GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
Tâm Lý Học Tội Phạm - Phác Họa Chân Dung Kẻ Phạm Tội - Diệp Hồng Vũ

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:34' 09-03-2024
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 19h:34' 09-03-2024
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
THÔNG TIN EBOOK
Tâm Lý Học - Phác Họa Chân Dung Kẻ Phạm Tội
Diệp Hồng Vũ
Đỗ Ái Nhi dịch
BeBooks & Nhà Xuất Bản Thanh Niên
More Books At
fb.com/groups/yeukindlevietnam
Notion Ebook Member
tinyurl.com/downloadebookyeukindle
“Mọi thông tin được trích xuất từ trí óc và cách gây án của một kẻ giết
người chính là nguồn tiếp tế để tìm ra kẻ phạm tội tiếp theo."
- Robert K. Ressler -
LỜI NÓI ĐẦU
Một người đàn ông đang tận hưởng chuyến đi dạo của mình tại
núi Wopsononock ở Altoona thì bỗng vấp phải vật lạ. Cúi đầu nhìn
kỹ, anh ta hoảng hốt phát hiện vật ngáng đường mình lại là một xác
chết. Quá sợ hãi, người đàn ông này lập tức báo cảnh sát.
Cảnh sát địa phương nhanh chóng có mặt tại hiện trường, kết
quả khảo sát sơ bộ cho thấy thi thể bị cắt xẻ nghiêm trọng. Phần thi
thể bị nhân chứng va vào vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Người chết
có dấu hiệu bị đánh, hai mắt bầm tím, xương cằm dưới đứt lìa. Tình
trạng khuôn mặt nạn nhân chỉ có thể miêu tả bằng hai từ “thê thảm”.
Không chần chừ, cảnh sát vùng Altoona bắt tay vào điều tra án
mạng, nhưng không thể tìm ra manh mối khiến vụ án rơi vào bế tắc.
Để có thể nhanh chóng bắt được kẻ thủ ác1, họ đã cầu cứu FBI.
Chuyên gia lập hồ sơ tội phạm của FBI, John Douglas đã tới trước
để hỗ trợ.
Sau khi nghiên cứu tình tiết vụ án, ảnh chụp hiện trường và báo
cáo pháp y, Douglas đã phác họa được hồ sơ tâm lý cơ bản của
hung thủ bao gồm độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và một số manh
mối khác. Dựa theo những phán đoán của Douglas, cảnh sát địa
phương đã tiến hành tìm kiếm và bắt giữ hai đối tượng tình nghi. Sau
khi trải qua quá trình thẩm vấn nghiêm ngặt, quả thật một trong hai
đối tượng chính là kẻ phạm tội.
Làm thế nào mà John Douglas có thể phân tích được tuổi tác và
trình độ học vấn của hung thủ? Rốt cuộc thủ phạm là ai? Vì sao hắn
lại xuống tay tàn nhẫn như vậy? Chắc hẳn đây là những thắc mắc mà
ai cũng có. Thông qua cuốn sách này, chúng ta sẽ cùng đi tìm đáp án
cho những câu hỏi trên.
Thực chất, phương pháp này của Douglas chính là phác họa hồ
sơ tâm lý tội phạm, ngày nay được biết đến với cái tên “hồ sơ tội
phạm” hoặc “nghiên cứu hành vi”. Tổ khoa học hành vi thuộc Cục
điều tra liên bang Mỹ (FBI2) được thành lập vào năm 1972 là đơn vị
đầu tiên áp dụng kỹ thuật phân tích tâm lý tội phạm này. Trong quá
trình phá án, các điệp vụ của FBI đã tìm hiểu quy luật hành vi và quy
luật tâm lý của tội phạm trong quá trình giao tiếp với hung thủ. Sau
này, các mật vụ FBI đã đề xuất thành lập một dự án có tính chiến
lược và hệ thống để nghiên cứu chủ đề tâm lý và hành vi tội phạm,
qua đó có một cái nhìn sâu sắc hơn về bối cảnh trưởng thành, phân
tích hiện trường vụ án và các đặc điểm của nạn nhân để nắm bắt
được phần lớn nội tâm, hành động và quy luật sinh hoạt của kẻ
phạm tội.
Trong quá trình nghiên cứu, FBI còn sử dụng nhiều dữ liệu từ các
nhà chức trách, ví dụ như báo cáo điều tra của cảnh sát, biên bản
thẩm vấn, lịch sử phạm tội,.. Những tài liệu này sẽ xác định phương
hướng trinh sát, đồng thời thông qua hiện trường vụ án để phân tích
hành vi, đoán biết đặc trưng tâm lý tội phạm. Tiếp theo đó, dựa vào
những đặc điểm được suy đoán để xây dựng hình ảnh nghi phạm,
bối cảnh gia đình và tính cách. Đây chính là “phác họa hồ sơ tâm lý
tội phạm”. Về sau, kỹ thuật phác họa tâm lý dần dần được áp dụng
vào nhiều vụ án khác nhau.
Phương pháp này được biết đến rộng rãi hơn nhờ phim điện ảnh
nổi tiếng thế giới “Sự im lặng của bầy cừu3”. Đoàn làm phim đã nhận
được nhiều sự giúp đỡ từ FBI và được phép thực hiện một số cảnh
phim tại chính trung tâm huấn luyện của Tổ khoa học hành vi. Ngoài
ra, một số nhân viên của FBI cũng tham gia đóng những vai nhỏ
trong phim. Sau thành công của “Sự im lặng của bầy cừu”, nhiều
khán giả đã hiểu nhầm cũng như thần thánh hóa khả năng phác họa
tâm lý và phân tích hành vi, cho rằng điều đó có thể giúp phá án tuyệt
đối.
Trên thực tế, tuy trực giác và kinh nghiệm rất quan trọng, nhưng
mấu chốt vẫn là thu thập và đối chiếu số liệu. Một trong những thành
viên sáng lập của Tổ khoa học hành vi John Douglas từng chia sẻ,
trong quá trình điều tra, cảnh sát cần thẩm vấn tất cả những người
có liên quan, đồng thời đi sâu vào tìm hiểu từng người, bởi như vậy
mới có thể thu thập được thông tin tâm lý có giá trị.
Tám chương của cuốn sách sẽ sử dụng những vụ án có thật để
dẫn người đọc theo bước các chuyên gia lập hồ sơ tội phạm, trả lời
cho câu hỏi làm thế nào để phân tích được tâm lý và hành vi tội
phạm, giúp chính quyền bắt được hung thủ. Ngoài ra, cuốn sách
cũng giới thiệu cho độc giả quá trình phát triển, các kỹ năng và kiến
thức lập hồ sơ tội phạm. Nhờ đó, độc giả sẽ có cái nhìn sâu sắc, rõ
ràng hơn về bộ môn tâm lý tội phạm và trở thành những cao thủ phá
án đích thực.
PHẦN 1: BÓNG MA TUỔI THƠ GIEO MẦM CÁI
ÁC
Chương 1
Sát Thủ Uống Máu Người Richard Trenton
Chase
Ngày 23 tháng 1 năm 1978, tại một thị trấn nhỏ ở vùng
Sacramento, California, tài xế xe tải David Walling kết thúc công việc
sớm để trở về với người vợ đang có bầu của mình. Về đến nhà,
David không thấy vợ chờ mình ở cửa như thường lệ, anh cất tiếng
gọi nhưng không có ai trả lời. Nhất thời, một dự cảm không lành
dâng lên trong lòng David.
Sau khi tắt máy, David vội vào nhà tìm vợ. Trong phòng ngủ, cảnh
tượng đập vào mắt khiến anh kinh hoàng: Người vợ đang mang thai
nằm giữa một vũng máu, phần bụng bị rạch toang ra một cách tàn
nhẫn.
Quá sợ hãi, David chạy ra khỏi nhà và cầu cứu hàng xóm, gọi
điện báo cảnh sát. Sau khi có mặt, cảnh sát ngay lập tức tiến hành
điều tra sơ bộ. Họ phát hiện ra quần áo và đồ đạc trên người nạn
nhân đều bị lột sạch nhưng lại không tìm thấy vật tùy thân ở hiện
trường. Trên người nạn nhân có nhiều vết đâm, nội tạng bị móc ra,
cắt nhỏ. Cạnh thi thể có một lọ sữa chua rỗng, bên trong vẫn dính
máu của người bị hại. Vì vậy, cảnh sát kết luận rằng hung thủ là một
kẻ vô cùng tàn ác, hắn ta đã đổ máu của người chết vào lọ sữa chua
rồi uống. Thêm vào đó, cơ thể nạn nhân còn mất vài bộ phận. Ngoài
những điều trên, cảnh sát không thu được manh mối nào khác.
Sau vài lần điều tra, cảnh sát không tìm được động cơ gây án
của hung thủ. Ngoại trừ quần áo mặc trên người nạn nhân, đồ đạc có
giá trị trong nhà vẫn nguyên vẹn. Cuối cùng, chính quyền địa phương
đành phải nhờ đến sự giúp đỡ của FBI. Sau khi tiếp nhận vụ án, đặc
vụ FBI Lars Volpagle đã liên hệ với Robert K. Ressler, chuyên gia lập
hồ sơ tội phạm được đào tạo đặc biệt của FBI.
Sau khi nắm được thông tin về cách gây án, thời gian, địa điểm
và đặc điểm của người bị hại, Ressler đã có những phác họa đầu
tiên về hung thủ như sau: Nam giới, người da trắng, độ tuổi trong
khoảng từ 25 đến 27, dáng người cao gầy, nơi ở bẩn thỉu, lộn xộn.
Nhiều khả năng có thể tìm thấy tang chứng tại nơi ở của kẻ giết
người. Ngoài ra, hắn cũng có tiền sử bệnh thần kinh, thậm chí là
nghiện ma túy, tính cách quái gở, lầm lì, không giỏi giao tiếp. Người
này thường một thân một mình, không có công ăn việc làm, sống
dựa vào trợ cấp xã hội. Đồng thời, hắn cũng chưa từng nhập ngũ, bỏ
học khi đang học cấp ba hoặc đại học, có một hoặc nhiều bệnh
hoang tưởng.
Với kinh nghiệm phá án dày dạn, Ressler có thể đoán được
chủng tộc và độ tuổi của hung thủ là vì vụ án có tính chất xâm hại
tình dục. Trong những vụ án tương tự, hung thủ thường là nam giới,
tuổi từ 20 đến 30. Ngoài ra, có rất ít các vụ án xâm hại tình dục đa sắc
tộc, thông thường chỉ có người da trắng tấn công người da trắng,
người da đen tấn công người da đen. Thêm vào đó, nạn nhân sống
trong khu vực của người da trắng, sự xuất hiện của một người da
đen sẽ gây chú ý. Chính vì vậy, Ressler phán đoán rằng đây là án
mạng cùng sắc tộc.
Dựa vào các thành quả nghiên cứu về tội phạm, Ressler phân kẻ
phạm tội thành hai loại: Kiểu thứ nhất gây án có logic, tuân theo
những thủ pháp cố định. Kiểu thứ hai là những kẻ hành sự không có
tính logic về mặt tâm lý và hành vi. Ảnh chụp hiện trường và báo cáo
suy luận cho thấy hung thủ thuộc loại thứ hai. Kẻ giết người trong vụ
án bà Walling không có quy tắc và cũng không dọn dẹp những dấu
vết dễ để lộ thân phận. Từ đó có thể đoán ra hung thủ có bệnh thần
kinh nghiêm trọng.
Ngoài ra, những hành vi tàn ác của kẻ sát nhân đối với người bị
hại cho thấy hắn đã chịu ảnh hưởng của bệnh tâm lý từ rất sớm.
Kiến thức tâm lý học giúp Ressler suy đoán rằng hắn có thể mắc
chứng hoang tưởng ảo giác. Hầu hết những giai đoạn đầu của
chứng hoang tưởng ảo giác sẽ phát tác vào năm 19 tuổi. Vì loại bệnh
tâm thần này có thời gian ủ bệnh khoảng mười năm nên Ressler nói
rõ hơn độ tuổi của kẻ sát nhân có lẽ là từ 20 đến 30 tuổi.
Những người mắc căn bệnh tâm thần này thường không ăn uống
cẩn thận, dinh dưỡng kém, vì vậy có thể đoán được ngoại hình của
thủ phạm khá gầy, dong dỏng. Đồng thời, trạng thái tâm lý cũng
thường biểu hiện ra bên ngoài. Nhìn chung, người mắc bệnh không
chú ý giữ gìn vệ sinh, bộ dạng nhếch nhác nên cũng không được
người khác yêu quý, sống độc thân. Từ những điều này, Ressler kết
luận rằng nơi ở của hung thủ chắc chắn sẽ rất bừa bộn, bẩn thỉu.
Với những đặc điểm trên, mẫu người này cũng sẽ không được
quân đội tuyển chọn, nhờ vậy mà Ressler có thể nói rằng hắn chưa
từng nhập ngũ. Người mắc chứng hoang tưởng ảo giác thường có
khả năng hoàn thành trung học phổ thông nhưng không thi đậu đại
học. Vì vậy, những người này nếu có việc làm thì cũng sẽ là những
công việc vặt vãnh hoặc bán thời gian. Tuy nhiên, vì tính cách quái dị,
khả năng cao là họ cũng không làm được việc, chỉ có thể sống nhờ
vào trợ cấp xã hội.
Bên cạnh việc tiến hành phân tích sơ bộ tâm lý tội phạm, Ressler
còn đưa ra phán đoán ở những phương diện khác. Ví dụ như nếu
hung thủ lái xe khi hành động, chắc chắn đó sẽ là một chiếc xe lụp
xụp. Tuy nhiên, do kẻ sát nhân có tiền sử bệnh tâm thần, trạng thái
tinh thần hỗn loạn nên không thể lái xe đến rồi lại lái xe về sau khi
gây án. Vì lý do này, Ressler cho rằng thủ phạm là một người sống
gần nhà người bị hại, hắn đã đi bộ đến và đi sau khi sát hại nạn nhân.
Đồng thời, ông còn đưa ra giả thiết rằng kẻ phạm tội là một bệnh
nhân được thả ra khỏi viện tâm thần khoảng một năm trước đó.
Trong thời gian Ressler chuẩn bị tham gia tiếp nhận vụ án, hung
thủ tái xuất. Ngày 26 tháng 1, tại một ngôi nhà cách hiện trường vụ án
khoảng 1 km, ba người bị bắn chết bằng súng lục 22 ly. Nạn nhân lần
lượt là Evelyn Milos 36 tuổi, con trai cô Jason 6 tuổi và người bạn
Daniel J. Merris 32 tuổi.
Cả ba người đều bị sát hại thê thảm, đặc biệt là Milos. Không
những bị bắn, thi thể nạn nhân còn có nhiều vết dao, các cơ quan nội
tạng bị moi ra, cắt nát. Trong phòng, nước bồn tắm bị máu nhuộm đỏ.
Sau khi điều tra, cảnh sát phát hiện hung thủ còn uống huyết dịch
của nạn nhân.
Sau đó, một nạn nhân nữa xuất hiện khi cháu trai 22 tháng tuổi
của Milos cũng biến mất, nhiều khả năng đã bị hung thủ dùng xe ô tô
du lịch của Merris bắt đi. Vì vậy, cảnh sát xem xét kỹ lưỡng các khu
vực lân cận và tìm thấy chiếc xe bị bỏ lại ở một nơi không xa. Lần
theo vết máu dính ở hiện trường, có thể đoán rằng đứa bé lành ít dữ
nhiều.
Báo cáo của cơ quan chức năng cho thấy nhà của người bị hại
không mất đồ đạc. Nạn nhân Milos là bảo mẫu, tính tình hiền lành,
thân thiện, không có kẻ thù. Khi nghe tin cô bị sát hại, hàng xóm láng
giềng đều cảm thấy khó hiểu. Vì vậy, phía cảnh sát lại rơi vào bế tắc,
không thể tìm ra động cơ gây án của thủ phạm.
Ressler nghe tin về vụ án bèn bổ sung thêm một số chi tiết trong
hồ sơ phác thảo bao gồm sống một mình, nơi trú ẩn cách địa điểm
vứt xe khoảng 800 - 1600m. Sau khi thảo luận cùng Lars Volpagle,
Ressler cho rằng hung thủ còn có chứng ám ành cuồng tín, những
thứ hắn lấy trộm không phải là đồ vật có giá trị mà là nữ trang. Trước
khi phạm tội, hắn đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm đồ nhằm thỏa
mãn nỗi ám ảnh của mình, cội nguồn của căn bệnh này bắt nguồn từ
trải nghiệm thời thơ ấu.
Dựa trên những manh mối về chân dung tội phạm do Ressler
cung cấp, đặc vụ FBI Lars Volpagle đã phối hợp cùng cảnh sát địa
phương lấy chiếc xe du lịch bị bỏ lại làm trung tâm, thu thập vết tích
trong bán kính khoảng 800m. Trong quá trình tìm kiếm, một người
dân địa phương đã cung cấp cho cảnh sát thông tin hết sức quan
trọng: Vào ngày bà Walling bị sát hại, cô đã gặp lại bạn cùng trường
cấp ba mười năm trước là Richard Trenton Chase. Nhưng khi trông
thấy bộ dạng của Chase, cô đã trở nên sợ hãi vì ngoại hình gầy gò,
hai mắt trũng sâu, đầu tóc rối bời và chiếc áo phông dính máu.
Lúc đó, cô đang ngồi trong xe hơi, Chase muốn trò chuyện nên
đã nắm lấy cửa xe. Tuy nhiên, cô lập tức lái xe bỏ đi.
Thông tin mà người dân này cung cấp có nhiều điều trùng khớp
với chân dung kẻ sát nhân của Resser, vì vậy đặc vụ FBI Lars
Volpagel và cảnh sát địa phương quyết định tiến hành một cuộc điều
tra sâu và theo dõi Richard Trenton Chase. Họ phát hiện ra rằng
Chase sống cách khu vực chiếc xe bị bỏ lại chưa đầy một con phố.
Thêm vào đó, cạnh nơi ở của anh ta có một chiếc ô tô cũ nát, chứa
đầy báo cũ, chai rượu, chăn màn, v.v... Ngoài ra, họ cũng tìm thấy
một con dao phay dài 30cm và một đội ủng dính máu trong xe.
Cảnh sát quyết định bắt giữ Richard Trenton Chase. Lường
trước sát nhân là một kẻ độc ác, điên cuồng và sở hữu súng lục 22
ly, lực lượng chức năng dùng kế điệu hổ ly sơn để dụ hắn ra khỏi nơi
trú ẩn. Một sĩ quan giả vờ làm người quản lý căn hộ để mượn điện
thoại, trong khi đó, một người khác đi vòng qua cửa nhà Chase. Hắn
ta nhanh chóng nhận ra điều bất thường, vội vàng cầm theo một
chiếc vali, mở cửa và cố gắng tẩu thoát ra xe hơi của mình.
Ngay lập tức, cảnh sát ập tới khống chế Chase. Họ tìm thấy súng
và chiếc ví của Merris trên người hắn ta. Ngoài ra, vali mà Chase
mang theo cũng dính đầy máu.
Tại căn hộ của Chase, cảnh sát phát hiện phòng ở bừa bộn, quần
áo vương vãi khắp nơi. Họ thu được manh mối gồm một số dây xích
buộc động vật, ba máy xay lẫn máu và quần áo nhuốm máu. Tủ lạnh
có lưu trữ bộ phận cơ thể người và nhiều bát đũa dính máu. Về sau,
cảnh sát biết được rằng động cơ giết người của Chase là để uống
máu người.
Sau khi Chase bị bắt, nhiều phương tiện truyền thông đã đi sâu
vào tìm hiểu và đưa tin về đời tư của hắn. Lúc này, tuổi thơ bi thảm
của kẻ giết người mới được làm rõ. Mẹ của Chase là bệnh nhân mắc
chứng hoang tưởng điển hình, tính tình hung dữ, nóng nảy và
thường xuyên cãi vã với chồng. Từ nhỏ, Chase đã mắc bệnh tâm
thần, lớn lên không có bạn bè rồi dần dần sa ngã, hút cần sa và trở
thành con nghiện. Hắn từng bị bắt vì tàng trữ cần sa. Sau khi sống
một mình, Chase bắt đầu giết, cắt xác động vật và uống máu chúng.
Hắn tin rằng đây là cách duy nhất có thể ngăn trái tim mình bị teo
nhỏ.
Chase từng bị đưa vào viện tâm thần vì những hành vi kỳ lạ.
Trong thời gian điều trị, hắn thường bắt chim trong rừng của bệnh
viện và uống máu chúng, trên miệng luôn luôn có vết máu. Vì vậy,
các bệnh nhân khác gọi hắn là ma cà rồng.
Một thời gian sau, Chase được phép xuất viện. Sau khi được thả
tự do, bằng một cách nào đó hắn có được một khẩu súng lục và bắn
chết vật nuôi nhà hàng xóm để uống máu. Dần dần, hắn trở nên tàn
bạo hơn và bắt đầu giết người. May mắn thay, cảnh sát đã kịp thời
ngăn chặn các vụ thảm sát đẫm máu của hắn.
Nhờ hồ sơ tâm lý tội phạm của chuyên gia tâm lý Robert K.
Ressler đã phác họa chính xác hình ảnh về kẻ sát nhân, cảnh sát
mới có thể tiến hành khám xét và bắt giữ nghi phạm. Ressler viết
trong nhật ký rằng: “Chỉ phác họa thôi không thể tìm được hung thủ,
chúng tôi vẫn phải dựa vào cảnh sát tuần tra để bắt kẻ thủ ác... Hồ sơ
tâm lý tội phạm của tôi chỉ là một công cụ trong quá trình phá án.
Trong trường hợp này, phác họa chân dung giúp thu hẹp phạm vi
truy tìm kẻ sát nhân nguy hiểm.”
Ồ
CHIA SẺ CỦA CHUYÊN GIA LẬP HỒ SƠ TỘI PHẠM
Trong quá trình điều tra, phác họa tâm lý tội phạm cần dựa vào
những thông tin đã có về hành vi, đặc điểm tâm lý, động cơ gây án...
của kẻ tình nghi để đi vào phân tích, từ đó dùng câu chữ để lột tả
hình ảnh nhân vật, quy luật hành động của tội phạm. Điều này sẽ
giúp cho việc phá án trở nên thuận lợi hơn.
Phác họa tâm lý tội phạm còn có các cách gọi khác như phác họa
hiện trường phạm tội, phác họa hồ sơ tâm lý, phác họa hung thủ,
phác họa hành vi... Bộ môn này có nguồn gốc từ FBI, trong những
năm 70 của thế kỷ 20, FBI đã thành lập Tổ khoa học hành vi, xây
dựng những kỹ năng lập hồ sơ tội phạm dựa trên việc phân tích hiện
trường vụ án.
Lập hồ sơ tội phạm bao gồm bốn kỹ năng là điều tra hình sự,
giám định pháp y, đánh giá tâm lý và nhân chủng học văn hóa. Thông
thường, quy trình lập hồ sơ tội phạm bắt đầu từ việc bàn giao các
thông tin về hiện trường vụ án, giám định pháp y, hành vi phạm tội và
các chi tiết về người bị hại cho chuyên gia phác họa tâm lý. Sau đó,
các chuyên gia sẽ tiến hành phân tích và gửi lại báo cáo về kẻ tình
nghi.
Nhìn chung, phác họa tâm lý tội phạm được xây dựng trên
nguyên tắc của tâm lý học tội phạm và nhiều kiến thức từ các ngành
khoa học khác. Thông qua phân tích tâm lý và các dấu vết hoặc chi
tiết mà tội phạm để lại tại hiện trường có thể tìm ra đặc điểm tâm lý
của hung thủ. Sau đó, tiếp tục hình dung ra độ tuổi, giới tính, nghề
nghiệp, học vấn và các thông tin khác như thói quen cá nhân, bối
cảnh gia đình và các mối quan hệ.
Đặc điểm tâm lý gây án của kẻ thủ ác thường được hình thành
dần dần từ những trải nghiệm xã hội và kinh nghiệm phạm tội trong
thời gian dài. Ngoài ra, cũng không thể bỏ qua những mối liên hệ mật
thiết như môi trường sống, trình độ học vấn, công việc. Những điều
này được xây dựng và củng cố trong quá trình sống thực tế và hình
thành phong cách hành vi nhất định. Khi gây án, các đặc điểm tâm lý
cá nhân của hung thủ sẽ lộ rõ qua sự vật khách quan, lưu lại đầu mối
tâm lý. Vì vậy, thông qua việc phân tích tang chứng tại hiện trường,
có thể suy ra manh mối và khắc họa tâm lý của kẻ gây án. Điều này
có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phá án.
Chương 2
Xác Chết Không Nguyên Vẹn Ở Bãi Phế Liệu
Betty Jean Shade là một cô gái 22 tuổi vui tươi và lạc quan. Cô
làm bảo mẫu trong thời gian rảnh và rất có trách nhiệm với công việc.
Vì vậy mà Shade luôn được các bậc phụ huynh yêu quý.
Một tối nọ, Shade kết thúc công việc và trở về nhà như thường lệ.
Tuy nhiên, tới tận đêm muộn của ngày hôm đó, gia đình Shade vẫn
không thấy cô về nhà. Quá lo lắng, gia đình Shade đã gọi điện cho
chỗ làm và bạn bè thân thiết của cô nhưng không một ai biết tung
tích của cô gái trẻ. Rơi vào khủng hoảng, người thân của Shade lập
tức báo cảnh sát.
Bốn ngày sau vụ mất tích của Betty Jean Shade, một người đàn
ông đã vấp phải một xác chết trong lúc đang tản bộ tại địa phận núi
Wopsononock ở Altoona. Hoảng sợ tới mức hồn vía lên mây, người
đàn ông này đã vội vã gọi điện cho cảnh sát.
Bác sĩ pháp y Charles Burkey và cảnh sát sở tại tức tốc tập trung
tại hiện trường vụ án. Điều tra sơ bộ cho thấy xác chết đã bị cắt xẻ
nghiêm trọng, phần cơ thể mà nhân chứng va phải ở tình trạng khá
nguyên vẹn. Mái tóc vàng của nạn nhân bị cắt và treo lên một thân
cây gần đó. Người chết không những bị đánh đập tàn bạo, hai mắt
sưng trũng, xương cằm dưới đứt lìa mà còn bị cưỡng hiếp. Vết
thương chí mạng nhất nằm ở phần đầu, ngoài ra hai bầu ngực của
nạn nhân cũng bị cắt bỏ.
Tình trạng của thi thể khiến bác sĩ pháp y với kinh nghiệm dày
dạn như Charles Burkey cũng phải thốt lên: “Thật khủng khiếp.” Sau
khi điều tra, cảnh sát phát hiện ra người chết chính là Betty Jean
Shade đang mất tích.
Tuy nhiên, khi Charles Burkey khám nghiệm tử thi đã phát hiện ra
trong dạ dày của nạn nhân vẫn còn thức ăn chưa tiêu hóa hết. Điều
này cho thấy Shade đã bị giết hại không lâu ngay sau khi mất tích.
Ngoài ra, thi thể của người bị hại ở trong trạng thái tốt, không có vết
côn trùng đốt hoặc động vật cắn, chứng tỏ xác chưa bị vứt quá bốn
ngày.
Cảnh sát địa phương đi vào ngõ cụt nên đã tìm đến FBI để xin
giúp đỡ, điệp vụ FBI Reid tiếp nhận vụ án. Sau khi tìm hiểu, để nhanh
chóng bắt được kẻ thủ ác, Reid đã gửi hồ sơ vụ án cho Jonh
Douglas - chuyên gia tâm lý tội phạm của FBI để được giúp đỡ. Đồng
thời, Reid cũng đích thân gọi điện cho Douglas để trình bày chi tiết vụ
việc.
Sau khi nói chuyện với Reid và cẩn thận nghiên cứu tình tiết vụ
án, Douglas đã nhập các thông tin về đặc điểm hiện trường và người
bị hại vào kho dữ liệu hồ sơ tội phạm để tiến hành phác họa chân
dung tâm lý. Ông đã hình dung về hung thủ như sau: Nam giới, da
trắng, độ tuổi trong khoảng từ 17 đến 25, dáng người gầy nhưng rắn
chắc, tính tình quái dị, thích đọc hoặc xem ấn phẩm khiêu dâm. Ngoài
ra, hung thủ xuất thân từ một gia đình tan vỡ, chịu nhiều ảnh hưởng
của người mẹ, được mẹ bao bọc, yêu chiều quá mức. Nhiều khả
năng, mẹ của hung thủ đã gieo rắc vào đầu hắn ý nghĩ rằng ngoại
trừ bà ta, tất cả những người phụ nữ khác đều là người xấu. Chính
điều này khiến kẻ giết người không thể có mối quan hệ bình thường
với phái nữ. Từ các vết thương trên người nạn nhân có thể nhìn thấy
xu hướng này, khi tấn công, hung thủ đã nhanh chóng đánh ngất nạn
nhân.
Dựa vào các vết thương trên mặt và cơ thể, Douglas phỏng
đoán, hung thủ rất quen thuộc với nạn nhân. Vì quá tức giận nên hắn
đã tìm cách hủy hoại gương mặt và thân thể, cắt ngực và tóc của
người bị hại. Tìm hiểu về nạn nhân, Douglas biết được rằng khi còn
sống, Shade rất chú ý tới mái tóc của mình, hàng ngày cô luôn chải
đầu cẩn thận. Vì vậy, hành động cắt tóc mang ý nghĩa hạ nhục
Shade, thể hiện rằng kẻ giết người hiểu rõ nạn nhân mới có thể thực
hiện hành vi xúc phạm này.
Thêm vào đó, từ hiện trường vứt xác, Douglas suy đoán rằng kẻ
giết người không có công việc tử tế, có thể làm những công việc liên
quan đến bùn đất, chất bẩn. Thời gian Shade bị bắt cóc là buổi tối,
cộng thêm dấu vết cho thấy thi thể bị di chuyển đến nơi khác càng
khẳng định thời gian hoạt động chủ yếu của hung thủ là ban đêm.
Hắn có thể đã đến nghĩa địa hoặc tham gia tang lễ. Trong ảo tưởng
của hung thủ, hắn và nạn nhân có một mối quan hệ bình thường và
bản thân hắn rất mực tin vào điều này. Vì vậy, nếu bắt được kẻ tình
nghi và sử dụng máy phát hiện nói dối để thẩm vấn thì sẽ không có
tác dụng.
Từ vị trí gặp nạn của Shade có thể suy ra nơi ở của hung thủ ở
giữa nhà và nơi làm việc của nạn nhân.
Sau khi được cung cấp manh mối về hồ sơ tội phạm do Douglas
xây dựng, Reid và cảnh sát sở tại đã xác nhận được hai đối tượng
tình nghi: Charles Soult, bạn trai sống cùng nhà, tự xưng là vị hôn
phu của Shade; còn lại là người đã phát hiện ra thi thể, anh ta từng là
thợ cơ khí đường sắt nhưng nghỉ việc do gặp chấn thương.
Reid và cảnh sát dồn sự nghi ngờ vào người thợ cơ khí bởi có
nhân chứng khác đã nhìn thấy anh ta lảng vảng quanh hiện trường
vụ án. Thêm vào đó, lời khai của anh ta thiếu nhất quán, quần áo
mặc trên người cũng không phù hợp để đi dạo. Ngày báo án, trời
mưa nhưng anh ta lại không bị ướt. Khi nói chuyện với giới chức
năng, người này trông rất căng thẳng, thể hiện rằng bản thân vô cùng
sợ hãi, lo lắng mình sẽ bị cuốn vào vụ án này. Reid cho rằng đây là
cách hắn phân tán sự tình nghi từ phía cảnh sát.
Theo điều tra của cảnh sát, người đàn ông này nghiện rượu và
thuốc lá. Ngoài ra, anh ta cũng từng có tiền sử chống đối xã hội.
Nhưng cả anh ta và vợ đều khai báo rằng vào thời điểm xảy ra vụ án
(tối ngày Shade mất tích) cả hai đều ở nhà xem ti vi. Đây không phải
là bằng chứng ngoại phạm thuyết phục, vì vậy, chuyên gia tâm lý tội
phạm Douglas cho rằng người này sẽ thuê luật sư riêng và tỏ thái độ
thiếu hợp tác.
Kết quả đúng là như vậy, khi cảnh sát muốn điều tra sâu hơn,
anh ta đã mời luật sư và từ chối sử dụng máy phát hiện nói dối.
Tuy nhiên, trái ngược với suy đoán của Douglas, người đàn ông
này đã kết hôn, sống cùng vợ và hai con. Điều này mâu thuẫn với
cách gây án của hung thủ. Nếu kẻ giết người là một người đàn ông
có vợ, hắn ta sẽ có xu hướng kéo dài thời gian cưỡng bức và hành
hạ nạn nhân trước khi giết chết, đồng thời làm nhiều hành vi nhục
mạ chứ không cắt xẻ xác chết. Ngoài ra, độ tuổi của người này cũng
không phù hợp với phác họa ban đầu của Douglas do đã quá 30 tuổi.
Douglas cho rằng Charles Soult đáng nghi hơn bởi hắn rất giống
với phác họa chân dung tội phạm ban đầu. Bố mẹ của Soult ly hôn từ
khi hắn còn rất nhỏ, họ can dự nhiều vào cuộc sống của con cái nên
tới tận năm 26 tuổi hắn vẫn rất vụng về và ngờ nghệch trong chuyện
tình cảm với phái nữ. Thông tin bổ sung cho biết, Soult rất yêu
Shade, mặc dù hai người đã đính hôn nhưng anh ta vẫn đồng ý để
Shade đi gặp gỡ, đi chơi với những người đàn ông khác. Trong tang
lễ của Shade, anh ta khóc rất dữ dội, chỉ thiếu điều chui vào quan tài
để cùng đồng quy vu tận với người yêu. Mỗi lần nói chuyện với cảnh
sát, Soult luôn tỏ ra vô cùng đau đớn.
Vào lúc Douglas chuyển sự nghi ngờ sang Soult, cảnh sát đã
điều tra và phát hiện ra anh ta có một người anh trai tên là Michael,
cả hai đều làm công nhân vận chuyển tại bãi rác. Chi tiết này khiến
Douglas càng thêm khẳng định rằng Soult chính là hung thủ bởi hắn
có thể tự do ra vào bãi phế liệu và có dụng cụ để di chuyển xác chết.
Tuy nhiên, Douglas vẫn cảm thấy băn khoăn. Thứ nhất là Soult
không cao hơn Shade là bao, anh ta dường như cũng không đủ sức
khỏe để khiêng cái xác. Thứ hai, khám nghiệm tử thi cho thấy trong
người nạn nhân có tinh dịch của nam giới, cho thấy Shade đã bị
cưỡng hiếp. Nhưng Soult lại không có khả năng thực hiện hành vi
này. Do bị mẹ ruột kiểm soát trong thời gian dài, chức năng sinh lý
của anh ta rất kém.
Vì vậy, Douglas phỏng đoán, Betty Jean Shade đã gặp Soult trên
đường đi làm về vào tối ngày bị hại. Hai người cãi nhau, Soult đánh
Shade nhưng lực đánh quá mạnh khiến nạn nhân bất tỉnh. Sau đó,
hắn chuyển Shade đến một nơi vắng vẻ và giáng đòn đánh chí mạng,
cắt tóc, phân xác và cắt bỏ bộ ngực để giữ làm kỷ niệm. Song, giữa
thời điểm bị tấn công và bị giết, nạn nhân đã bị một người khác
không phải Soult cưỡng bức.
Sau khi phân tích, Douglas cho rằng Michael, anh trai của Soult là
đồng phạm. Nguyên nhân là vì anh ta xuất thân từ cùng một gia đình
với Soult, làm cùng một công việc, từng ở bệnh viện tâm thần một
thời gian, có tiền án bạo lực và thiếu khả năng kiềm chế cơn tức
giận.
Thông tin điều tra còn cho biết, vào tối ngày Betty Jean Shade
mất tích, vợ của Michael đang chuyển dạ tại bệnh viện. Việc người
vợ mang thai đã gây ra kích thích lớn cho Michael, đồng thời trong
khoảng thời gian đó hắn cũng không có cơ hội để giải tỏa ham muốn
tình dục. Vì thế, Douglas nghĩ rằng sau khi tấn công Shade, Soult đã
hoảng sợ và tìm đến anh trai của mình. Michael cưỡng hiếp Shade
trong khi Soult đứng xem, sau đó giết hại Shade và cùng Michael phi
tang xác.
Khi cảnh sát bắt giữ Soult và Michael, cả hai không chịu thừa
nhận tội ác của mình. Mặc dù kết quả cuộc thẩm vấn bằng máy kiểm
tra nói dối cho thấy Soult đang thành thật nhưng những phản ứng
cảm xúc của hắn lại không bình thường. Douglas đề nghị lực lượng
chức năng đổi đối tượng, tập trung thẩm vấn Michael và thuyết phục
rằng anh ta chỉ quan hệ tình dục với Shade và hỗ trợ xử lý thi thể.
Nếu từ chối nói ra sự thật, anh ta sẽ phải ngồi tù với Soult.
Cuối cùng, Michael đã nhận tội. Về cơ bản, mọi thứ giống như
suy luận của Douglas: Soult luôn muốn quan hệ tình dục với Shade
nhưng không thành công. Nỗi uất hận của anh ta tích tụ dần và rất dễ
bộc phát. Đêm xảy ra vụ án, anh ta đã rất sợ hãi sau khi tấn công nạn
nhân, vì vậy đã tìm đến Michael. Chứng kiến cảnh Michael cưỡng
hiếp Shade, hắn càng cảm thấy bất lực và trở nên tức giận hơn. Hắn
đã tiến hành phân xác người chết bốn ngày sau đó.
Ngoài ra, Michael khai nhận rằng hắn và Soult còn nhận được sự
giúp đỡ từ một đồng phạm khác để hỗ trợ phi tang thi thể. Đó là
Catherine Wiesinger, người chị em tốt của Betty Jean Shade.
Sau đó, cảnh sát tìm thấy bộ ngực bị cắt rời ở nơi trú ẩn của
Soult. Hắn chịu tội giết người cấp độ một, Michael bị đưa vào bệnh
viện tâm thần sau khi kết án.
Chính nhờ phác họa chân dung và manh mối do chuyên gia tâm
lý tội phạm John Douglas cung cấp mà cảnh sát đã phá án suôn sẻ
hơn, kẻ sát nhân bị bắt về quy án và xét xử trước vành móng ngựa.
CHIA SẺ CỦA CHUYÊN GIA TÂM LÝ TỘI PHẠM
Có ba phương pháp chính để lập hồ sơ tâm lý tội phạm:
Đầu tiên, phương pháp phân tích hiện trường vụ án. Kỹ thuật này
được Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) đề xuất và xây dựng.
Phương pháp này yêu cầu người điều tra tập trung chú ý vào các
đặc điểm khác nhau của hiện trường vụ án, nhập các thông tin này
và báo cáo về nạn nhân vào kho dữ liệu tội phạm để tiến hành phác
thảo chân dung tội phạm. Năm 1979, Tổ khoa học hành vi của FBI đã
thiết lập cơ sở cho kho dữ liệu dựa trên cuộc phỏng vấn với 36 kẻ
phạm tội giết người và hiếp dâm.
Thứ hai, phương pháp điều tra tâm lý. Phương pháp này được
Canter thành lập ở Vương quốc Anh, chủ yếu sử dụng các ý nghĩa
tâm lý được phản ánh từ đặc điểm hành vi tại hiện trường vụ án để
phác họa chân dung hung thủ. Chuyên gia tin rằng đặc điểm thủ
pháp gây án của tội phạm sẽ được phản ánh trong hành động hàng
ngày của họ. Vì vậy, họ đưa ra giả thiết về tính thống nhất của người
phạm tội, cụ thể là tính nhất quán trong các mối quan hệ và không
gian, áp dụng nó vào lĩnh vực tâm lý tội phạm.
Thứ ba, phương pháp phán đoán đánh giá. Cách này chủ yếu
dựa trên kinh nghiệm thực tế.
Chương 3
Sát Thủ Ăn Thịt Người Án Mạng Cậu Bé Giao
Báo
Một buổi sáng đẹp trời tại thành phố Bellevue, Danny rời giường
như thường lệ để đạp xe vào thành phố. Cậu bé làm công việc giao
báo để kiếm tiền tiêu vặt. Tính tình nghịch ngợm, Danny thường
xuyên không chịu đi giày. Bỏ ngoài tai những lời nhắc nhở của bố
mẹ, cậu đạp xe bằng chân trần.
Ở tuổi 13, Danny là một chú bé dễ thương với mái tóc vàng và đôi
mắt xanh. Bố cậu là nhân viên bưu điện và cả Danny lẫn anh trai đều
đi giao báo. Cậu bé vui vẻ đạp xe trên con đường đến cửa hàng
nhận việc.
Thế nhưng, đến khoảng 7 giờ sáng, quản lý cửa hàng nhận được
cuộc gọi phàn nàn của một số người dân vì báo vẫn chưa đến tay.
Tất cả những hộ dân này đều thuộc phạm vi phụ trách của Danny
nên người quản lý đã đi tìm cậu bé. Tuy nhiên, sau khi đã đi một vòng
quanh khu vực mà vẫn không thấy tung tích của Danny, quản lý đành
gọi cho bố cậu, ông Eberle.
Hay tin, ông Eberle vội đi tìm con trai nhưng cũng không có kết
quả. Sau khi hỏi thăm, ông biết được rằng Danny đã giao báo cho ba
nhà trước khi biến mất. Khi đi tới nhà thứ tư, ông phát hiện xe đạp
của con trai dựng cạnh hàng rào, túi đựng ...
Tâm Lý Học - Phác Họa Chân Dung Kẻ Phạm Tội
Diệp Hồng Vũ
Đỗ Ái Nhi dịch
BeBooks & Nhà Xuất Bản Thanh Niên
More Books At
fb.com/groups/yeukindlevietnam
Notion Ebook Member
tinyurl.com/downloadebookyeukindle
“Mọi thông tin được trích xuất từ trí óc và cách gây án của một kẻ giết
người chính là nguồn tiếp tế để tìm ra kẻ phạm tội tiếp theo."
- Robert K. Ressler -
LỜI NÓI ĐẦU
Một người đàn ông đang tận hưởng chuyến đi dạo của mình tại
núi Wopsononock ở Altoona thì bỗng vấp phải vật lạ. Cúi đầu nhìn
kỹ, anh ta hoảng hốt phát hiện vật ngáng đường mình lại là một xác
chết. Quá sợ hãi, người đàn ông này lập tức báo cảnh sát.
Cảnh sát địa phương nhanh chóng có mặt tại hiện trường, kết
quả khảo sát sơ bộ cho thấy thi thể bị cắt xẻ nghiêm trọng. Phần thi
thể bị nhân chứng va vào vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Người chết
có dấu hiệu bị đánh, hai mắt bầm tím, xương cằm dưới đứt lìa. Tình
trạng khuôn mặt nạn nhân chỉ có thể miêu tả bằng hai từ “thê thảm”.
Không chần chừ, cảnh sát vùng Altoona bắt tay vào điều tra án
mạng, nhưng không thể tìm ra manh mối khiến vụ án rơi vào bế tắc.
Để có thể nhanh chóng bắt được kẻ thủ ác1, họ đã cầu cứu FBI.
Chuyên gia lập hồ sơ tội phạm của FBI, John Douglas đã tới trước
để hỗ trợ.
Sau khi nghiên cứu tình tiết vụ án, ảnh chụp hiện trường và báo
cáo pháp y, Douglas đã phác họa được hồ sơ tâm lý cơ bản của
hung thủ bao gồm độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và một số manh
mối khác. Dựa theo những phán đoán của Douglas, cảnh sát địa
phương đã tiến hành tìm kiếm và bắt giữ hai đối tượng tình nghi. Sau
khi trải qua quá trình thẩm vấn nghiêm ngặt, quả thật một trong hai
đối tượng chính là kẻ phạm tội.
Làm thế nào mà John Douglas có thể phân tích được tuổi tác và
trình độ học vấn của hung thủ? Rốt cuộc thủ phạm là ai? Vì sao hắn
lại xuống tay tàn nhẫn như vậy? Chắc hẳn đây là những thắc mắc mà
ai cũng có. Thông qua cuốn sách này, chúng ta sẽ cùng đi tìm đáp án
cho những câu hỏi trên.
Thực chất, phương pháp này của Douglas chính là phác họa hồ
sơ tâm lý tội phạm, ngày nay được biết đến với cái tên “hồ sơ tội
phạm” hoặc “nghiên cứu hành vi”. Tổ khoa học hành vi thuộc Cục
điều tra liên bang Mỹ (FBI2) được thành lập vào năm 1972 là đơn vị
đầu tiên áp dụng kỹ thuật phân tích tâm lý tội phạm này. Trong quá
trình phá án, các điệp vụ của FBI đã tìm hiểu quy luật hành vi và quy
luật tâm lý của tội phạm trong quá trình giao tiếp với hung thủ. Sau
này, các mật vụ FBI đã đề xuất thành lập một dự án có tính chiến
lược và hệ thống để nghiên cứu chủ đề tâm lý và hành vi tội phạm,
qua đó có một cái nhìn sâu sắc hơn về bối cảnh trưởng thành, phân
tích hiện trường vụ án và các đặc điểm của nạn nhân để nắm bắt
được phần lớn nội tâm, hành động và quy luật sinh hoạt của kẻ
phạm tội.
Trong quá trình nghiên cứu, FBI còn sử dụng nhiều dữ liệu từ các
nhà chức trách, ví dụ như báo cáo điều tra của cảnh sát, biên bản
thẩm vấn, lịch sử phạm tội,.. Những tài liệu này sẽ xác định phương
hướng trinh sát, đồng thời thông qua hiện trường vụ án để phân tích
hành vi, đoán biết đặc trưng tâm lý tội phạm. Tiếp theo đó, dựa vào
những đặc điểm được suy đoán để xây dựng hình ảnh nghi phạm,
bối cảnh gia đình và tính cách. Đây chính là “phác họa hồ sơ tâm lý
tội phạm”. Về sau, kỹ thuật phác họa tâm lý dần dần được áp dụng
vào nhiều vụ án khác nhau.
Phương pháp này được biết đến rộng rãi hơn nhờ phim điện ảnh
nổi tiếng thế giới “Sự im lặng của bầy cừu3”. Đoàn làm phim đã nhận
được nhiều sự giúp đỡ từ FBI và được phép thực hiện một số cảnh
phim tại chính trung tâm huấn luyện của Tổ khoa học hành vi. Ngoài
ra, một số nhân viên của FBI cũng tham gia đóng những vai nhỏ
trong phim. Sau thành công của “Sự im lặng của bầy cừu”, nhiều
khán giả đã hiểu nhầm cũng như thần thánh hóa khả năng phác họa
tâm lý và phân tích hành vi, cho rằng điều đó có thể giúp phá án tuyệt
đối.
Trên thực tế, tuy trực giác và kinh nghiệm rất quan trọng, nhưng
mấu chốt vẫn là thu thập và đối chiếu số liệu. Một trong những thành
viên sáng lập của Tổ khoa học hành vi John Douglas từng chia sẻ,
trong quá trình điều tra, cảnh sát cần thẩm vấn tất cả những người
có liên quan, đồng thời đi sâu vào tìm hiểu từng người, bởi như vậy
mới có thể thu thập được thông tin tâm lý có giá trị.
Tám chương của cuốn sách sẽ sử dụng những vụ án có thật để
dẫn người đọc theo bước các chuyên gia lập hồ sơ tội phạm, trả lời
cho câu hỏi làm thế nào để phân tích được tâm lý và hành vi tội
phạm, giúp chính quyền bắt được hung thủ. Ngoài ra, cuốn sách
cũng giới thiệu cho độc giả quá trình phát triển, các kỹ năng và kiến
thức lập hồ sơ tội phạm. Nhờ đó, độc giả sẽ có cái nhìn sâu sắc, rõ
ràng hơn về bộ môn tâm lý tội phạm và trở thành những cao thủ phá
án đích thực.
PHẦN 1: BÓNG MA TUỔI THƠ GIEO MẦM CÁI
ÁC
Chương 1
Sát Thủ Uống Máu Người Richard Trenton
Chase
Ngày 23 tháng 1 năm 1978, tại một thị trấn nhỏ ở vùng
Sacramento, California, tài xế xe tải David Walling kết thúc công việc
sớm để trở về với người vợ đang có bầu của mình. Về đến nhà,
David không thấy vợ chờ mình ở cửa như thường lệ, anh cất tiếng
gọi nhưng không có ai trả lời. Nhất thời, một dự cảm không lành
dâng lên trong lòng David.
Sau khi tắt máy, David vội vào nhà tìm vợ. Trong phòng ngủ, cảnh
tượng đập vào mắt khiến anh kinh hoàng: Người vợ đang mang thai
nằm giữa một vũng máu, phần bụng bị rạch toang ra một cách tàn
nhẫn.
Quá sợ hãi, David chạy ra khỏi nhà và cầu cứu hàng xóm, gọi
điện báo cảnh sát. Sau khi có mặt, cảnh sát ngay lập tức tiến hành
điều tra sơ bộ. Họ phát hiện ra quần áo và đồ đạc trên người nạn
nhân đều bị lột sạch nhưng lại không tìm thấy vật tùy thân ở hiện
trường. Trên người nạn nhân có nhiều vết đâm, nội tạng bị móc ra,
cắt nhỏ. Cạnh thi thể có một lọ sữa chua rỗng, bên trong vẫn dính
máu của người bị hại. Vì vậy, cảnh sát kết luận rằng hung thủ là một
kẻ vô cùng tàn ác, hắn ta đã đổ máu của người chết vào lọ sữa chua
rồi uống. Thêm vào đó, cơ thể nạn nhân còn mất vài bộ phận. Ngoài
những điều trên, cảnh sát không thu được manh mối nào khác.
Sau vài lần điều tra, cảnh sát không tìm được động cơ gây án
của hung thủ. Ngoại trừ quần áo mặc trên người nạn nhân, đồ đạc có
giá trị trong nhà vẫn nguyên vẹn. Cuối cùng, chính quyền địa phương
đành phải nhờ đến sự giúp đỡ của FBI. Sau khi tiếp nhận vụ án, đặc
vụ FBI Lars Volpagle đã liên hệ với Robert K. Ressler, chuyên gia lập
hồ sơ tội phạm được đào tạo đặc biệt của FBI.
Sau khi nắm được thông tin về cách gây án, thời gian, địa điểm
và đặc điểm của người bị hại, Ressler đã có những phác họa đầu
tiên về hung thủ như sau: Nam giới, người da trắng, độ tuổi trong
khoảng từ 25 đến 27, dáng người cao gầy, nơi ở bẩn thỉu, lộn xộn.
Nhiều khả năng có thể tìm thấy tang chứng tại nơi ở của kẻ giết
người. Ngoài ra, hắn cũng có tiền sử bệnh thần kinh, thậm chí là
nghiện ma túy, tính cách quái gở, lầm lì, không giỏi giao tiếp. Người
này thường một thân một mình, không có công ăn việc làm, sống
dựa vào trợ cấp xã hội. Đồng thời, hắn cũng chưa từng nhập ngũ, bỏ
học khi đang học cấp ba hoặc đại học, có một hoặc nhiều bệnh
hoang tưởng.
Với kinh nghiệm phá án dày dạn, Ressler có thể đoán được
chủng tộc và độ tuổi của hung thủ là vì vụ án có tính chất xâm hại
tình dục. Trong những vụ án tương tự, hung thủ thường là nam giới,
tuổi từ 20 đến 30. Ngoài ra, có rất ít các vụ án xâm hại tình dục đa sắc
tộc, thông thường chỉ có người da trắng tấn công người da trắng,
người da đen tấn công người da đen. Thêm vào đó, nạn nhân sống
trong khu vực của người da trắng, sự xuất hiện của một người da
đen sẽ gây chú ý. Chính vì vậy, Ressler phán đoán rằng đây là án
mạng cùng sắc tộc.
Dựa vào các thành quả nghiên cứu về tội phạm, Ressler phân kẻ
phạm tội thành hai loại: Kiểu thứ nhất gây án có logic, tuân theo
những thủ pháp cố định. Kiểu thứ hai là những kẻ hành sự không có
tính logic về mặt tâm lý và hành vi. Ảnh chụp hiện trường và báo cáo
suy luận cho thấy hung thủ thuộc loại thứ hai. Kẻ giết người trong vụ
án bà Walling không có quy tắc và cũng không dọn dẹp những dấu
vết dễ để lộ thân phận. Từ đó có thể đoán ra hung thủ có bệnh thần
kinh nghiêm trọng.
Ngoài ra, những hành vi tàn ác của kẻ sát nhân đối với người bị
hại cho thấy hắn đã chịu ảnh hưởng của bệnh tâm lý từ rất sớm.
Kiến thức tâm lý học giúp Ressler suy đoán rằng hắn có thể mắc
chứng hoang tưởng ảo giác. Hầu hết những giai đoạn đầu của
chứng hoang tưởng ảo giác sẽ phát tác vào năm 19 tuổi. Vì loại bệnh
tâm thần này có thời gian ủ bệnh khoảng mười năm nên Ressler nói
rõ hơn độ tuổi của kẻ sát nhân có lẽ là từ 20 đến 30 tuổi.
Những người mắc căn bệnh tâm thần này thường không ăn uống
cẩn thận, dinh dưỡng kém, vì vậy có thể đoán được ngoại hình của
thủ phạm khá gầy, dong dỏng. Đồng thời, trạng thái tâm lý cũng
thường biểu hiện ra bên ngoài. Nhìn chung, người mắc bệnh không
chú ý giữ gìn vệ sinh, bộ dạng nhếch nhác nên cũng không được
người khác yêu quý, sống độc thân. Từ những điều này, Ressler kết
luận rằng nơi ở của hung thủ chắc chắn sẽ rất bừa bộn, bẩn thỉu.
Với những đặc điểm trên, mẫu người này cũng sẽ không được
quân đội tuyển chọn, nhờ vậy mà Ressler có thể nói rằng hắn chưa
từng nhập ngũ. Người mắc chứng hoang tưởng ảo giác thường có
khả năng hoàn thành trung học phổ thông nhưng không thi đậu đại
học. Vì vậy, những người này nếu có việc làm thì cũng sẽ là những
công việc vặt vãnh hoặc bán thời gian. Tuy nhiên, vì tính cách quái dị,
khả năng cao là họ cũng không làm được việc, chỉ có thể sống nhờ
vào trợ cấp xã hội.
Bên cạnh việc tiến hành phân tích sơ bộ tâm lý tội phạm, Ressler
còn đưa ra phán đoán ở những phương diện khác. Ví dụ như nếu
hung thủ lái xe khi hành động, chắc chắn đó sẽ là một chiếc xe lụp
xụp. Tuy nhiên, do kẻ sát nhân có tiền sử bệnh tâm thần, trạng thái
tinh thần hỗn loạn nên không thể lái xe đến rồi lại lái xe về sau khi
gây án. Vì lý do này, Ressler cho rằng thủ phạm là một người sống
gần nhà người bị hại, hắn đã đi bộ đến và đi sau khi sát hại nạn nhân.
Đồng thời, ông còn đưa ra giả thiết rằng kẻ phạm tội là một bệnh
nhân được thả ra khỏi viện tâm thần khoảng một năm trước đó.
Trong thời gian Ressler chuẩn bị tham gia tiếp nhận vụ án, hung
thủ tái xuất. Ngày 26 tháng 1, tại một ngôi nhà cách hiện trường vụ án
khoảng 1 km, ba người bị bắn chết bằng súng lục 22 ly. Nạn nhân lần
lượt là Evelyn Milos 36 tuổi, con trai cô Jason 6 tuổi và người bạn
Daniel J. Merris 32 tuổi.
Cả ba người đều bị sát hại thê thảm, đặc biệt là Milos. Không
những bị bắn, thi thể nạn nhân còn có nhiều vết dao, các cơ quan nội
tạng bị moi ra, cắt nát. Trong phòng, nước bồn tắm bị máu nhuộm đỏ.
Sau khi điều tra, cảnh sát phát hiện hung thủ còn uống huyết dịch
của nạn nhân.
Sau đó, một nạn nhân nữa xuất hiện khi cháu trai 22 tháng tuổi
của Milos cũng biến mất, nhiều khả năng đã bị hung thủ dùng xe ô tô
du lịch của Merris bắt đi. Vì vậy, cảnh sát xem xét kỹ lưỡng các khu
vực lân cận và tìm thấy chiếc xe bị bỏ lại ở một nơi không xa. Lần
theo vết máu dính ở hiện trường, có thể đoán rằng đứa bé lành ít dữ
nhiều.
Báo cáo của cơ quan chức năng cho thấy nhà của người bị hại
không mất đồ đạc. Nạn nhân Milos là bảo mẫu, tính tình hiền lành,
thân thiện, không có kẻ thù. Khi nghe tin cô bị sát hại, hàng xóm láng
giềng đều cảm thấy khó hiểu. Vì vậy, phía cảnh sát lại rơi vào bế tắc,
không thể tìm ra động cơ gây án của thủ phạm.
Ressler nghe tin về vụ án bèn bổ sung thêm một số chi tiết trong
hồ sơ phác thảo bao gồm sống một mình, nơi trú ẩn cách địa điểm
vứt xe khoảng 800 - 1600m. Sau khi thảo luận cùng Lars Volpagle,
Ressler cho rằng hung thủ còn có chứng ám ành cuồng tín, những
thứ hắn lấy trộm không phải là đồ vật có giá trị mà là nữ trang. Trước
khi phạm tội, hắn đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm đồ nhằm thỏa
mãn nỗi ám ảnh của mình, cội nguồn của căn bệnh này bắt nguồn từ
trải nghiệm thời thơ ấu.
Dựa trên những manh mối về chân dung tội phạm do Ressler
cung cấp, đặc vụ FBI Lars Volpagle đã phối hợp cùng cảnh sát địa
phương lấy chiếc xe du lịch bị bỏ lại làm trung tâm, thu thập vết tích
trong bán kính khoảng 800m. Trong quá trình tìm kiếm, một người
dân địa phương đã cung cấp cho cảnh sát thông tin hết sức quan
trọng: Vào ngày bà Walling bị sát hại, cô đã gặp lại bạn cùng trường
cấp ba mười năm trước là Richard Trenton Chase. Nhưng khi trông
thấy bộ dạng của Chase, cô đã trở nên sợ hãi vì ngoại hình gầy gò,
hai mắt trũng sâu, đầu tóc rối bời và chiếc áo phông dính máu.
Lúc đó, cô đang ngồi trong xe hơi, Chase muốn trò chuyện nên
đã nắm lấy cửa xe. Tuy nhiên, cô lập tức lái xe bỏ đi.
Thông tin mà người dân này cung cấp có nhiều điều trùng khớp
với chân dung kẻ sát nhân của Resser, vì vậy đặc vụ FBI Lars
Volpagel và cảnh sát địa phương quyết định tiến hành một cuộc điều
tra sâu và theo dõi Richard Trenton Chase. Họ phát hiện ra rằng
Chase sống cách khu vực chiếc xe bị bỏ lại chưa đầy một con phố.
Thêm vào đó, cạnh nơi ở của anh ta có một chiếc ô tô cũ nát, chứa
đầy báo cũ, chai rượu, chăn màn, v.v... Ngoài ra, họ cũng tìm thấy
một con dao phay dài 30cm và một đội ủng dính máu trong xe.
Cảnh sát quyết định bắt giữ Richard Trenton Chase. Lường
trước sát nhân là một kẻ độc ác, điên cuồng và sở hữu súng lục 22
ly, lực lượng chức năng dùng kế điệu hổ ly sơn để dụ hắn ra khỏi nơi
trú ẩn. Một sĩ quan giả vờ làm người quản lý căn hộ để mượn điện
thoại, trong khi đó, một người khác đi vòng qua cửa nhà Chase. Hắn
ta nhanh chóng nhận ra điều bất thường, vội vàng cầm theo một
chiếc vali, mở cửa và cố gắng tẩu thoát ra xe hơi của mình.
Ngay lập tức, cảnh sát ập tới khống chế Chase. Họ tìm thấy súng
và chiếc ví của Merris trên người hắn ta. Ngoài ra, vali mà Chase
mang theo cũng dính đầy máu.
Tại căn hộ của Chase, cảnh sát phát hiện phòng ở bừa bộn, quần
áo vương vãi khắp nơi. Họ thu được manh mối gồm một số dây xích
buộc động vật, ba máy xay lẫn máu và quần áo nhuốm máu. Tủ lạnh
có lưu trữ bộ phận cơ thể người và nhiều bát đũa dính máu. Về sau,
cảnh sát biết được rằng động cơ giết người của Chase là để uống
máu người.
Sau khi Chase bị bắt, nhiều phương tiện truyền thông đã đi sâu
vào tìm hiểu và đưa tin về đời tư của hắn. Lúc này, tuổi thơ bi thảm
của kẻ giết người mới được làm rõ. Mẹ của Chase là bệnh nhân mắc
chứng hoang tưởng điển hình, tính tình hung dữ, nóng nảy và
thường xuyên cãi vã với chồng. Từ nhỏ, Chase đã mắc bệnh tâm
thần, lớn lên không có bạn bè rồi dần dần sa ngã, hút cần sa và trở
thành con nghiện. Hắn từng bị bắt vì tàng trữ cần sa. Sau khi sống
một mình, Chase bắt đầu giết, cắt xác động vật và uống máu chúng.
Hắn tin rằng đây là cách duy nhất có thể ngăn trái tim mình bị teo
nhỏ.
Chase từng bị đưa vào viện tâm thần vì những hành vi kỳ lạ.
Trong thời gian điều trị, hắn thường bắt chim trong rừng của bệnh
viện và uống máu chúng, trên miệng luôn luôn có vết máu. Vì vậy,
các bệnh nhân khác gọi hắn là ma cà rồng.
Một thời gian sau, Chase được phép xuất viện. Sau khi được thả
tự do, bằng một cách nào đó hắn có được một khẩu súng lục và bắn
chết vật nuôi nhà hàng xóm để uống máu. Dần dần, hắn trở nên tàn
bạo hơn và bắt đầu giết người. May mắn thay, cảnh sát đã kịp thời
ngăn chặn các vụ thảm sát đẫm máu của hắn.
Nhờ hồ sơ tâm lý tội phạm của chuyên gia tâm lý Robert K.
Ressler đã phác họa chính xác hình ảnh về kẻ sát nhân, cảnh sát
mới có thể tiến hành khám xét và bắt giữ nghi phạm. Ressler viết
trong nhật ký rằng: “Chỉ phác họa thôi không thể tìm được hung thủ,
chúng tôi vẫn phải dựa vào cảnh sát tuần tra để bắt kẻ thủ ác... Hồ sơ
tâm lý tội phạm của tôi chỉ là một công cụ trong quá trình phá án.
Trong trường hợp này, phác họa chân dung giúp thu hẹp phạm vi
truy tìm kẻ sát nhân nguy hiểm.”
Ồ
CHIA SẺ CỦA CHUYÊN GIA LẬP HỒ SƠ TỘI PHẠM
Trong quá trình điều tra, phác họa tâm lý tội phạm cần dựa vào
những thông tin đã có về hành vi, đặc điểm tâm lý, động cơ gây án...
của kẻ tình nghi để đi vào phân tích, từ đó dùng câu chữ để lột tả
hình ảnh nhân vật, quy luật hành động của tội phạm. Điều này sẽ
giúp cho việc phá án trở nên thuận lợi hơn.
Phác họa tâm lý tội phạm còn có các cách gọi khác như phác họa
hiện trường phạm tội, phác họa hồ sơ tâm lý, phác họa hung thủ,
phác họa hành vi... Bộ môn này có nguồn gốc từ FBI, trong những
năm 70 của thế kỷ 20, FBI đã thành lập Tổ khoa học hành vi, xây
dựng những kỹ năng lập hồ sơ tội phạm dựa trên việc phân tích hiện
trường vụ án.
Lập hồ sơ tội phạm bao gồm bốn kỹ năng là điều tra hình sự,
giám định pháp y, đánh giá tâm lý và nhân chủng học văn hóa. Thông
thường, quy trình lập hồ sơ tội phạm bắt đầu từ việc bàn giao các
thông tin về hiện trường vụ án, giám định pháp y, hành vi phạm tội và
các chi tiết về người bị hại cho chuyên gia phác họa tâm lý. Sau đó,
các chuyên gia sẽ tiến hành phân tích và gửi lại báo cáo về kẻ tình
nghi.
Nhìn chung, phác họa tâm lý tội phạm được xây dựng trên
nguyên tắc của tâm lý học tội phạm và nhiều kiến thức từ các ngành
khoa học khác. Thông qua phân tích tâm lý và các dấu vết hoặc chi
tiết mà tội phạm để lại tại hiện trường có thể tìm ra đặc điểm tâm lý
của hung thủ. Sau đó, tiếp tục hình dung ra độ tuổi, giới tính, nghề
nghiệp, học vấn và các thông tin khác như thói quen cá nhân, bối
cảnh gia đình và các mối quan hệ.
Đặc điểm tâm lý gây án của kẻ thủ ác thường được hình thành
dần dần từ những trải nghiệm xã hội và kinh nghiệm phạm tội trong
thời gian dài. Ngoài ra, cũng không thể bỏ qua những mối liên hệ mật
thiết như môi trường sống, trình độ học vấn, công việc. Những điều
này được xây dựng và củng cố trong quá trình sống thực tế và hình
thành phong cách hành vi nhất định. Khi gây án, các đặc điểm tâm lý
cá nhân của hung thủ sẽ lộ rõ qua sự vật khách quan, lưu lại đầu mối
tâm lý. Vì vậy, thông qua việc phân tích tang chứng tại hiện trường,
có thể suy ra manh mối và khắc họa tâm lý của kẻ gây án. Điều này
có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phá án.
Chương 2
Xác Chết Không Nguyên Vẹn Ở Bãi Phế Liệu
Betty Jean Shade là một cô gái 22 tuổi vui tươi và lạc quan. Cô
làm bảo mẫu trong thời gian rảnh và rất có trách nhiệm với công việc.
Vì vậy mà Shade luôn được các bậc phụ huynh yêu quý.
Một tối nọ, Shade kết thúc công việc và trở về nhà như thường lệ.
Tuy nhiên, tới tận đêm muộn của ngày hôm đó, gia đình Shade vẫn
không thấy cô về nhà. Quá lo lắng, gia đình Shade đã gọi điện cho
chỗ làm và bạn bè thân thiết của cô nhưng không một ai biết tung
tích của cô gái trẻ. Rơi vào khủng hoảng, người thân của Shade lập
tức báo cảnh sát.
Bốn ngày sau vụ mất tích của Betty Jean Shade, một người đàn
ông đã vấp phải một xác chết trong lúc đang tản bộ tại địa phận núi
Wopsononock ở Altoona. Hoảng sợ tới mức hồn vía lên mây, người
đàn ông này đã vội vã gọi điện cho cảnh sát.
Bác sĩ pháp y Charles Burkey và cảnh sát sở tại tức tốc tập trung
tại hiện trường vụ án. Điều tra sơ bộ cho thấy xác chết đã bị cắt xẻ
nghiêm trọng, phần cơ thể mà nhân chứng va phải ở tình trạng khá
nguyên vẹn. Mái tóc vàng của nạn nhân bị cắt và treo lên một thân
cây gần đó. Người chết không những bị đánh đập tàn bạo, hai mắt
sưng trũng, xương cằm dưới đứt lìa mà còn bị cưỡng hiếp. Vết
thương chí mạng nhất nằm ở phần đầu, ngoài ra hai bầu ngực của
nạn nhân cũng bị cắt bỏ.
Tình trạng của thi thể khiến bác sĩ pháp y với kinh nghiệm dày
dạn như Charles Burkey cũng phải thốt lên: “Thật khủng khiếp.” Sau
khi điều tra, cảnh sát phát hiện ra người chết chính là Betty Jean
Shade đang mất tích.
Tuy nhiên, khi Charles Burkey khám nghiệm tử thi đã phát hiện ra
trong dạ dày của nạn nhân vẫn còn thức ăn chưa tiêu hóa hết. Điều
này cho thấy Shade đã bị giết hại không lâu ngay sau khi mất tích.
Ngoài ra, thi thể của người bị hại ở trong trạng thái tốt, không có vết
côn trùng đốt hoặc động vật cắn, chứng tỏ xác chưa bị vứt quá bốn
ngày.
Cảnh sát địa phương đi vào ngõ cụt nên đã tìm đến FBI để xin
giúp đỡ, điệp vụ FBI Reid tiếp nhận vụ án. Sau khi tìm hiểu, để nhanh
chóng bắt được kẻ thủ ác, Reid đã gửi hồ sơ vụ án cho Jonh
Douglas - chuyên gia tâm lý tội phạm của FBI để được giúp đỡ. Đồng
thời, Reid cũng đích thân gọi điện cho Douglas để trình bày chi tiết vụ
việc.
Sau khi nói chuyện với Reid và cẩn thận nghiên cứu tình tiết vụ
án, Douglas đã nhập các thông tin về đặc điểm hiện trường và người
bị hại vào kho dữ liệu hồ sơ tội phạm để tiến hành phác họa chân
dung tâm lý. Ông đã hình dung về hung thủ như sau: Nam giới, da
trắng, độ tuổi trong khoảng từ 17 đến 25, dáng người gầy nhưng rắn
chắc, tính tình quái dị, thích đọc hoặc xem ấn phẩm khiêu dâm. Ngoài
ra, hung thủ xuất thân từ một gia đình tan vỡ, chịu nhiều ảnh hưởng
của người mẹ, được mẹ bao bọc, yêu chiều quá mức. Nhiều khả
năng, mẹ của hung thủ đã gieo rắc vào đầu hắn ý nghĩ rằng ngoại
trừ bà ta, tất cả những người phụ nữ khác đều là người xấu. Chính
điều này khiến kẻ giết người không thể có mối quan hệ bình thường
với phái nữ. Từ các vết thương trên người nạn nhân có thể nhìn thấy
xu hướng này, khi tấn công, hung thủ đã nhanh chóng đánh ngất nạn
nhân.
Dựa vào các vết thương trên mặt và cơ thể, Douglas phỏng
đoán, hung thủ rất quen thuộc với nạn nhân. Vì quá tức giận nên hắn
đã tìm cách hủy hoại gương mặt và thân thể, cắt ngực và tóc của
người bị hại. Tìm hiểu về nạn nhân, Douglas biết được rằng khi còn
sống, Shade rất chú ý tới mái tóc của mình, hàng ngày cô luôn chải
đầu cẩn thận. Vì vậy, hành động cắt tóc mang ý nghĩa hạ nhục
Shade, thể hiện rằng kẻ giết người hiểu rõ nạn nhân mới có thể thực
hiện hành vi xúc phạm này.
Thêm vào đó, từ hiện trường vứt xác, Douglas suy đoán rằng kẻ
giết người không có công việc tử tế, có thể làm những công việc liên
quan đến bùn đất, chất bẩn. Thời gian Shade bị bắt cóc là buổi tối,
cộng thêm dấu vết cho thấy thi thể bị di chuyển đến nơi khác càng
khẳng định thời gian hoạt động chủ yếu của hung thủ là ban đêm.
Hắn có thể đã đến nghĩa địa hoặc tham gia tang lễ. Trong ảo tưởng
của hung thủ, hắn và nạn nhân có một mối quan hệ bình thường và
bản thân hắn rất mực tin vào điều này. Vì vậy, nếu bắt được kẻ tình
nghi và sử dụng máy phát hiện nói dối để thẩm vấn thì sẽ không có
tác dụng.
Từ vị trí gặp nạn của Shade có thể suy ra nơi ở của hung thủ ở
giữa nhà và nơi làm việc của nạn nhân.
Sau khi được cung cấp manh mối về hồ sơ tội phạm do Douglas
xây dựng, Reid và cảnh sát sở tại đã xác nhận được hai đối tượng
tình nghi: Charles Soult, bạn trai sống cùng nhà, tự xưng là vị hôn
phu của Shade; còn lại là người đã phát hiện ra thi thể, anh ta từng là
thợ cơ khí đường sắt nhưng nghỉ việc do gặp chấn thương.
Reid và cảnh sát dồn sự nghi ngờ vào người thợ cơ khí bởi có
nhân chứng khác đã nhìn thấy anh ta lảng vảng quanh hiện trường
vụ án. Thêm vào đó, lời khai của anh ta thiếu nhất quán, quần áo
mặc trên người cũng không phù hợp để đi dạo. Ngày báo án, trời
mưa nhưng anh ta lại không bị ướt. Khi nói chuyện với giới chức
năng, người này trông rất căng thẳng, thể hiện rằng bản thân vô cùng
sợ hãi, lo lắng mình sẽ bị cuốn vào vụ án này. Reid cho rằng đây là
cách hắn phân tán sự tình nghi từ phía cảnh sát.
Theo điều tra của cảnh sát, người đàn ông này nghiện rượu và
thuốc lá. Ngoài ra, anh ta cũng từng có tiền sử chống đối xã hội.
Nhưng cả anh ta và vợ đều khai báo rằng vào thời điểm xảy ra vụ án
(tối ngày Shade mất tích) cả hai đều ở nhà xem ti vi. Đây không phải
là bằng chứng ngoại phạm thuyết phục, vì vậy, chuyên gia tâm lý tội
phạm Douglas cho rằng người này sẽ thuê luật sư riêng và tỏ thái độ
thiếu hợp tác.
Kết quả đúng là như vậy, khi cảnh sát muốn điều tra sâu hơn,
anh ta đã mời luật sư và từ chối sử dụng máy phát hiện nói dối.
Tuy nhiên, trái ngược với suy đoán của Douglas, người đàn ông
này đã kết hôn, sống cùng vợ và hai con. Điều này mâu thuẫn với
cách gây án của hung thủ. Nếu kẻ giết người là một người đàn ông
có vợ, hắn ta sẽ có xu hướng kéo dài thời gian cưỡng bức và hành
hạ nạn nhân trước khi giết chết, đồng thời làm nhiều hành vi nhục
mạ chứ không cắt xẻ xác chết. Ngoài ra, độ tuổi của người này cũng
không phù hợp với phác họa ban đầu của Douglas do đã quá 30 tuổi.
Douglas cho rằng Charles Soult đáng nghi hơn bởi hắn rất giống
với phác họa chân dung tội phạm ban đầu. Bố mẹ của Soult ly hôn từ
khi hắn còn rất nhỏ, họ can dự nhiều vào cuộc sống của con cái nên
tới tận năm 26 tuổi hắn vẫn rất vụng về và ngờ nghệch trong chuyện
tình cảm với phái nữ. Thông tin bổ sung cho biết, Soult rất yêu
Shade, mặc dù hai người đã đính hôn nhưng anh ta vẫn đồng ý để
Shade đi gặp gỡ, đi chơi với những người đàn ông khác. Trong tang
lễ của Shade, anh ta khóc rất dữ dội, chỉ thiếu điều chui vào quan tài
để cùng đồng quy vu tận với người yêu. Mỗi lần nói chuyện với cảnh
sát, Soult luôn tỏ ra vô cùng đau đớn.
Vào lúc Douglas chuyển sự nghi ngờ sang Soult, cảnh sát đã
điều tra và phát hiện ra anh ta có một người anh trai tên là Michael,
cả hai đều làm công nhân vận chuyển tại bãi rác. Chi tiết này khiến
Douglas càng thêm khẳng định rằng Soult chính là hung thủ bởi hắn
có thể tự do ra vào bãi phế liệu và có dụng cụ để di chuyển xác chết.
Tuy nhiên, Douglas vẫn cảm thấy băn khoăn. Thứ nhất là Soult
không cao hơn Shade là bao, anh ta dường như cũng không đủ sức
khỏe để khiêng cái xác. Thứ hai, khám nghiệm tử thi cho thấy trong
người nạn nhân có tinh dịch của nam giới, cho thấy Shade đã bị
cưỡng hiếp. Nhưng Soult lại không có khả năng thực hiện hành vi
này. Do bị mẹ ruột kiểm soát trong thời gian dài, chức năng sinh lý
của anh ta rất kém.
Vì vậy, Douglas phỏng đoán, Betty Jean Shade đã gặp Soult trên
đường đi làm về vào tối ngày bị hại. Hai người cãi nhau, Soult đánh
Shade nhưng lực đánh quá mạnh khiến nạn nhân bất tỉnh. Sau đó,
hắn chuyển Shade đến một nơi vắng vẻ và giáng đòn đánh chí mạng,
cắt tóc, phân xác và cắt bỏ bộ ngực để giữ làm kỷ niệm. Song, giữa
thời điểm bị tấn công và bị giết, nạn nhân đã bị một người khác
không phải Soult cưỡng bức.
Sau khi phân tích, Douglas cho rằng Michael, anh trai của Soult là
đồng phạm. Nguyên nhân là vì anh ta xuất thân từ cùng một gia đình
với Soult, làm cùng một công việc, từng ở bệnh viện tâm thần một
thời gian, có tiền án bạo lực và thiếu khả năng kiềm chế cơn tức
giận.
Thông tin điều tra còn cho biết, vào tối ngày Betty Jean Shade
mất tích, vợ của Michael đang chuyển dạ tại bệnh viện. Việc người
vợ mang thai đã gây ra kích thích lớn cho Michael, đồng thời trong
khoảng thời gian đó hắn cũng không có cơ hội để giải tỏa ham muốn
tình dục. Vì thế, Douglas nghĩ rằng sau khi tấn công Shade, Soult đã
hoảng sợ và tìm đến anh trai của mình. Michael cưỡng hiếp Shade
trong khi Soult đứng xem, sau đó giết hại Shade và cùng Michael phi
tang xác.
Khi cảnh sát bắt giữ Soult và Michael, cả hai không chịu thừa
nhận tội ác của mình. Mặc dù kết quả cuộc thẩm vấn bằng máy kiểm
tra nói dối cho thấy Soult đang thành thật nhưng những phản ứng
cảm xúc của hắn lại không bình thường. Douglas đề nghị lực lượng
chức năng đổi đối tượng, tập trung thẩm vấn Michael và thuyết phục
rằng anh ta chỉ quan hệ tình dục với Shade và hỗ trợ xử lý thi thể.
Nếu từ chối nói ra sự thật, anh ta sẽ phải ngồi tù với Soult.
Cuối cùng, Michael đã nhận tội. Về cơ bản, mọi thứ giống như
suy luận của Douglas: Soult luôn muốn quan hệ tình dục với Shade
nhưng không thành công. Nỗi uất hận của anh ta tích tụ dần và rất dễ
bộc phát. Đêm xảy ra vụ án, anh ta đã rất sợ hãi sau khi tấn công nạn
nhân, vì vậy đã tìm đến Michael. Chứng kiến cảnh Michael cưỡng
hiếp Shade, hắn càng cảm thấy bất lực và trở nên tức giận hơn. Hắn
đã tiến hành phân xác người chết bốn ngày sau đó.
Ngoài ra, Michael khai nhận rằng hắn và Soult còn nhận được sự
giúp đỡ từ một đồng phạm khác để hỗ trợ phi tang thi thể. Đó là
Catherine Wiesinger, người chị em tốt của Betty Jean Shade.
Sau đó, cảnh sát tìm thấy bộ ngực bị cắt rời ở nơi trú ẩn của
Soult. Hắn chịu tội giết người cấp độ một, Michael bị đưa vào bệnh
viện tâm thần sau khi kết án.
Chính nhờ phác họa chân dung và manh mối do chuyên gia tâm
lý tội phạm John Douglas cung cấp mà cảnh sát đã phá án suôn sẻ
hơn, kẻ sát nhân bị bắt về quy án và xét xử trước vành móng ngựa.
CHIA SẺ CỦA CHUYÊN GIA TÂM LÝ TỘI PHẠM
Có ba phương pháp chính để lập hồ sơ tâm lý tội phạm:
Đầu tiên, phương pháp phân tích hiện trường vụ án. Kỹ thuật này
được Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) đề xuất và xây dựng.
Phương pháp này yêu cầu người điều tra tập trung chú ý vào các
đặc điểm khác nhau của hiện trường vụ án, nhập các thông tin này
và báo cáo về nạn nhân vào kho dữ liệu tội phạm để tiến hành phác
thảo chân dung tội phạm. Năm 1979, Tổ khoa học hành vi của FBI đã
thiết lập cơ sở cho kho dữ liệu dựa trên cuộc phỏng vấn với 36 kẻ
phạm tội giết người và hiếp dâm.
Thứ hai, phương pháp điều tra tâm lý. Phương pháp này được
Canter thành lập ở Vương quốc Anh, chủ yếu sử dụng các ý nghĩa
tâm lý được phản ánh từ đặc điểm hành vi tại hiện trường vụ án để
phác họa chân dung hung thủ. Chuyên gia tin rằng đặc điểm thủ
pháp gây án của tội phạm sẽ được phản ánh trong hành động hàng
ngày của họ. Vì vậy, họ đưa ra giả thiết về tính thống nhất của người
phạm tội, cụ thể là tính nhất quán trong các mối quan hệ và không
gian, áp dụng nó vào lĩnh vực tâm lý tội phạm.
Thứ ba, phương pháp phán đoán đánh giá. Cách này chủ yếu
dựa trên kinh nghiệm thực tế.
Chương 3
Sát Thủ Ăn Thịt Người Án Mạng Cậu Bé Giao
Báo
Một buổi sáng đẹp trời tại thành phố Bellevue, Danny rời giường
như thường lệ để đạp xe vào thành phố. Cậu bé làm công việc giao
báo để kiếm tiền tiêu vặt. Tính tình nghịch ngợm, Danny thường
xuyên không chịu đi giày. Bỏ ngoài tai những lời nhắc nhở của bố
mẹ, cậu đạp xe bằng chân trần.
Ở tuổi 13, Danny là một chú bé dễ thương với mái tóc vàng và đôi
mắt xanh. Bố cậu là nhân viên bưu điện và cả Danny lẫn anh trai đều
đi giao báo. Cậu bé vui vẻ đạp xe trên con đường đến cửa hàng
nhận việc.
Thế nhưng, đến khoảng 7 giờ sáng, quản lý cửa hàng nhận được
cuộc gọi phàn nàn của một số người dân vì báo vẫn chưa đến tay.
Tất cả những hộ dân này đều thuộc phạm vi phụ trách của Danny
nên người quản lý đã đi tìm cậu bé. Tuy nhiên, sau khi đã đi một vòng
quanh khu vực mà vẫn không thấy tung tích của Danny, quản lý đành
gọi cho bố cậu, ông Eberle.
Hay tin, ông Eberle vội đi tìm con trai nhưng cũng không có kết
quả. Sau khi hỏi thăm, ông biết được rằng Danny đã giao báo cho ba
nhà trước khi biến mất. Khi đi tới nhà thứ tư, ông phát hiện xe đạp
của con trai dựng cạnh hàng rào, túi đựng ...
 





