mọi trường hợp uy tín đều có
    gốc gác từ trong quá khứ nên nó không cho ta nhiều tư
    liệu để có thể nghiên cứu ảnh hưởng bí hiểm này. Chỉ
    một ít người có uy tín cá nhân mà nhờ thế họ trở thành
    lãnh tụ; mọi người khuất phục họ như có ma thuật vậy.
    Nhưng uy tín phụ thuộc vào thành công và có thể biến
    mất nếu thất bại (trang 268). Chúng tôi có cảm tưởng
    rằng Le Bon chưa đưa được vai trò của lãnh tụ và ảnh
    hưởng của uy tín vào một mối liên hệ đúng đắn với điều
    được ông mô tả tuyệt vời là tâm lí đám đông.

    3. NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC VỀ TÂM LÍ ĐÁM
    ĐÔNG
    Chúng tôi dùng cuốn sách của Le Bon làm phần đề
    dẫn vì ông nhấn mạnh đến vai trò của hoạt động vô thức
    trùng hợp với quan niệm về tâm lí của chính chúng tôi.
    Tuy nhiên chúng tôi phải nói rằng không có luận điểm
    nào của ông là mới mẻ cả. Tất cả những biểu hiện vô
    trách nhiệm và nhục nhã của tâm lí đám đông mà ông
    nói tới cũng đã được các tác giả khác trước ông nói với
    cùng một mức xác quyết và thù địch như vậy; tất cả
    những điều đó đã được các nhà văn, nhà thơ, các nhà
    tư tưởng, các chính trị gia từ thời cổ đại nói đến nhiều
    lần. Hai luận điểm quan trọng nhất của Le Bon là luận
    điểm về sự ức chế tập thể trong hoạt động trí tuệ và
    phóng đại cảm xúc của đám đông cũng đã được Sighele
    đưa ra gần đây. Cái đặc sắc của Le Bon chỉ còn là hai ý
    kiến về vô thức và so sánh với đời sống tinh thần của
    người tiền sử. Tuy nhiên hai điểm này cũng đã được nói
    đến trước ông rồi.
    Hơn thế nữa: việc mô tả và đánh giá tâm lí đám
    đông như ta thấy trong tác phẩm của Le Bon và của
    những người khác không phải là hoàn toàn vững chắc.
    Không nghi ngờ gì rằng tất cả những hiện tượng của
    tâm lí đám đông đã được mô tả trước đây là đúng,
    nhưng có thể nói rằng một số biểu hiện khác ngược lại
    hoàn toàn cho phép ta đánh giá tâm lí quần chúng cao
    hơn rất nhiều.
    Ngay Le Bon cũng sẵn sàng nhận rằng trong một
    số hoàn cảnh đạo đức của đám đông có thể cao hơn

    đạo đức của từng cá nhân hợp thành và chỉ có đám
    đông mới có khả năng làm những hành động bất vụ lợi
    và hi sinh cao cả. “Lợi ích cá nhân hiếm khi là động lực
    mạnh mẽ của đám đông, trong khi nó chiếm vị thế quan
    trọng nhất đối với từng cá nhân riêng rẽ” (trang 193).
    Một số người khác thì cho rằng nói chung chỉ có xã
    hôi mới có thể đặt ra các qui phạm đạo đức cho cá nhân
    theo, trong khi trong một số lĩnh vực từng cá nhân riêng
    lẻ không thể vươn tới những đòi hỏi cao đó hay trong
    một vài trường hợp đặc biệt trong đám đông có thể bùng
    lên những hiện tượng hứng khởi nhờ đó quần chúng có
    thể làm được những hành vi cao thượng nhất.
    Đúng là trong lĩnh vực hoạt động trí tuệ thì ta phải
    nhận rằng những kết quả quan trọng nhất của hoạt động
    tư tưởng, những phát minh kéo theo hệ quả to lớn, việc
    giải quyết các vấn đề phức tạp chỉ dành cho các cá nhân
    làm việc trong môi trường đơn độc. Nhưng linh hồn
    quần chúng cũng có sức sáng tạo tinh thần to lớn mà
    minh chứng trước hết là ngôn ngữ, sau nữa là dân ca,
    folklore… Ngoài ra chúng ta không thể biết có bao nhiêu
    nhà tư tưởng hay nhà thơ đã từng lấy cảm hứng từ
    chính đám quần chúng mà họ là thành viên; mà có thể
    họ chỉ là những người thực hiện cái sự nghiệp mà trong
    đó đồng thời có cả những người khác tham dự nữa.
    Do những mâu thuẫn rõ ràng như vậy ta dễ có cảm
    tưởng rằng môn tâm lí đám đông là môn học vô bổ.
    Nhưng chúng ta có thể tìm được một lối ra cho phép hi
    vọng tìm được giải đáp khả quan. Danh từ đám đông
    được nhiều người gán cho những tập hợp khác nhau
    mà đúng ra cần phải tách biệt. Tác phẩm của Sighele,

    Le Bon và nhiều người khác liên quan đến những đám
    đông không bền vững, được tạo ra một cách nhanh
    chóng từ những cá nhân khác hẳn nhau, chỉ liên kết với
    nhau bởi những mối quan tâm nhất thời. Không nghi
    ngờ gì rằng đặc điểm của các đám đông quần chúng
    cách mạng mà cụ thể là cuộc Cách mạng Pháp (1789 –
    1799, ND) đã có ảnh hưởng đến các tác phẩm của họ.
    Những khẳng định ngược lại dựa trên cơ sở đánh giá
    các khối quần chúng ổn định hay những cộng đồng mà
    ở đó con người sống suốt đời, những cộng đồng đã thể
    hiện thành các định chế xã hội. Đám đông loại thứ nhất
    đối với đám đông loại thứ hai cũng như các đợt sóng
    ngắn nhưng cao đối với các con sóng dài trong những
    vùng nước nông vậy.
    Mc Dougal trong tác phẩm The Group Mind, xuất
    phát từ mâu thuẫn nêu trên đã tìm được lời giải cho nó
    bằng cách đưa thêm vào yếu tố tổ chức. Ông nói rằng
    trong trường hợp đơn giản nhất, đám đông (group) hoàn
    toàn vô tổ chức hoặc là có tổ chức sơ sài không đáng
    kể. Ông gọi khối quần chúng ấy là đám đông (crowd).
    Nhưng ông công nhận rằng thật khó tập hợp được một
    đám đông như vậy nếu như trong đó không hình thành ít
    nhất là những cơ sở ban đầu của một tổ chức, và chính
    trong cái khối quần chúng đơn giản ấy đặc biệt dễ dàng
    nhận ra một số sự kiện chủ yếu của tâm lí đám đông.
    Nhóm người tụ họp một cách tình cờ chỉ có thể trở
    thành khối quần chúng về mặt tâm lí với điều kiện là họ
    có cùng một điểm chung nào đó: cùng quan tâm đến
    một đối tượng, cảm xúc như nhau trong một hoàn cảnh
    nhất định và (nếu là tôi thì tôi nói là: vì vậy mà) có khả

    năng ảnh hưởng lẫn nhau giữa các thành viên trong
    nhóm (trang 23). Điểm chung mà càng mạnh thì họ càng
    dễ họp thành đám đông tâm lí và biểu hiện của tâm lí
    đám đông càng rõ rệt. Hiện tượng đặc biệt hơn cả đồng
    thời cũng quan trọng hơn cả của đám đông là sự phóng
    đại xúc cảm của từng cá nhân (trang 24).
    Theo ý kiến của Mc Dougall thì khó có điều kiện
    nào mà cảm xúc của người ta lại đạt đến mức như khi
    nằm trong đám đông và như thế từng người một đều
    cảm thấy khoan khoái, không còn cảm giác cô đơn, họ
    để cho dục vọng vô giới hạn của mình dẫn dắt và cùng
    với nó tan vào đám đông. Mc Dougall giải thích cái nhiệt
    huyết đó của cá nhân bằng nguyên tắc cảm ứng trực
    tiếp thông qua giao cảm nguyên thủy, nghĩa là hiện
    tượng truyền nhiễm tình cảm mà ta đã biết (trang 25).
    Thực chất là những dấu hiệu rõ ràng của trạng thái phấn
    khích có khả năng tự động tạo ra những phấn khích như
    thế ở ngư...
     
    Gửi ý kiến

    vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam