LỜI CHÚC

BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT WEBSITE

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1

    Tâm Lý Học Tội Phạm - Phác Họa Chân Dung Kẻ Phạm Tội - Diệp Hồng Vũ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:34' 09-03-2024
    Dung lượng: 2.9 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    THÔNG TIN EBOOK

    Tâm Lý Học - Phác Họa Chân Dung Kẻ Phạm Tội
    Diệp Hồng Vũ
    Đỗ Ái Nhi dịch
    BeBooks & Nhà Xuất Bản Thanh Niên
    More Books At

    fb.com/groups/yeukindlevietnam
    Notion Ebook Member

    tinyurl.com/downloadebookyeukindle

    “Mọi thông tin được trích xuất từ trí óc và cách gây án của một kẻ giết
    người chính là nguồn tiếp tế để tìm ra kẻ phạm tội tiếp theo."
    - Robert K. Ressler -

    LỜI NÓI ĐẦU

    Một người đàn ông đang tận hưởng chuyến đi dạo của mình tại
    núi Wopsononock ở Altoona thì bỗng vấp phải vật lạ. Cúi đầu nhìn
    kỹ, anh ta hoảng hốt phát hiện vật ngáng đường mình lại là một xác
    chết. Quá sợ hãi, người đàn ông này lập tức báo cảnh sát.
    Cảnh sát địa phương nhanh chóng có mặt tại hiện trường, kết
    quả khảo sát sơ bộ cho thấy thi thể bị cắt xẻ nghiêm trọng. Phần thi
    thể bị nhân chứng va vào vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Người chết
    có dấu hiệu bị đánh, hai mắt bầm tím, xương cằm dưới đứt lìa. Tình
    trạng khuôn mặt nạn nhân chỉ có thể miêu tả bằng hai từ “thê thảm”.
    Không chần chừ, cảnh sát vùng Altoona bắt tay vào điều tra án
    mạng, nhưng không thể tìm ra manh mối khiến vụ án rơi vào bế tắc.
    Để có thể nhanh chóng bắt được kẻ thủ ác1, họ đã cầu cứu FBI.

    Chuyên gia lập hồ sơ tội phạm của FBI, John Douglas đã tới trước
    để hỗ trợ.
    Sau khi nghiên cứu tình tiết vụ án, ảnh chụp hiện trường và báo
    cáo pháp y, Douglas đã phác họa được hồ sơ tâm lý cơ bản của
    hung thủ bao gồm độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và một số manh
    mối khác. Dựa theo những phán đoán của Douglas, cảnh sát địa
    phương đã tiến hành tìm kiếm và bắt giữ hai đối tượng tình nghi. Sau
    khi trải qua quá trình thẩm vấn nghiêm ngặt, quả thật một trong hai
    đối tượng chính là kẻ phạm tội.
    Làm thế nào mà John Douglas có thể phân tích được tuổi tác và
    trình độ học vấn của hung thủ? Rốt cuộc thủ phạm là ai? Vì sao hắn
    lại xuống tay tàn nhẫn như vậy? Chắc hẳn đây là những thắc mắc mà
    ai cũng có. Thông qua cuốn sách này, chúng ta sẽ cùng đi tìm đáp án
    cho những câu hỏi trên.
    Thực chất, phương pháp này của Douglas chính là phác họa hồ
    sơ tâm lý tội phạm, ngày nay được biết đến với cái tên “hồ sơ tội
    phạm” hoặc “nghiên cứu hành vi”. Tổ khoa học hành vi thuộc Cục
    điều tra liên bang Mỹ (FBI2) được thành lập vào năm 1972 là đơn vị
    đầu tiên áp dụng kỹ thuật phân tích tâm lý tội phạm này. Trong quá
    trình phá án, các điệp vụ của FBI đã tìm hiểu quy luật hành vi và quy
    luật tâm lý của tội phạm trong quá trình giao tiếp với hung thủ. Sau
    này, các mật vụ FBI đã đề xuất thành lập một dự án có tính chiến
    lược và hệ thống để nghiên cứu chủ đề tâm lý và hành vi tội phạm,
    qua đó có một cái nhìn sâu sắc hơn về bối cảnh trưởng thành, phân
    tích hiện trường vụ án và các đặc điểm của nạn nhân để nắm bắt

    được phần lớn nội tâm, hành động và quy luật sinh hoạt của kẻ
    phạm tội.
    Trong quá trình nghiên cứu, FBI còn sử dụng nhiều dữ liệu từ các
    nhà chức trách, ví dụ như báo cáo điều tra của cảnh sát, biên bản
    thẩm vấn, lịch sử phạm tội,.. Những tài liệu này sẽ xác định phương
    hướng trinh sát, đồng thời thông qua hiện trường vụ án để phân tích
    hành vi, đoán biết đặc trưng tâm lý tội phạm. Tiếp theo đó, dựa vào
    những đặc điểm được suy đoán để xây dựng hình ảnh nghi phạm,
    bối cảnh gia đình và tính cách. Đây chính là “phác họa hồ sơ tâm lý
    tội phạm”. Về sau, kỹ thuật phác họa tâm lý dần dần được áp dụng
    vào nhiều vụ án khác nhau.
    Phương pháp này được biết đến rộng rãi hơn nhờ phim điện ảnh
    nổi tiếng thế giới “Sự im lặng của bầy cừu3”. Đoàn làm phim đã nhận
    được nhiều sự giúp đỡ từ FBI và được phép thực hiện một số cảnh
    phim tại chính trung tâm huấn luyện của Tổ khoa học hành vi. Ngoài
    ra, một số nhân viên của FBI cũng tham gia đóng những vai nhỏ
    trong phim. Sau thành công của “Sự im lặng của bầy cừu”, nhiều
    khán giả đã hiểu nhầm cũng như thần thánh hóa khả năng phác họa
    tâm lý và phân tích hành vi, cho rằng điều đó có thể giúp phá án tuyệt
    đối.
    Trên thực tế, tuy trực giác và kinh nghiệm rất quan trọng, nhưng
    mấu chốt vẫn là thu thập và đối chiếu số liệu. Một trong những thành
    viên sáng lập của Tổ khoa học hành vi John Douglas từng chia sẻ,
    trong quá trình điều tra, cảnh sát cần thẩm vấn tất cả những người
    có liên quan, đồng thời đi sâu vào tìm hiểu từng người, bởi như vậy
    mới có thể thu thập được thông tin tâm lý có giá trị.

    Tám chương của cuốn sách sẽ sử dụng những vụ án có thật để
    dẫn người đọc theo bước các chuyên gia lập hồ sơ tội phạm, trả lời
    cho câu hỏi làm thế nào để phân tích được tâm lý và hành vi tội
    phạm, giúp chính quyền bắt được hung thủ. Ngoài ra, cuốn sách
    cũng giới thiệu cho độc giả quá trình phát triển, các kỹ năng và kiến
    thức lập hồ sơ tội phạm. Nhờ đó, độc giả sẽ có cái nhìn sâu sắc, rõ
    ràng hơn về bộ môn tâm lý tội phạm và trở thành những cao thủ phá
    án đích thực.

    PHẦN 1: BÓNG MA TUỔI THƠ GIEO MẦM CÁI
    ÁC

    Chương 1

    Sát Thủ Uống Máu Người Richard Trenton
    Chase

    Ngày 23 tháng 1 năm 1978, tại một thị trấn nhỏ ở vùng
    Sacramento, California, tài xế xe tải David Walling kết thúc công việc
    sớm để trở về với người vợ đang có bầu của mình. Về đến nhà,
    David không thấy vợ chờ mình ở cửa như thường lệ, anh cất tiếng
    gọi nhưng không có ai trả lời. Nhất thời, một dự cảm không lành
    dâng lên trong lòng David.
    Sau khi tắt máy, David vội vào nhà tìm vợ. Trong phòng ngủ, cảnh
    tượng đập vào mắt khiến anh kinh hoàng: Người vợ đang mang thai
    nằm giữa một vũng máu, phần bụng bị rạch toang ra một cách tàn
    nhẫn.
    Quá sợ hãi, David chạy ra khỏi nhà và cầu cứu hàng xóm, gọi
    điện báo cảnh sát. Sau khi có mặt, cảnh sát ngay lập tức tiến hành
    điều tra sơ bộ. Họ phát hiện ra quần áo và đồ đạc trên người nạn
    nhân đều bị lột sạch nhưng lại không tìm thấy vật tùy thân ở hiện
    trường. Trên người nạn nhân có nhiều vết đâm, nội tạng bị móc ra,
    cắt nhỏ. Cạnh thi thể có một lọ sữa chua rỗng, bên trong vẫn dính

    máu của người bị hại. Vì vậy, cảnh sát kết luận rằng hung thủ là một
    kẻ vô cùng tàn ác, hắn ta đã đổ máu của người chết vào lọ sữa chua
    rồi uống. Thêm vào đó, cơ thể nạn nhân còn mất vài bộ phận. Ngoài
    những điều trên, cảnh sát không thu được manh mối nào khác.
    Sau vài lần điều tra, cảnh sát không tìm được động cơ gây án
    của hung thủ. Ngoại trừ quần áo mặc trên người nạn nhân, đồ đạc có
    giá trị trong nhà vẫn nguyên vẹn. Cuối cùng, chính quyền địa phương
    đành phải nhờ đến sự giúp đỡ của FBI. Sau khi tiếp nhận vụ án, đặc
    vụ FBI Lars Volpagle đã liên hệ với Robert K. Ressler, chuyên gia lập
    hồ sơ tội phạm được đào tạo đặc biệt của FBI.
    Sau khi nắm được thông tin về cách gây án, thời gian, địa điểm
    và đặc điểm của người bị hại, Ressler đã có những phác họa đầu
    tiên về hung thủ như sau: Nam giới, người da trắng, độ tuổi trong
    khoảng từ 25 đến 27, dáng người cao gầy, nơi ở bẩn thỉu, lộn xộn.
    Nhiều khả năng có thể tìm thấy tang chứng tại nơi ở của kẻ giết
    người. Ngoài ra, hắn cũng có tiền sử bệnh thần kinh, thậm chí là
    nghiện ma túy, tính cách quái gở, lầm lì, không giỏi giao tiếp. Người
    này thường một thân một mình, không có công ăn việc làm, sống
    dựa vào trợ cấp xã hội. Đồng thời, hắn cũng chưa từng nhập ngũ, bỏ
    học khi đang học cấp ba hoặc đại học, có một hoặc nhiều bệnh
    hoang tưởng.
    Với kinh nghiệm phá án dày dạn, Ressler có thể đoán được
    chủng tộc và độ tuổi của hung thủ là vì vụ án có tính chất xâm hại
    tình dục. Trong những vụ án tương tự, hung thủ thường là nam giới,
    tuổi từ 20 đến 30. Ngoài ra, có rất ít các vụ án xâm hại tình dục đa sắc
    tộc, thông thường chỉ có người da trắng tấn công người da trắng,
    người da đen tấn công người da đen. Thêm vào đó, nạn nhân sống

    trong khu vực của người da trắng, sự xuất hiện của một người da
    đen sẽ gây chú ý. Chính vì vậy, Ressler phán đoán rằng đây là án
    mạng cùng sắc tộc.
    Dựa vào các thành quả nghiên cứu về tội phạm, Ressler phân kẻ
    phạm tội thành hai loại: Kiểu thứ nhất gây án có logic, tuân theo
    những thủ pháp cố định. Kiểu thứ hai là những kẻ hành sự không có
    tính logic về mặt tâm lý và hành vi. Ảnh chụp hiện trường và báo cáo
    suy luận cho thấy hung thủ thuộc loại thứ hai. Kẻ giết người trong vụ
    án bà Walling không có quy tắc và cũng không dọn dẹp những dấu
    vết dễ để lộ thân phận. Từ đó có thể đoán ra hung thủ có bệnh thần
    kinh nghiêm trọng.
    Ngoài ra, những hành vi tàn ác của kẻ sát nhân đối với người bị
    hại cho thấy hắn đã chịu ảnh hưởng của bệnh tâm lý từ rất sớm.
    Kiến thức tâm lý học giúp Ressler suy đoán rằng hắn có thể mắc
    chứng hoang tưởng ảo giác. Hầu hết những giai đoạn đầu của
    chứng hoang tưởng ảo giác sẽ phát tác vào năm 19 tuổi. Vì loại bệnh
    tâm thần này có thời gian ủ bệnh khoảng mười năm nên Ressler nói
    rõ hơn độ tuổi của kẻ sát nhân có lẽ là từ 20 đến 30 tuổi.
    Những người mắc căn bệnh tâm thần này thường không ăn uống
    cẩn thận, dinh dưỡng kém, vì vậy có thể đoán được ngoại hình của
    thủ phạm khá gầy, dong dỏng. Đồng thời, trạng thái tâm lý cũng
    thường biểu hiện ra bên ngoài. Nhìn chung, người mắc bệnh không
    chú ý giữ gìn vệ sinh, bộ dạng nhếch nhác nên cũng không được
    người khác yêu quý, sống độc thân. Từ những điều này, Ressler kết
    luận rằng nơi ở của hung thủ chắc chắn sẽ rất bừa bộn, bẩn thỉu.
    Với những đặc điểm trên, mẫu người này cũng sẽ không được
    quân đội tuyển chọn, nhờ vậy mà Ressler có thể nói rằng hắn chưa

    từng nhập ngũ. Người mắc chứng hoang tưởng ảo giác thường có
    khả năng hoàn thành trung học phổ thông nhưng không thi đậu đại
    học. Vì vậy, những người này nếu có việc làm thì cũng sẽ là những
    công việc vặt vãnh hoặc bán thời gian. Tuy nhiên, vì tính cách quái dị,
    khả năng cao là họ cũng không làm được việc, chỉ có thể sống nhờ
    vào trợ cấp xã hội.
    Bên cạnh việc tiến hành phân tích sơ bộ tâm lý tội phạm, Ressler
    còn đưa ra phán đoán ở những phương diện khác. Ví dụ như nếu
    hung thủ lái xe khi hành động, chắc chắn đó sẽ là một chiếc xe lụp
    xụp. Tuy nhiên, do kẻ sát nhân có tiền sử bệnh tâm thần, trạng thái
    tinh thần hỗn loạn nên không thể lái xe đến rồi lại lái xe về sau khi
    gây án. Vì lý do này, Ressler cho rằng thủ phạm là một người sống
    gần nhà người bị hại, hắn đã đi bộ đến và đi sau khi sát hại nạn nhân.
    Đồng thời, ông còn đưa ra giả thiết rằng kẻ phạm tội là một bệnh
    nhân được thả ra khỏi viện tâm thần khoảng một năm trước đó.
    Trong thời gian Ressler chuẩn bị tham gia tiếp nhận vụ án, hung
    thủ tái xuất. Ngày 26 tháng 1, tại một ngôi nhà cách hiện trường vụ án
    khoảng 1 km, ba người bị bắn chết bằng súng lục 22 ly. Nạn nhân lần
    lượt là Evelyn Milos 36 tuổi, con trai cô Jason 6 tuổi và người bạn
    Daniel J. Merris 32 tuổi.
    Cả ba người đều bị sát hại thê thảm, đặc biệt là Milos. Không
    những bị bắn, thi thể nạn nhân còn có nhiều vết dao, các cơ quan nội
    tạng bị moi ra, cắt nát. Trong phòng, nước bồn tắm bị máu nhuộm đỏ.
    Sau khi điều tra, cảnh sát phát hiện hung thủ còn uống huyết dịch
    của nạn nhân.
    Sau đó, một nạn nhân nữa xuất hiện khi cháu trai 22 tháng tuổi
    của Milos cũng biến mất, nhiều khả năng đã bị hung thủ dùng xe ô tô

    du lịch của Merris bắt đi. Vì vậy, cảnh sát xem xét kỹ lưỡng các khu
    vực lân cận và tìm thấy chiếc xe bị bỏ lại ở một nơi không xa. Lần
    theo vết máu dính ở hiện trường, có thể đoán rằng đứa bé lành ít dữ
    nhiều.
    Báo cáo của cơ quan chức năng cho thấy nhà của người bị hại
    không mất đồ đạc. Nạn nhân Milos là bảo mẫu, tính tình hiền lành,
    thân thiện, không có kẻ thù. Khi nghe tin cô bị sát hại, hàng xóm láng
    giềng đều cảm thấy khó hiểu. Vì vậy, phía cảnh sát lại rơi vào bế tắc,
    không thể tìm ra động cơ gây án của thủ phạm.
    Ressler nghe tin về vụ án bèn bổ sung thêm một số chi tiết trong
    hồ sơ phác thảo bao gồm sống một mình, nơi trú ẩn cách địa điểm
    vứt xe khoảng 800 - 1600m. Sau khi thảo luận cùng Lars Volpagle,
    Ressler cho rằng hung thủ còn có chứng ám ành cuồng tín, những
    thứ hắn lấy trộm không phải là đồ vật có giá trị mà là nữ trang. Trước
    khi phạm tội, hắn đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm đồ nhằm thỏa
    mãn nỗi ám ảnh của mình, cội nguồn của căn bệnh này bắt nguồn từ
    trải nghiệm thời thơ ấu.
    Dựa trên những manh mối về chân dung tội phạm do Ressler
    cung cấp, đặc vụ FBI Lars Volpagle đã phối hợp cùng cảnh sát địa
    phương lấy chiếc xe du lịch bị bỏ lại làm trung tâm, thu thập vết tích
    trong bán kính khoảng 800m. Trong quá trình tìm kiếm, một người
    dân địa phương đã cung cấp cho cảnh sát thông tin hết sức quan
    trọng: Vào ngày bà Walling bị sát hại, cô đã gặp lại bạn cùng trường
    cấp ba mười năm trước là Richard Trenton Chase. Nhưng khi trông
    thấy bộ dạng của Chase, cô đã trở nên sợ hãi vì ngoại hình gầy gò,
    hai mắt trũng sâu, đầu tóc rối bời và chiếc áo phông dính máu.

    Lúc đó, cô đang ngồi trong xe hơi, Chase muốn trò chuyện nên
    đã nắm lấy cửa xe. Tuy nhiên, cô lập tức lái xe bỏ đi.
    Thông tin mà người dân này cung cấp có nhiều điều trùng khớp
    với chân dung kẻ sát nhân của Resser, vì vậy đặc vụ FBI Lars
    Volpagel và cảnh sát địa phương quyết định tiến hành một cuộc điều
    tra sâu và theo dõi Richard Trenton Chase. Họ phát hiện ra rằng
    Chase sống cách khu vực chiếc xe bị bỏ lại chưa đầy một con phố.
    Thêm vào đó, cạnh nơi ở của anh ta có một chiếc ô tô cũ nát, chứa
    đầy báo cũ, chai rượu, chăn màn, v.v... Ngoài ra, họ cũng tìm thấy
    một con dao phay dài 30cm và một đội ủng dính máu trong xe.
    Cảnh sát quyết định bắt giữ Richard Trenton Chase. Lường
    trước sát nhân là một kẻ độc ác, điên cuồng và sở hữu súng lục 22
    ly, lực lượng chức năng dùng kế điệu hổ ly sơn để dụ hắn ra khỏi nơi
    trú ẩn. Một sĩ quan giả vờ làm người quản lý căn hộ để mượn điện
    thoại, trong khi đó, một người khác đi vòng qua cửa nhà Chase. Hắn
    ta nhanh chóng nhận ra điều bất thường, vội vàng cầm theo một
    chiếc vali, mở cửa và cố gắng tẩu thoát ra xe hơi của mình.
    Ngay lập tức, cảnh sát ập tới khống chế Chase. Họ tìm thấy súng
    và chiếc ví của Merris trên người hắn ta. Ngoài ra, vali mà Chase
    mang theo cũng dính đầy máu.
    Tại căn hộ của Chase, cảnh sát phát hiện phòng ở bừa bộn, quần
    áo vương vãi khắp nơi. Họ thu được manh mối gồm một số dây xích
    buộc động vật, ba máy xay lẫn máu và quần áo nhuốm máu. Tủ lạnh
    có lưu trữ bộ phận cơ thể người và nhiều bát đũa dính máu. Về sau,
    cảnh sát biết được rằng động cơ giết người của Chase là để uống
    máu người.

    Sau khi Chase bị bắt, nhiều phương tiện truyền thông đã đi sâu
    vào tìm hiểu và đưa tin về đời tư của hắn. Lúc này, tuổi thơ bi thảm
    của kẻ giết người mới được làm rõ. Mẹ của Chase là bệnh nhân mắc
    chứng hoang tưởng điển hình, tính tình hung dữ, nóng nảy và
    thường xuyên cãi vã với chồng. Từ nhỏ, Chase đã mắc bệnh tâm
    thần, lớn lên không có bạn bè rồi dần dần sa ngã, hút cần sa và trở
    thành con nghiện. Hắn từng bị bắt vì tàng trữ cần sa. Sau khi sống
    một mình, Chase bắt đầu giết, cắt xác động vật và uống máu chúng.
    Hắn tin rằng đây là cách duy nhất có thể ngăn trái tim mình bị teo
    nhỏ.
    Chase từng bị đưa vào viện tâm thần vì những hành vi kỳ lạ.
    Trong thời gian điều trị, hắn thường bắt chim trong rừng của bệnh
    viện và uống máu chúng, trên miệng luôn luôn có vết máu. Vì vậy,
    các bệnh nhân khác gọi hắn là ma cà rồng.
    Một thời gian sau, Chase được phép xuất viện. Sau khi được thả
    tự do, bằng một cách nào đó hắn có được một khẩu súng lục và bắn
    chết vật nuôi nhà hàng xóm để uống máu. Dần dần, hắn trở nên tàn
    bạo hơn và bắt đầu giết người. May mắn thay, cảnh sát đã kịp thời
    ngăn chặn các vụ thảm sát đẫm máu của hắn.
    Nhờ hồ sơ tâm lý tội phạm của chuyên gia tâm lý Robert K.
    Ressler đã phác họa chính xác hình ảnh về kẻ sát nhân, cảnh sát
    mới có thể tiến hành khám xét và bắt giữ nghi phạm. Ressler viết
    trong nhật ký rằng: “Chỉ phác họa thôi không thể tìm được hung thủ,
    chúng tôi vẫn phải dựa vào cảnh sát tuần tra để bắt kẻ thủ ác... Hồ sơ
    tâm lý tội phạm của tôi chỉ là một công cụ trong quá trình phá án.
    Trong trường hợp này, phác họa chân dung giúp thu hẹp phạm vi
    truy tìm kẻ sát nhân nguy hiểm.”


    CHIA SẺ CỦA CHUYÊN GIA LẬP HỒ SƠ TỘI PHẠM
    Trong quá trình điều tra, phác họa tâm lý tội phạm cần dựa vào
    những thông tin đã có về hành vi, đặc điểm tâm lý, động cơ gây án...
    của kẻ tình nghi để đi vào phân tích, từ đó dùng câu chữ để lột tả
    hình ảnh nhân vật, quy luật hành động của tội phạm. Điều này sẽ
    giúp cho việc phá án trở nên thuận lợi hơn.
    Phác họa tâm lý tội phạm còn có các cách gọi khác như phác họa
    hiện trường phạm tội, phác họa hồ sơ tâm lý, phác họa hung thủ,
    phác họa hành vi... Bộ môn này có nguồn gốc từ FBI, trong những
    năm 70 của thế kỷ 20, FBI đã thành lập Tổ khoa học hành vi, xây
    dựng những kỹ năng lập hồ sơ tội phạm dựa trên việc phân tích hiện
    trường vụ án.
    Lập hồ sơ tội phạm bao gồm bốn kỹ năng là điều tra hình sự,
    giám định pháp y, đánh giá tâm lý và nhân chủng học văn hóa. Thông
    thường, quy trình lập hồ sơ tội phạm bắt đầu từ việc bàn giao các
    thông tin về hiện trường vụ án, giám định pháp y, hành vi phạm tội và
    các chi tiết về người bị hại cho chuyên gia phác họa tâm lý. Sau đó,
    các chuyên gia sẽ tiến hành phân tích và gửi lại báo cáo về kẻ tình
    nghi.
    Nhìn chung, phác họa tâm lý tội phạm được xây dựng trên
    nguyên tắc của tâm lý học tội phạm và nhiều kiến thức từ các ngành
    khoa học khác. Thông qua phân tích tâm lý và các dấu vết hoặc chi
    tiết mà tội phạm để lại tại hiện trường có thể tìm ra đặc điểm tâm lý
    của hung thủ. Sau đó, tiếp tục hình dung ra độ tuổi, giới tính, nghề
    nghiệp, học vấn và các thông tin khác như thói quen cá nhân, bối
    cảnh gia đình và các mối quan hệ.

    Đặc điểm tâm lý gây án của kẻ thủ ác thường được hình thành
    dần dần từ những trải nghiệm xã hội và kinh nghiệm phạm tội trong
    thời gian dài. Ngoài ra, cũng không thể bỏ qua những mối liên hệ mật
    thiết như môi trường sống, trình độ học vấn, công việc. Những điều
    này được xây dựng và củng cố trong quá trình sống thực tế và hình
    thành phong cách hành vi nhất định. Khi gây án, các đặc điểm tâm lý
    cá nhân của hung thủ sẽ lộ rõ qua sự vật khách quan, lưu lại đầu mối
    tâm lý. Vì vậy, thông qua việc phân tích tang chứng tại hiện trường,
    có thể suy ra manh mối và khắc họa tâm lý của kẻ gây án. Điều này
    có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phá án.

    Chương 2

    Xác Chết Không Nguyên Vẹn Ở Bãi Phế Liệu

    Betty Jean Shade là một cô gái 22 tuổi vui tươi và lạc quan. Cô
    làm bảo mẫu trong thời gian rảnh và rất có trách nhiệm với công việc.
    Vì vậy mà Shade luôn được các bậc phụ huynh yêu quý.
    Một tối nọ, Shade kết thúc công việc và trở về nhà như thường lệ.
    Tuy nhiên, tới tận đêm muộn của ngày hôm đó, gia đình Shade vẫn
    không thấy cô về nhà. Quá lo lắng, gia đình Shade đã gọi điện cho
    chỗ làm và bạn bè thân thiết của cô nhưng không một ai biết tung
    tích của cô gái trẻ. Rơi vào khủng hoảng, người thân của Shade lập
    tức báo cảnh sát.
    Bốn ngày sau vụ mất tích của Betty Jean Shade, một người đàn
    ông đã vấp phải một xác chết trong lúc đang tản bộ tại địa phận núi
    Wopsononock ở Altoona. Hoảng sợ tới mức hồn vía lên mây, người
    đàn ông này đã vội vã gọi điện cho cảnh sát.
    Bác sĩ pháp y Charles Burkey và cảnh sát sở tại tức tốc tập trung
    tại hiện trường vụ án. Điều tra sơ bộ cho thấy xác chết đã bị cắt xẻ
    nghiêm trọng, phần cơ thể mà nhân chứng va phải ở tình trạng khá
    nguyên vẹn. Mái tóc vàng của nạn nhân bị cắt và treo lên một thân
    cây gần đó. Người chết không những bị đánh đập tàn bạo, hai mắt

    sưng trũng, xương cằm dưới đứt lìa mà còn bị cưỡng hiếp. Vết
    thương chí mạng nhất nằm ở phần đầu, ngoài ra hai bầu ngực của
    nạn nhân cũng bị cắt bỏ.
    Tình trạng của thi thể khiến bác sĩ pháp y với kinh nghiệm dày
    dạn như Charles Burkey cũng phải thốt lên: “Thật khủng khiếp.” Sau
    khi điều tra, cảnh sát phát hiện ra người chết chính là Betty Jean
    Shade đang mất tích.
    Tuy nhiên, khi Charles Burkey khám nghiệm tử thi đã phát hiện ra
    trong dạ dày của nạn nhân vẫn còn thức ăn chưa tiêu hóa hết. Điều
    này cho thấy Shade đã bị giết hại không lâu ngay sau khi mất tích.
    Ngoài ra, thi thể của người bị hại ở trong trạng thái tốt, không có vết
    côn trùng đốt hoặc động vật cắn, chứng tỏ xác chưa bị vứt quá bốn
    ngày.
    Cảnh sát địa phương đi vào ngõ cụt nên đã tìm đến FBI để xin
    giúp đỡ, điệp vụ FBI Reid tiếp nhận vụ án. Sau khi tìm hiểu, để nhanh
    chóng bắt được kẻ thủ ác, Reid đã gửi hồ sơ vụ án cho Jonh
    Douglas - chuyên gia tâm lý tội phạm của FBI để được giúp đỡ. Đồng
    thời, Reid cũng đích thân gọi điện cho Douglas để trình bày chi tiết vụ
    việc.
    Sau khi nói chuyện với Reid và cẩn thận nghiên cứu tình tiết vụ
    án, Douglas đã nhập các thông tin về đặc điểm hiện trường và người
    bị hại vào kho dữ liệu hồ sơ tội phạm để tiến hành phác họa chân
    dung tâm lý. Ông đã hình dung về hung thủ như sau: Nam giới, da
    trắng, độ tuổi trong khoảng từ 17 đến 25, dáng người gầy nhưng rắn
    chắc, tính tình quái dị, thích đọc hoặc xem ấn phẩm khiêu dâm. Ngoài
    ra, hung thủ xuất thân từ một gia đình tan vỡ, chịu nhiều ảnh hưởng
    của người mẹ, được mẹ bao bọc, yêu chiều quá mức. Nhiều khả

    năng, mẹ của hung thủ đã gieo rắc vào đầu hắn ý nghĩ rằng ngoại
    trừ bà ta, tất cả những người phụ nữ khác đều là người xấu. Chính
    điều này khiến kẻ giết người không thể có mối quan hệ bình thường
    với phái nữ. Từ các vết thương trên người nạn nhân có thể nhìn thấy
    xu hướng này, khi tấn công, hung thủ đã nhanh chóng đánh ngất nạn
    nhân.
    Dựa vào các vết thương trên mặt và cơ thể, Douglas phỏng
    đoán, hung thủ rất quen thuộc với nạn nhân. Vì quá tức giận nên hắn
    đã tìm cách hủy hoại gương mặt và thân thể, cắt ngực và tóc của
    người bị hại. Tìm hiểu về nạn nhân, Douglas biết được rằng khi còn
    sống, Shade rất chú ý tới mái tóc của mình, hàng ngày cô luôn chải
    đầu cẩn thận. Vì vậy, hành động cắt tóc mang ý nghĩa hạ nhục
    Shade, thể hiện rằng kẻ giết người hiểu rõ nạn nhân mới có thể thực
    hiện hành vi xúc phạm này.
    Thêm vào đó, từ hiện trường vứt xác, Douglas suy đoán rằng kẻ
    giết người không có công việc tử tế, có thể làm những công việc liên
    quan đến bùn đất, chất bẩn. Thời gian Shade bị bắt cóc là buổi tối,
    cộng thêm dấu vết cho thấy thi thể bị di chuyển đến nơi khác càng
    khẳng định thời gian hoạt động chủ yếu của hung thủ là ban đêm.
    Hắn có thể đã đến nghĩa địa hoặc tham gia tang lễ. Trong ảo tưởng
    của hung thủ, hắn và nạn nhân có một mối quan hệ bình thường và
    bản thân hắn rất mực tin vào điều này. Vì vậy, nếu bắt được kẻ tình
    nghi và sử dụng máy phát hiện nói dối để thẩm vấn thì sẽ không có
    tác dụng.
    Từ vị trí gặp nạn của Shade có thể suy ra nơi ở của hung thủ ở
    giữa nhà và nơi làm việc của nạn nhân.

    Sau khi được cung cấp manh mối về hồ sơ tội phạm do Douglas
    xây dựng, Reid và cảnh sát sở tại đã xác nhận được hai đối tượng
    tình nghi: Charles Soult, bạn trai sống cùng nhà, tự xưng là vị hôn
    phu của Shade; còn lại là người đã phát hiện ra thi thể, anh ta từng là
    thợ cơ khí đường sắt nhưng nghỉ việc do gặp chấn thương.
    Reid và cảnh sát dồn sự nghi ngờ vào người thợ cơ khí bởi có
    nhân chứng khác đã nhìn thấy anh ta lảng vảng quanh hiện trường
    vụ án. Thêm vào đó, lời khai của anh ta thiếu nhất quán, quần áo
    mặc trên người cũng không phù hợp để đi dạo. Ngày báo án, trời
    mưa nhưng anh ta lại không bị ướt. Khi nói chuyện với giới chức
    năng, người này trông rất căng thẳng, thể hiện rằng bản thân vô cùng
    sợ hãi, lo lắng mình sẽ bị cuốn vào vụ án này. Reid cho rằng đây là
    cách hắn phân tán sự tình nghi từ phía cảnh sát.
    Theo điều tra của cảnh sát, người đàn ông này nghiện rượu và
    thuốc lá. Ngoài ra, anh ta cũng từng có tiền sử chống đối xã hội.
    Nhưng cả anh ta và vợ đều khai báo rằng vào thời điểm xảy ra vụ án
    (tối ngày Shade mất tích) cả hai đều ở nhà xem ti vi. Đây không phải
    là bằng chứng ngoại phạm thuyết phục, vì vậy, chuyên gia tâm lý tội
    phạm Douglas cho rằng người này sẽ thuê luật sư riêng và tỏ thái độ
    thiếu hợp tác.
    Kết quả đúng là như vậy, khi cảnh sát muốn điều tra sâu hơn,
    anh ta đã mời luật sư và từ chối sử dụng máy phát hiện nói dối.
    Tuy nhiên, trái ngược với suy đoán của Douglas, người đàn ông
    này đã kết hôn, sống cùng vợ và hai con. Điều này mâu thuẫn với
    cách gây án của hung thủ. Nếu kẻ giết người là một người đàn ông
    có vợ, hắn ta sẽ có xu hướng kéo dài thời gian cưỡng bức và hành
    hạ nạn nhân trước khi giết chết, đồng thời làm nhiều hành vi nhục

    mạ chứ không cắt xẻ xác chết. Ngoài ra, độ tuổi của người này cũng
    không phù hợp với phác họa ban đầu của Douglas do đã quá 30 tuổi.
    Douglas cho rằng Charles Soult đáng nghi hơn bởi hắn rất giống
    với phác họa chân dung tội phạm ban đầu. Bố mẹ của Soult ly hôn từ
    khi hắn còn rất nhỏ, họ can dự nhiều vào cuộc sống của con cái nên
    tới tận năm 26 tuổi hắn vẫn rất vụng về và ngờ nghệch trong chuyện
    tình cảm với phái nữ. Thông tin bổ sung cho biết, Soult rất yêu
    Shade, mặc dù hai người đã đính hôn nhưng anh ta vẫn đồng ý để
    Shade đi gặp gỡ, đi chơi với những người đàn ông khác. Trong tang
    lễ của Shade, anh ta khóc rất dữ dội, chỉ thiếu điều chui vào quan tài
    để cùng đồng quy vu tận với người yêu. Mỗi lần nói chuyện với cảnh
    sát, Soult luôn tỏ ra vô cùng đau đớn.
    Vào lúc Douglas chuyển sự nghi ngờ sang Soult, cảnh sát đã
    điều tra và phát hiện ra anh ta có một người anh trai tên là Michael,
    cả hai đều làm công nhân vận chuyển tại bãi rác. Chi tiết này khiến
    Douglas càng thêm khẳng định rằng Soult chính là hung thủ bởi hắn
    có thể tự do ra vào bãi phế liệu và có dụng cụ để di chuyển xác chết.
    Tuy nhiên, Douglas vẫn cảm thấy băn khoăn. Thứ nhất là Soult
    không cao hơn Shade là bao, anh ta dường như cũng không đủ sức
    khỏe để khiêng cái xác. Thứ hai, khám nghiệm tử thi cho thấy trong
    người nạn nhân có tinh dịch của nam giới, cho thấy Shade đã bị
    cưỡng hiếp. Nhưng Soult lại không có khả năng thực hiện hành vi
    này. Do bị mẹ ruột kiểm soát trong thời gian dài, chức năng sinh lý
    của anh ta rất kém.
    Vì vậy, Douglas phỏng đoán, Betty Jean Shade đã gặp Soult trên
    đường đi làm về vào tối ngày bị hại. Hai người cãi nhau, Soult đánh
    Shade nhưng lực đánh quá mạnh khiến nạn nhân bất tỉnh. Sau đó,

    hắn chuyển Shade đến một nơi vắng vẻ và giáng đòn đánh chí mạng,
    cắt tóc, phân xác và cắt bỏ bộ ngực để giữ làm kỷ niệm. Song, giữa
    thời điểm bị tấn công và bị giết, nạn nhân đã bị một người khác
    không phải Soult cưỡng bức.
    Sau khi phân tích, Douglas cho rằng Michael, anh trai của Soult là
    đồng phạm. Nguyên nhân là vì anh ta xuất thân từ cùng một gia đình
    với Soult, làm cùng một công việc, từng ở bệnh viện tâm thần một
    thời gian, có tiền án bạo lực và thiếu khả năng kiềm chế cơn tức
    giận.
    Thông tin điều tra còn cho biết, vào tối ngày Betty Jean Shade
    mất tích, vợ của Michael đang chuyển dạ tại bệnh viện. Việc người
    vợ mang thai đã gây ra kích thích lớn cho Michael, đồng thời trong
    khoảng thời gian đó hắn cũng không có cơ hội để giải tỏa ham muốn
    tình dục. Vì thế, Douglas nghĩ rằng sau khi tấn công Shade, Soult đã
    hoảng sợ và tìm đến anh trai của mình. Michael cưỡng hiếp Shade
    trong khi Soult đứng xem, sau đó giết hại Shade và cùng Michael phi
    tang xác.
    Khi cảnh sát bắt giữ Soult và Michael, cả hai không chịu thừa
    nhận tội ác của mình. Mặc dù kết quả cuộc thẩm vấn bằng máy kiểm
    tra nói dối cho thấy Soult đang thành thật nhưng những phản ứng
    cảm xúc của hắn lại không bình thường. Douglas đề nghị lực lượng
    chức năng đổi đối tượng, tập trung thẩm vấn Michael và thuyết phục
    rằng anh ta chỉ quan hệ tình dục với Shade và hỗ trợ xử lý thi thể.
    Nếu từ chối nói ra sự thật, anh ta sẽ phải ngồi tù với Soult.
    Cuối cùng, Michael đã nhận tội. Về cơ bản, mọi thứ giống như
    suy luận của Douglas: Soult luôn muốn quan hệ tình dục với Shade
    nhưng không thành công. Nỗi uất hận của anh ta tích tụ dần và rất dễ

    bộc phát. Đêm xảy ra vụ án, anh ta đã rất sợ hãi sau khi tấn công nạn
    nhân, vì vậy đã tìm đến Michael. Chứng kiến cảnh Michael cưỡng
    hiếp Shade, hắn càng cảm thấy bất lực và trở nên tức giận hơn. Hắn
    đã tiến hành phân xác người chết bốn ngày sau đó.
    Ngoài ra, Michael khai nhận rằng hắn và Soult còn nhận được sự
    giúp đỡ từ một đồng phạm khác để hỗ trợ phi tang thi thể. Đó là
    Catherine Wiesinger, người chị em tốt của Betty Jean Shade.
    Sau đó, cảnh sát tìm thấy bộ ngực bị cắt rời ở nơi trú ẩn của
    Soult. Hắn chịu tội giết người cấp độ một, Michael bị đưa vào bệnh
    viện tâm thần sau khi kết án.
    Chính nhờ phác họa chân dung và manh mối do chuyên gia tâm
    lý tội phạm John Douglas cung cấp mà cảnh sát đã phá án suôn sẻ
    hơn, kẻ sát nhân bị bắt về quy án và xét xử trước vành móng ngựa.
    CHIA SẺ CỦA CHUYÊN GIA TÂM LÝ TỘI PHẠM
    Có ba phương pháp chính để lập hồ sơ tâm lý tội phạm:
    Đầu tiên, phương pháp phân tích hiện trường vụ án. Kỹ thuật này
    được Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) đề xuất và xây dựng.
    Phương pháp này yêu cầu người điều tra tập trung chú ý vào các
    đặc điểm khác nhau của hiện trường vụ án, nhập các thông tin này
    và báo cáo về nạn nhân vào kho dữ liệu tội phạm để tiến hành phác
    thảo chân dung tội phạm. Năm 1979, Tổ khoa học hành vi của FBI đã
    thiết lập cơ sở cho kho dữ liệu dựa trên cuộc phỏng vấn với 36 kẻ
    phạm tội giết người và hiếp dâm.
    Thứ hai, phương pháp điều tra tâm lý. Phương pháp này được
    Canter thành lập ở Vương quốc Anh, chủ yếu sử dụng các ý nghĩa
    tâm lý được phản ánh từ đặc điểm hành vi tại hiện trường vụ án để
    phác họa chân dung hung thủ. Chuyên gia tin rằng đặc điểm thủ

    pháp gây án của tội phạm sẽ được phản ánh trong hành động hàng
    ngày của họ. Vì vậy, họ đưa ra giả thiết về tính thống nhất của người
    phạm tội, cụ thể là tính nhất quán trong các mối quan hệ và không
    gian, áp dụng nó vào lĩnh vực tâm lý tội phạm.
    Thứ ba, phương pháp phán đoán đánh giá. Cách này chủ yếu
    dựa trên kinh nghiệm thực tế.

    Chương 3

    Sát Thủ Ăn Thịt Người Án Mạng Cậu Bé Giao
    Báo

    Một buổi sáng đẹp trời tại thành phố Bellevue, Danny rời giường
    như thường lệ để đạp xe vào thành phố. Cậu bé làm công việc giao
    báo để kiếm tiền tiêu vặt. Tính tình nghịch ngợm, Danny thường
    xuyên không chịu đi giày. Bỏ ngoài tai những lời nhắc nhở của bố
    mẹ, cậu đạp xe bằng chân trần.
    Ở tuổi 13, Danny là một chú bé dễ thương với mái tóc vàng và đôi
    mắt xanh. Bố cậu là nhân viên bưu điện và cả Danny lẫn anh trai đều
    đi giao báo. Cậu bé vui vẻ đạp xe trên con đường đến cửa hàng
    nhận việc.
    Thế nhưng, đến khoảng 7 giờ sáng, quản lý cửa hàng nhận được
    cuộc gọi phàn nàn của một số người dân vì báo vẫn chưa đến tay.
    Tất cả những hộ dân này đều thuộc phạm vi phụ trách của Danny
    nên người quản lý đã đi tìm cậu bé. Tuy nhiên, sau khi đã đi một vòng
    quanh khu vực mà vẫn không thấy tung tích của Danny, quản lý đành
    gọi cho bố cậu, ông Eberle.

    Hay tin, ông Eberle vội đi tìm con trai nhưng cũng không có kết
    quả. Sau khi hỏi thăm, ông biết được rằng Danny đã giao báo cho ba
    nhà trước khi biến mất. Khi đi tới nhà thứ tư, ông phát hiện xe đạp
    của con trai dựng cạnh hàng rào, túi đựng ...
     
    Gửi ý kiến

    vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam