GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
Toi Tu Hoc - Nguyen Duy Can

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:04' 07-03-2024
Dung lượng: 250.6 KB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:04' 07-03-2024
Dung lượng: 250.6 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
TÔI TỰ HỌC
Nguyễn Duy Cần
www.dtv-ebook.com
Chương 1
A. THẾ NÀO LÀ NGƯỜI HỌC THỨC?
Lễ Ký có nói: “Ngọc bất trác, bất thành khí; nhân bất học,
bất tri lí “. Có người dịch như vầy: “Ngọc chẳng mài, chẳng ra
chi. Người mà chẳng học, trí tri đâu tường …”
Như thế nào là “người có học “?
Có kẻ học đậu năm ba bằng, có người đậu cử nhân, tiến sĩ…
thế mà cũng còn bị người ta mắng cho là đồ “vô học “. Như
thế thì “người có học” là người như thế nào? Chắc chắn, nó
phải có một định nghĩa rõ ràng, nhưng thường được hiểu ngầm
hơn là nói trắng ra.
Tôi có quen nhiều bạn đậu kĩ sư điện, thế mà trong nhà có
máy điện nào hư, phải đi tìm những anh thợ máy điện đến sửa.
Nếu ta bảo họ giảng nghĩa về điện học, thì phải biết, họ sẽ làm
cho ta điếc óc…Tôi có biết nhiều ông giáo sư ở trường sư
phạm ra, thế mà trong khi dạy học, họ không biết áp dụng một
nguyên tắc sư phạm nào cả; học trò vẫn than phiền là giờ dạy
của họ buồn ngủ muốn chết, không hiểu được gì cả…Rồi họ
bảo: “Học trò mà học dở, không phải lỗi tại thầy”…Tôi cũng
có thấy vài ông đậu bằng tiến sĩ hay thạc sĩ triết học, thế mà
cách ăn ở với đời dại như một người ngu, không hiểu chút gì
về tâm lí của con người cả.
Ai ai, nếu để ý quan sát, cũng sẽ nhận thấy như tôi…Sự tình
ấy không phải lỗi hoàn toàn nơi những người ấy, mà tôi sẽ bàn
đến một nơi khác. Tôi chỉ muốn nói, những người có những
cấp bằng trên đây, họ có hơn gì kẻ vô học không? Nếu có hơn
là họ hơn về lí thuyết nhưng về phần thực tế…họ đâu có hơn
gì một con “Vẹt “. Nói cho đúng hơn, họ chỉ có “học” mà
không có “hành”. Học là để biết. Biết, mà không thực hành
được, cũng chưa gọi là “biết “. Tri và hành cần phải hợp nhất
mới được gọi là người “có học thức “.
Người xưa có ví: “Con chim ăn cỏ, đâu phải để mà nhả cỏ,
mà là để biến thành những bộ lông mướt đẹp. Con tằm ăn dâu,
đâu phải để mà nhả dâu, mà là để nhả tơ…” . Học mà không
“tiêu hóa “, có khác nào con chim nhả cỏ, con tằm nhả dâu…
Người ta rồi cũng chẳng khác nào cái máy thu thanh, chỉ lặp
lại những gì kẻ khác đã nói…Học như thế, không có lợi ích gì
cho mình mà còn hạ phẩm cách của con người ngang với máy
móc. George Duhamel có nói: “Đừng sợ máy móc của bên
ngòai…hãy sợ máy móc của cõi lòng…”. Một xã hội mà con
người chỉ còn là một bộ máy thì sứ mạng của văn hóa đã đến
ngày cùng tận rồi…mà tinh thần loài người rồi cũng đến lúc
diệt vong: có xác mà không hồn…Học mà đưa con người đến
tình trạng ấy, tôi tưởng thà đừng học có hơn không? Cái hiểm
trạng của xã hội phần lớn phải chăng một phần nào đều do
những bộ óc “học thức nửa mùa ” ấy gây nên?
Thế thì, học và học thức không thể lầm lẫn với nhau được.
ta cần phải để ý phân biệt hai lẽ ấy.
Thật vậy, có những sự hiểu biết chỉ “bám ” ngoài da mà
không thể “ăn sâu ” vào tâm khảm của ta. Nó là một nước sơn
bóng nhoáng và chỉ là một lớp sơn thôi…Cái học của ta không
có ảnh hưởng gì đến tâm hồn ta cả. Trái lại, cũng có nhiều thứ
hiểu biết liên lạc với kí ức ta, với tư tưởng ta, với tình cảm dục
vọng ta, nó hòa hợp với con người tinh thần của ta không khác
nào khí huyết tinh tủy đối với thân thể của ta vậy. Giữa những
sự hiểu biết ấy và ta, có một thứ tác động và phản động, xung
đột nhau, hòa hợp nhau để thay đổi nhau và thay đổi luôn cả
cái người của ta nữa…
Tôi muốn nói: giữa ta và những điều ta học hỏi phải có một
sự tiêu hóa , hay muốn nói theo Kinh Dịch, phải có một việc
thần hóa (thần nhi hỏa chi) mới được .
Vậy, ta phải dành chữ “học thức” cho những bộ óc thông
minh biết đồng hóa với những điều mình đã học. Như thế thì,
học nhiều và học thức không giống nhau.
Phần đông chúng ta thường hiểu lầm những việc ấy. Chúng
ta thường đánh giá con người theo bằng cấp của họ, những
bằng cấp ấy phần nhiều là những bằng cấp trí nhớ: kẻ nào nhớ
giỏi thì thi đậu. Sự nhận xét sai lầm này gây không biết bao tai
họa cho loài người hiện thời.
Tóm lại, người học thức không phải cần biết thật nhiều, mà
cần phải thật biết những gì mình đã biết .
“Tri chi vi tri chi, bất tri chi bất tri, thị tri dã” - Biết, thì biết
là mình biết, không biết là biết mình không biết, ấy mới thật là
biết. Học thức là một vấn đề thuộc “phẩm”, chứ không phải
thuộc “lượng” .
Cái học mà đã được đồng hóa rồi thì không còn nói là cái
học bên ngoài nữa. Cỏ mà bị chim ăn rồi, không còn là cỏ nữa.
Dâu mà bị tằm ăn, không còn gọi là dâu nữa.
Học, cũng như ăn.
B. HỌC ĐỂ LÀM GÌ?
Học để làm gì? Vài tại sao ta phải học?
Ta phải quan sát chung quanh ta, ta sẽ thấy có hai hạng
người: học vì tư lợi, và học không vì tư lợi gì cả, nghĩa là học
để mà học, học theo sở thích của mình…
Hạng học vì tư lợi, chiếm một phần rất đông. Họ học một
nghệ thật nào, một khoa học nào, một nghề nghiệp nào là để
tìm một kế sinh nhai. Cái ý muốn thiết thực này cũng là cái ý
muốn chính của các bậc làm cha mẹ khi tìm thầy cho con, hay
khi gởi chúng đến trường. Mà chính các học sinh, đa số cụng
chỉ có một mục đích ấy: nắm lấy bằng cấp để tìm lấy một con
đường sinh kế.
Thật ra, cũng có nhiều kẻ, đối với nghề nghiệp sau này của
mình cảm thấy thích thú lắm. Cũng có thể rất sung sướng khi
nghĩ đến sau này sẽ được làm kĩ sư, giáo sư, nghệ sĩ hay sĩ
quan…Nhưng, cái ý nghĩ nhờ đó kiếm địa vị, tiền bạc, danh
vọng, quyền tước…cũng đủ làm cho tâm hồn mình mất cả cái
sung sướng tinh khiết của cái học vô tư lợi…Cái mộng của
tuổi trẻ qua rồi, tôi thường thấy có nhiều bậc phụ huynh không
muốn cho con em mình sau này theo đuổi nghề nghiệp của
mình. Học để tìm một nghề nghiệp làm kế sinh nhai, có cái lợi
ích của nó, không một ai có thể chối cải được, nhưng dầu thích
hay không thích nó chỉ là một cái học để thành công, một cái
học vị lợi…mà đối với những người có đầu óc thiết thực, ít lí
tưởng, cho là thỏa mãn lắm rồi!
Bên những nhà “tập sự ” vị lợi ấy, chúng ta cũng thấy có
nhiều kẻ, ngay tuổi còn thơ, nhất là lúc mà trí thức đương
chừng nẩy nở, họ ham học mà không có một ý nghĩ gì vụ lợi
cả: không phải để kiếm tiền, không phải để tìm địa vị, cũng
không phải để tìm danh vọng…Chiều theo ý của cha mẹ, hoặc
vì hoàn cảnh bắt buộc mà phải chọn một nghề nào, kì thực họ
không để chút tâm hồn nào nơi ấy cả. Họ là một công chức sở
hối đoái mà họ say mê thi phú hay âm nhạc. Họ là một sĩ quan
mà họ mê say lịch sử hay văn chương. Họ là một trạng sư mà
họ mê say toán học. Có kẻ, ngoài giờ phải lo lắng giồi mài
nghề nghiệp của mình để kiếm ăn, cũng ráng dành một vài giờ
để thỏa mãn tính tò mò của mình, học những môn không lợi
ích gì cho cái đời vật chất của mình cả, khi thì đọc triết học,
khi thì đọc sách nghiên cứu về văn chương, lắm khi “tập tễnh”
cầm bút viết văn hay hội họa…
Đấy cũng là một cách học, một cái học hoàn toàn không
chút gì vị lợi. Những kẻ học như thế, họ học văn chương vì
văn chương, học nghệ thuật vì nghệ thuật, học khoa học vì
khoa học.
Hai hạng người trên đây, ai có lí? Ai vô lí? Thật cũng khó
mà trả lời. Cái thích của người này chưa chắc cũng là cái thích
của người kia.
Lại còn có người nọ thích không học gì cả , thì sao? Họ sẽ
nói: “Đời người ngắn ngủi, học cùng không học thì có khác gì
nhau. Anh thích khoa học, tạo hóa ban cho anh nhiều năng
khiếu, thì anh thành nhà bác học giúp đời…
Còn tôi không có năng khiếu chi cả, cố mà nhồi vào sọ
những cái học hỏi của kẻ khác, cố mà sản xuất những tác
phẩm không hơn gì những bài làm của học sinh…thì phỏng có
lợi ích gì! Ta hãy cứ tìm lấy những hạnh phúc rẻ tiền không
cần dụng công nhọc sức chi cả có hơn không! Anh đọc truyện
kiều, anh biết thích…Tôi, tôi đọc Lục Vân Tiên, tôi cũng biết
thích vậy. Anh, anh thích nhạc cổ điển, anh thích nhạc Âu Mỹ.
Tôi, tôi nghe vọng cổ, tôi xem hát bội, tôi cũng biết thích vậy.
Anh đọc tiểu thuyết cổ điền của Đông Phương, tôi cũng biết
mê say…Vậy, thì cũng chưa chắc cái sướng của anh hơn cái
sướng của tôi…”
Ta phải trả lời với họ cách nào?
Đã không thiếu gì những quyển luân lí tân cựu đã trả lời với
họ rất hùng hồn…Nhưng, theo tôi, mặc dầu có rất nhiều bài
văn mà tài hùng biện của tác giả không thể chối cãi được…Tôi
thấy cũng chưa đủ sức cảm hóa hạng người trên đây.
Ta hãy can đảm nhìn ngay sự thật; có nhiều kẻ họ sống hết
sức hạnh phúc trong sự ngu dốt và ở không của họ…Họ ghét
đọc sách, họ ghét suy nghĩ, họ ghét làm việc bằng tinh thần
cụng như họ ghét gông cùm tù tội vậy: một vấn đề hoàn toàn
thuộc về bản chất…
Geothe, lúc mà danh vọng của ông lên đến tột độ, ngày kia
dạo trên bờ sông thành Naples gặp một tên ăn mày nằm ngủ
phơi mình trong ánh nắng…Ông dừng chân, tự hỏi:
“Ta và anh ăn mày này, ai hạnh phúc hơn ai ?”. Thật, cũng
khó mà trả lời cho dứt khóat. Tuy nhiên, tôi chắc chắn, các bạn
cũng như tôi, chúng ta thích sống trong hạnh phúc của Geothe
hơn. Andre' Gide cũng nói: “Một cái hạnh phúc mà vô tâm, tôi
không chịu sống trong hạnh phúc ấy “.
Nếu bạn là người chịu theo phái “ăn rồi nằm ngữa nằm
nghiêng, có ai mướn tớ, thì khiêng tớ về…” Nghĩa là theo phái
thích “ăn không ngồi rồi”, “tối thiểu nổ lực ” và cho đó là hạnh
phúc nhất đời, thì xin mời bạn hãy để quyển sách này xuống…
Nó không phải viết cho bạn.
Thú thật, tôi không đủ tài để thuyết phục bạn. Sách này viết
ra, là cho những ai cùng đồng một ý kiến với tôi, cho rằng
hạnh phúc của Geothe hơn hạnh phúc của anh ăn mày, hay nói
đúng hơn, Geothe cao trọng hơn anh ăn mày.
Theo tôi, hạnh phúc là được làm chủ hành động ta, tư tưởng
ta, tình cảm ta…và mỗi ngày mỗi làm cho “cái người ” của ta
thêm sáng suốt hơn, thêm tự do hơn, thêm to rộng hơn…nghĩa
là thêm mới mẻ hơn. “Cấu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân
“. Mỗi ngày một mới, và ngày càng mới mãi…Đấy là lời khắc
trên bồn tắm của vua Thành Thang ngày xưa. Và cũng chính là
lí tưởng của Pastuer: “Cao lên, cao hơn lên, và cao lên mãi…”
Như thế, ta thấy rõ mục đích của sự học là gì rồi. Học, là để
mưu hạnh phúc, nghĩa là để làm cho mình càng ngày càng
mới, càng ngày càng cao, càng ngày càng rộng… . Học, là
tăng gia sự hiểu biết của mình, là mở rộng tâm hồn của mình
bằng cách thu nhận sự hiểu biết cùng những kinh nghiệm của
kẻ khác làm của mình. Có khác nào một đứa trẻ mới sinh, cân
không đầy hai, ba kí…thế mà nhờ càng ngày càng lớn đến
năm, sáu chục kí…trong khoảng vài mươi năm sau? Phải
chăng nhờ rút lấy những vật liệu chung quanh: không khí, món
ăn, món uống…mà tiến từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh,
nghĩa là càng ngày càng mới, càng ngày càng cao, càng ngày
càng lớn. Bởi vậy, trước đây tôi có nói: “Học cũng như ăn “.
Ăn mà không tiêu, thì có hại cho sức khoẻ. Học mà không
tiêu hóa thì có hại cho tinh thần. Cỏ của con chim ăn mà được
tiêu, không còn gọi là cỏ nữa, mà là bộ lông mướt đẹp của nó.
Dâu của con chim ăn mà được tiêu, không còn là dâu nữa, mà
là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó. Người có học thức là người
đã thần hóa những cái học của mình . Bởi vậy, người có học
thức là người dường như không biết gì cả, mà không có cái gì
là không biết.
Học mà đến mực dường như quên hết cả sách vở của mình
đã học thì cái học ấy mới thật là “nhập diệu”. Herriot nói:
“Học thức là cái gì còn lại khi mình đã quên tất cả “.
Một nhà tâm lí học có nói: “Quên là điều kiện cần thiết của
cái Nhớ “. Thật là chí lí. Một điều gì học mà mình còn cố nhớ,
là nó chưa được nhập vào tâm. Chỉ khi nào mình không cần
nhớ mà nó vẫn tự nhiên hiển hiện trong tâm trí mình thì môn
học ấy mới được gọi là đã được tiêu hóa. Người học đánh máy
chữ mà còn để ý tìm từng nét chữ, cố nhớ vị trí của nút chữ…
là người đánh máy chưa tinh. Người học đi xe máy mà còn
nhớ mình còn ngồi trên yên xe máy, còn để ý đến bàn đạp,
cách đạp…là người đi xe máy chưa tinh. Tôi còn nhớ, lúc còn
học thi, gần đến ngày thi, tôi băn khoăn nói với cha tôi: “Sao
con học nhiều quá mà nay dường như con không nhớ gì cả.
Lòng con như quên hết, không biết có nhớ được gì không?
Con sợ quá “. Cha tôi cười bảo:
“Đấy là con đã học “mùi” rồi. Quên tức là nhớ nhiều rồi đó.
Con hãy yên tâm …”. Thật đúng như lời. Ngày thi giám khảo
hỏi đâu, tôi trả lời liền đó, một cách dễ dàng hết sức.
Trang Tử nói: “Người bắn cung mà còn để ý đến việc bắn
cung của mình là người bắn chưa tinh. Kẻ lội mà còn để ý đến
cái lội của mình là người lội chưa giỏi. Phải biết quên thị phi
đi, thì cái tâm mình mới thông suốt được cái lẽ thị phi…(Tri
vong thị phi, tâm chi thích dã)”. Hiểu được câu nói này của
Trang Tử là hiểu được cái diệu pháp của Phép Học rồi vậy.
C. THẾ NÀO LÀ BẬC THIÊN TÀI?
Nói đến những bậc thiên tài nhiều người đã tưởng tượng họ
như kẻ phi thường, cô phong độc tú…xa hẳn với loài người.
Thực ra cũng không có gì lạ giữa họ và chúng ta cho lắm; có
nhiều kẻ còn tệ hơn chúng ta nhiều về vấn đề thể chất lẫn tinh
thần nữa. Họ chỉ khác ta có một điều thôi: họ có một đức tin
vững vàng về phương pháp làm việc của họ . Họ tin rằng với
sự cần cù nhẫn nại và cách làm việc có phương pháp, họ sẽ đạt
được ý muốn cao xa của họ. Theo họ “thiên tài chỉ là một sự
nhẫn nại bền bỉ lâu ngày ” mà thôi.
Darwin, tác giả bộ “Vạn vật nguyên lai luận”, người đã gây
được một cuộc cách mạng to tát trong khoa học là một người
có một trí nhớ rất tồi tệ, một sức khoẻ rất bạc nhược.
Spinoza thì đau bệnh phổi, chết vào khoảng 45 tuổi.
Pascal thì đau mãi và mất sớm năm 39 tuổi.
Montaigne cứ than vãn mãi về trí nhớ thậm tệ của ông cũng
như về trí não “chậm chạp và tăm tối” của ông, còn Herbert
Spencer thì không thể nào làm việc trong một giờ mà không
đau. Có ai dám bảo rằng những người nói trên đây không phải
là những bậc vĩ nhân trong nhân loại? Sự nghiệp tinh thần của
họ đều là những kỳ công bất hủ, những tinh hoa của nhân loại.
Thế mà vấn đề thể chất của họ còn thua ta xa, còn vấn đề tinh
thần có khi cũng không hơn gì ta cho lắm. Nếu phải kể ra cho
hết, thì cả năm mươi trang cũng không sao kể đủ tên tuổi của
các bậc vĩ nhân mà về phương diện thể chất và tinh thần
không có gì là đặc sắc hơn những kẻ tầm thường.
Thế nhưng họ đã để lại cho đời những kỳ công vĩ đại là nhờ
đâu? Vì họ biết cách làm việc có phương pháp, có nghệ thuật.
Trong giới trí thức, cũng như trong các hiện tượng khác của
tự nhiên: những hành động bạo phát, hùng hổ mãnh liệt như
địa chấn, thủy tai…chỉ là những hiện tượng bạo phát mà bạo
tàn…
Những gì có tính cách vĩ đại khó thoát khỏi yếu tố thời gian.
Muốn học cho thâm, muốn gây tạo những công trình to tát
cũng phải cần đến thời giờ. Nhất là văn hóa, không thể chấp
nhận được thời gian. Một giọt nước con, mà với thời gian đã
điêu khắc dải Hoành Sơn, Tuyết Lãnh…
Nếu các bạn xem kĩ đời niên thiếu của các bậc vĩ nhân đã
làm vẻ vang cho Tổ quốc họ và cho cả nhân loại, các bạn sẽ
thấy, khi các ông ấy còn là học sinh đâu phải luôn luôn là
những học sinh đứng vào hạng nhất trong lớp họ. Có khi họ lại
là những anh học sinh “hạng bét ” là khác. Có nhiều kẻ, chính
các ông thầy của họ cũng không để ý đến họ nữa. Nhưng, một
ngày kia, một tình cờ run rủi, bỗng dưng cảm khích như
Malebranche, sau khi đọc quyển “Traite' de lHomme của
Descartes”, đem hết nghị lực lao đầu vào sự học, nhẫn nại, cố
gắng cho tới ngày tài hoa xuất hiện.
Một việc làm âm thầm, lặng lẽ trong cô tịch nhưng đầy hăng
hái, đầy kiên nhẫn sẽ là những công việc làm có nhiều kết quả
vẻ vang và sâu sắc nhất. Trong khoảng âm thầm lặng lẽ nghiên
cứu học hỏi, các bạn đã tìm ra được lắm ý nghĩa hay ho, nhiều
tư tưởng tân kì có thể là những nền tảng cho một đời sống tinh
thần và phát minh sau này của bạn.
Trong lúc ấy, trong lúc mà các bạn khác của bạn, nhiều may
mắn hơn, đi vào các trường cao đẳng để tản mác trí lực của họ
trong những cuộc đua chọi bằng cấp và địa vị cao sang quyền
quí, thì trong bóng tối, trong im lặng, tác phẩm của bạn như
tiếng sấm đêm đông…làm cho mọi người kinh khủng. Công
trình sự nghiệp của bạn chẳng khác nào những hòn đảo kia, từ
lượng cát đắp bồi, bỗng trồi lên mặt nước, một cách vững vàng
như con núi.
Những bậc vĩ nhân đều hiện lên một cách từ từ và lặng lẻ
như thế. Họ nhẫn nại mà đi từng bước một; nhưng một bước
của họ là một bước chắc chắn.
Leo núi cao, các người từng trải đều quả quyết rằng những
kẻ nào háo thắng, vội vàng sẽ không bao giờ đi tới mức được.
Họ sẽ mệt nhọc, đuối sức và bị bỏ lại giữa đường. Các bậc vĩ
nhân họ đi từ từ mà không nghỉ, một cách hết sức trật tự và
quy củ.
Ông Newton nói: “Nếu tôi có phát minh được một đôi điều
gì, cũng là nhờ nghĩ ngợi mãi một việc và đem việc ấy mà
quan sát đủ mọi phương diện. Nếu những phát minh của tôi có
được chút ích lợi cho đồng bào là do sự cần cù và đeo đuổi
mãi theo một ý nghĩ mà không thôi vậy “.
Giáo sư Duclaux, trong một bài diễn văn nói về Pastuer có
nói: “Tôi không rõ những phát minh kì vĩ có phải là do thiên
tài sản xuất, không cần đến sự cố công gắng sức không? Chứ ở
trường hợp Pastuer đây, tôi thấy hẳn không phải vậy. Nếu ông
là một nhà phát minh đã lập được rất nhiều kì công vĩ đại
trong nhân loại, trước hết là nhờ ông là một người làm việc rất
nhẫn nại và lặng lẽ. ..”
Nhất là họ không bao giờ hiếu danh, hối hả trong công việc
học hỏi và nghiên cứu của họ.
Người ta bảo rằng lúc Pastuer thi vào đại học, chỉ đậu hạng
ba hạng tư gì đó. Năm ấy, ông không chịu vào đại học. Học
thêm một năm nữa, kì thi năm sau ông đứng đầu. Ông tự cho
rằng sức ông còn yếu, nên cần học lại thêm một năm nữa, đâu
có muộn gì, bởi theo ông cần nhất là phải có thật tài hơn là hối
hả trong công trình học vấn. Thật có khác với đầu óc tâm
tưởng của phần đông chúng ta ngày nay, bao giờ cũng không
muốn cướp thời gian và thành công mau lẹ.
Tóm lại, thiên tài là một sự nhẫn nại bền bỉ và lâu dài. Muốn
thành những bậc tài hoa, điều thứ nhất là phải có lí tưởng, có
đủ tin tưởng và chí kiên nhẫn để thực hiện lí tưởng ấy; điều
thứ hai là làm việc cho có trật tự, có phương pháp, nhẫn nại và
lặng lẽ, không bồn chồn, không vội vã …
TÔI TỰ HỌC
Nguyễn Duy Cần
www.dtv-ebook.com
Chương 2
A.HỌC VẤN VÀ THỜI GIAN
Trang Tử nói: “Đời sống ta có hạn mà sự học hỏi thì vô
hạn…”. Đời bấy giờ mà ông còn nói thế, thì sống vào đời này
phải nói như thế nào? Khoa học đã đi đến trình độ cực kì phức
tạp và sâu rộng, dẫu là bậc thông minh đến đâu cũng không
thể dám nói: “Óc tôi có thể chứa được tất cả cái học hiện thời
“. Người như Trang Tử mà Tư Mã Thiên bảo là có một cái học
“thông kim bác cổ “, vậy mà còn phải nói thế. Ta cứ nhìn kĩ
chung quanh từng ngành học, sẽ thấy sự gia tăng của nó trong
mấy năm gần đây mà ngợp. Dù cho ta có thể đầu thai mấy
ngàn kiếp cũng không sao chứa được hết cái học của con
người, ngay trong mỗi một ngành học nào cũng vậy.
Sự học ngày càng tăng, mà thời giờ con người càng ngày
càng thu hẹp. Đừng nói thì giờ rỗi rãi của ta ngày nay có
nhiều…Lấy ngay một cái nghề giáo viên cũng đủ thấy ngày
giờ của mình đã mất hết. Dù ta bỏ hết thời giờ của ta cũng
không sao có đủ để nghiên cứu học hỏi cho tinh chuyên. Nghề
bác sĩ, nghề kĩ sư…và bất luận là nghề nào, muốn học đến chỗ
tinh vi của nó, đều phải mất thì giờ không ít. Thế là sự học
càng tăng thì giờ để thu thập nó lại càng hẹp.
Thật là một sự mâu thuẩn đau đớn cho những người ham
học như chúng ta. Trước vấn đề khó giải này phải đối phó cách
nào?
Chắc chắn là chúng ta không nên giải quyết một cách tiêu
cực như hạng “dốt kim thời” này: họ viện lẽ “bể học mênh
mông mà thời giờ không có đủ…vậy tốt hơn việc nhà mình
mình biết, ghé mắt vào việc nhà kẻ khác để làm gì? Học làm
gì, rút cuộc cũng không hiểu biết gì hơn người không học …”
Socrate há không có nói: “Điều mà ta biết rõ nhất là ta không
biết gì cả !” hay sao?
Hạng “dốt” này, may thay chỉ có một phần tử rất ít trong xã
hội ngày nay. Nói thế, đâu phải chỉ có đời nay mới có hạng
người này mà thôi. Đời nào cũng có cả. Nhưng có điều là hạng
“dốt kim thời” này họ dốt và biết biện hộ sự dốt nát của họ: họ
viện đủ lí lẽ, nào là khoa học phá sản, nào là sức hiểu biết của
trí não thì hữu hạn, còn sự hiểu biết của loài người thì vô
biên…Nói cho đúng, họ là hạng dốt có “triết lí”. Họ lí sự lắm
và tìm đủ cách để biện hộ sự khuất phục của họ trước vấn đề
học hỏi.
Lại còn có một hạng người phản đối hạng trên. Họ nhất định
không chịu khoanh tay chịu dốt…Nhưng, cẩn thận hơn, họ
quyết định chọn một vài sự hiểu biết nào mà họ thích nhất, rồi
bám lấy, ngăn tường đắp lũy, đem tất cả thời giờ và tâm trí họ
để nghiên cứu một cách sâu sa triệt để hơn. Đây là giải pháp
của nhà chuyên môn . Hạng người này hiện thời rất đông. Bất
cứ là đi vào giới trí thức nào ta luôn luôn đụng chạm với
những nhà thông thái “trong tháp ngà” ấy. Một ông kĩ sư cấu
cống không biết gì cả đến các phong trào văn nghệ trong nước,
cũng không đủ sức hiểu biết một bài thơ hay. Một bác sĩ y
khoa không bao giờ đọc sách triết học, hay văn chương. Một
kịch gia suốt đời không đọc một quyển sách về khoa học ứng
dụng.
Ngoài cái ngành chuyên môn của họ, họ không buồn biết
đến việc gì ngoài chỗ sở trường của họ. Họ cũng là hạng người
công nhận sự bất lực của trí não con người trước vấn đề mênh
mông của sự học hỏi. Nhưng, thay vì như anh “dốt kim thời”
trên đây bó tay chịu dốt, thì họ lại quyết định chọn con đường
cô lập và chuyên môn. Tuy vậy, hạng người này đáng mến hơn
hạng người trên đây, nhất là họ dễ thương hơn hạng người
“ngụy trí thức ” sau đây.
Hạng người “ngụy bác học” hay “ngụy trí thức” lại cũng là
nạn nhân của vấn đề nan giải trên đây: cái học thì vô cùng mà
thời gian thì có hạn. Họ không chịu dốt, nhưng họ cũng không
có đủ can đảm làm nhà chuyên môn. Họ là những hạng người
“dở dở ương ương” : cái gì cũng biết, nhưng biết không có cái
gì thực biết. Đấy cũng là lối học ở nhà trường để đào tạo một
hạng người “bác học nửa mùa “. Sách gì họ cũng đọc…nhưng
mà họ chỉ đọc phớt qua như con bướm giỡn hoa…Họ bàn đến
nguyên tử lực, họ nói chuyện Einstein và thuyết tương đối, họ
bàn đến Vô Vi của Lão Tử, họ luận về Tam Giáo, sành chính
trị, kinh tế…không có câu chuyện gì là không thấy họ phê
bình chỉ trích như một kẻ chuyên môn. Những nhà “bác học
nữa mùa” này hiện thời đã chiếm số khá đông trong nhân loại.
Chế độ dân chủ cho phép họ nghênh ngang múa mép trong
khắp các ngành hoạt động xã hội. Những báo chí, những sách
phổ thông viết một cách hối hả của những “học giả nữa mùa”
là những “tội nhân” đã đào tạo ra hạng người này, nhất là cái
học “bách khoa” của giáo dục.
Hạng “ngụy trí thức” này thật là cả một tai vạ cho xã hội
hiện thời. Đối với hạng dốt và hạng chuyên môn trên đây họ là
hạng người bêu xấu sự học, hạng người đáng ghét nhất. Dân
chúng thiếu học thường bị bọn người này loè bịp khiến kẻ nào
múa môi lẻo mép nhất, thường được quần chúng hoan
nghênh…Và chính họ là kẻ dẫn dân chúng vào những con
đường phiêu lưu tăm tối của lịch sử sau này.
B. CÁI HỌC VỀ BỀ RỘNG VÀ CÁI HỌC VỀ BỀ SÂU
Có hai thứ học vấn: học về bề sâu và học về bề rộng
Có một thứ hiểu biết do bên ngoài đưa đến, có một thứ hiểu
biết do bên trong mà phát huy ra được.
Cái học bao quát mà người xưa ở Đông Phương khuyên
bảo: “Thượng tri thiên văn, hạ tri địa lí, trung tri nhân sự ” là
một cái học hết sức cần thiết để tìm biết được chân lí trong đời
này. Thật vậy, mọi sự mọi vật trên đời liên quan rất mật thiết
với nhau. Có biết được nguyên nhân mới hiểu rành lí sự.
Nhưng cái “nhân ” này sanh ra cái “quả” kia, rồi cái quả ấy lại
là cái nhân cho cái quả khác, tiếp tục nhau mà đến. Sự việc
này xảy ra trước mắt ta hôm nay, trước đây đã có một dọc
nguyên nhân mà ta không biết và có biết chăng, cũng chỉ biết
được một vài nguyên nhân thiển cận mà thôi, còn lại không
biết bao nhiêu nguyên nhân khác nữa, hữu hình có, vô hình
cũng có mà ta không làm sao biết hết được. Người trí sở dĩ
khác được kẻ ngu chỉ ở điểm này: Một đàng đã tìm thấy được
nhiều nguyên nhân sâu xa và rộng rãi, còn một đàng thì không
nhận thấy một nguyên nhân nào khác hơn là sự việc đã xảy ra
mà thôi. Vì vậy mà người trí thức cần phải có một cái học rộng
rãi để khỏi phải bị thiên kiến trong khi nhận xét và phê bình.
Nhưng cần nhất là phải có một cái học chuyên môn, một cái
học về bề sâu. Victor Duruy nói: “Phải có một cái học tổng
quát để phụng sự cho ngành chuyên môn của mình !”.
Câu chuyện sau đây chứng tỏ rằng cái học chuyên môn mà
được tận tâm huấn luyện bắt buộc ta phải đi đến cái học tổng
quát.
Một nhà tiến sĩ văn chương cổ điển, ngày kia đến viếng ông
Kerschensteiner, bấy giờ đang làm hiệu trưởng các trường ở
Munich, để xin một chân giáo học ở trường tiểu học của ông.
Dĩ nhiên trong việc xin dạy đây, chắc hẳn không phải vì vấn
đề sinh nhai mà chính vì ông ta muốn tự mình nghiên cứu sự
tổ chức và phương pháp dạy dỗ ở cấp đại học mà ông sẽ có
phận sự đảm nhiệm.
Kerschensteiner, trước lòng khẩn thiết nhật thành ít có ấy,
bằng lòng nhận ông ấy vào dạy học, nhưng cũng không quên
nhắc ông rằng cái học chuyên khoa về ngôn ngữ học của ông e
sẽ là một trở ngại to tát cho công việc dạy dỗ của ông đối với
cấp sơ học. Ông này cho biết rắng sự chuyên học về tiếng La
Tinh va Hy Lạp đầu tiên đã hướng ông vào công việc nghiên
cứu về lịch sử thời cổ sơ. Và nghiên cứu thời tiền sử, và vì thế
bắt ông phải đeo đuổi theo khoa nhân loại học. Chính lúc ấy
ông cảm thấy ông cần phải có một sự hiểu biết vững vàng về
vạng vật học và ông bắt đầu nghiên cứu về thực vật học và
động vật học. Nhân đó, ông cảm thấy ông còn thiếu sót rất
nhiều về vật lí học cũng như về hóa học, bởi vậy ba năm sau
khi thi đậu bằng tiến sĩ văn khoa, ông theo thọ giáo những nhà
khoa học trứ danh Rontgen và Bayer.
Câu chuyện trên đây, đâu phải là một câu chuyện đặc biệt
riêng gì của một người: các nhà học thức chân chính nào cũng
đi một con đường như ông tiến sĩ trên đây cả. Thật vậy, khi
mình muốn đi thật sâu vào một vấn đề nào, thường thường lại
phải cầu cứu đến các ngành học khác có liên lạc đến nó. Như
cái học về vật lí bắt ta phải sành toán học, cái học về địa lí
buộc ta phải có một cơ sở học vấn vững vàng về địa chất học.
Thành ra, chỉ đi sâu vào ngành học nào, người ta rốt cuộc
cũng tìm ra được cái học bao la tổng quát, vì sự vật trong đời
chằng chịt dính líu nhau, không có một sự vật nào là cô đơn
độc lập cả.
Rồi ra, cái học tổng quát có cái hại này, là cái gì cũng biết,
nhưng không có cái gì chuyên môn thực hiện được cả cho sự
tiến bộ chung của nhân loại. Tuy vậy, nó có những cái lợi to tát
này là nó đào tạo cho ta có được một cái nhìn bao quát, không
thiên kiến, trí óc và tâm hồn rộng rãi, hiểu được người chung
quanh, không có tinh thần quá khích. Đời sống tinh thần cũng
dồi dào mà hưởng thụ sự sung sướng cũng rộng rãi. Thử tưởng
tượng một người có óc thẩm mĩ, hiểu biết được cái hay của âm
nhạc hay hội họa, bất kì là âm nhạc hay hội họa của nước nào.
Người đó phải chăng là người có nguồn hạnh phúc tinh thần
vô tận không? Trái lại, những kẻ chỉ biết cái hay của vọng cổ
mà không thưởng thức cái đẹp của một bản nhạc Beethoven,
biết cái hay của một tuồng hát bóng Âu Mỹ mà không thưởng
thức nổi cái đẹp của một tuồng “hát bội” Á Đông…thì dĩ
nhiên nguồn cảm hứng mĩ thuật phải kém nhiều, vì bị hạn
định.
Cái học chuyên môn thì có cái lợi nhiều cho xã hội, khiến
cho công việc làm ngày càng trở nên tinh tiến, mau lẹ, nhưng
nó có cái hại là thường hay biến con người thành bộ óc hẹp
hòi, vì nghề nghiệp. Có quá nhiều nhà chuyên môn họ làm thái
quá đến lố bịch…Như nhà bác sĩ kia bị ám ảnh vì vi trùng, rồi
dưới con mắt ông, cái gì cũng cắt nghĩa bằng vi trùng…Cho
đến tình yêu họ cũng cắt nghĩa là bị vi trùng “yêu”. Dưới mắt
bác sĩ, điên là một chứng bệnh, nhưng thiên tài đối với các ông
cũng là một chứng bệnh. Thậm chí có nhà bác học nọ cho Đức
Jesus cũng là một người điên, vì là một người “phi thường “.
lại nữa, nhà chuyên môn cũng thường bị mang chứng bệnh
“Sai ngoa về nghề nghiệp ” nữa. Đó là một tai hại đáng lo
ngại, cần phải tránh xa vì nó có tính cách phản văn hóa.
C. CỐ GẮNG: ĐIỀU KIỆN ĐẦU TIÊNCỦA SỰ TIẾN BỘ
TINH THẦN
Muốn có sự tiến bộ về văn hóa, tức là muốn cho sự học
được bổ ích cho tinh thần, phải để ý đến yếu tố đầu tiên này,
sự cố gắng .
Một cố gắng dù nhỏ bậc nào cũng là điều kiện cần thiết để
tinh thần trí não ta tiến bộ. Ngày nay, phần đông đã hiểu một
cách sai lầm rằng: ông thầy dạy hay không phải ông thầy bắt ta
làm việc, mà là ông thầy làm việc thế nào cho ta. Cũng như
sách hay không phải là sách mà tác giả bắt ta suy nghĩ, trái lại
là sách mà tác giả đã suy nghĩ sẵn cho ta, có khi tác giả đã làm
sẵn bài tóm tắt cùng dàn bài cho ta nữa những sách học trò lớp
năm…vậy.
Người ta lại còn rút ngắn và lược thuật các quyển sách chỉ
nói đại cương như loại “Degest” của Mỹ, và loại sách ấy rất
được đa số quần chúng ưa thích…Dường như càng cố tránh
cho độc giả phải nhọc công tìm kiếm, và suy nghĩ được chừng
nào hay chừng nấy, đó là người ta đã đạt được mục đích mà họ
gọi là “phổ thông”…Kể ra những công việc làm ấy, về mặt
văn hóa, không giúp ích gì tinh thần bao nhiêu. Độc giả chỉ
đóng một vai tuồng thụ động trong khi đọc sách, thành ra, đọc
sách thì thật nhiều, mà kết quả về văn hóa thì chả có là bao.
Đọc sách du lịch, viếng các việc bảo tàng, đi nghe âm nhạc,
nghe diễn thuyết…không phải là đi tìm món ăn tinh thần, gây
dựng cơ sở văn hóa cho mình sao? Làm mấy công việc đó đâu
cần gì phải cố gắng?
Ta nên nhớ rằng, người ta có thể đọc sách rất nhiều, đi du
lịch cùng khắp thế giới mà dốt nát vẫn hoàn dốt nát. Là tại
sao? Đọc sách có nhiều sách. Nếu đọc sách chỉ để giết thời
giờ, tìm vui thích hoặc để tìm quên lãng trong những lúc buồn
chán ở trên toa xe hay đọc sách để tìm giấc ngủ - thì đọc sách
không lợi gì cho tinh thần cả. Đọc sách mà có lợi cho tinh thần
là khi nào mình biết vận dụng tất cả năng lực và năng khiếu
của mình, nhận thức được rõ ràng những ý kiến sâu thẳm của
lòng mình đem ra so sánh với những ý kiến dị đồng của tác
giả, biết sắp đạt lại những kí ức của mình, biết trầm ngâm suy
nghĩ, biết làm việc có phương pháp, tóm lại, biết thảo luận và
thông cảm với tác giả quyển sách mình đọc, đó là cách đọc
sách đấy.
Du lịch cũng là một nguồn học hỏi, nhưng biết du lịch chỉ là
thụ động, mà không biết quan sát, biết suy nghĩ thì dù có lê
chân suốt đời khắp năm châu thế giới cũng chẳng ích gì. Sở dĩ
du lịch đã giúp ích cho sự “đa văn quảng kiến” cho nhiều bậc
văn hào trên thế giới như bằng chứng nơi những tập du kí của
những đại văn hào H. de Keyserling, Aldous Huxley,
R.Rolland, A. Gide…là vì những nhân vật ấy đã khéo biết
quan sát, không phải cái bề ngoài của sự vật và con người mà
là vì họ đã biết nhìn xem cái động cơ vô hình đã nhào nặn
những sự kiện hữu hình dưới mắt họ kia. Sự du lịch của họ
không có tính cách thụ động nhọc nhằn chán nản như một thí
sinh dượt thi một cách đau khổ chán chường…Sự cố gắng
trong vấn đề học hỏi rất có thể trái ngược l...
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
TÔI TỰ HỌC
Nguyễn Duy Cần
www.dtv-ebook.com
Chương 1
A. THẾ NÀO LÀ NGƯỜI HỌC THỨC?
Lễ Ký có nói: “Ngọc bất trác, bất thành khí; nhân bất học,
bất tri lí “. Có người dịch như vầy: “Ngọc chẳng mài, chẳng ra
chi. Người mà chẳng học, trí tri đâu tường …”
Như thế nào là “người có học “?
Có kẻ học đậu năm ba bằng, có người đậu cử nhân, tiến sĩ…
thế mà cũng còn bị người ta mắng cho là đồ “vô học “. Như
thế thì “người có học” là người như thế nào? Chắc chắn, nó
phải có một định nghĩa rõ ràng, nhưng thường được hiểu ngầm
hơn là nói trắng ra.
Tôi có quen nhiều bạn đậu kĩ sư điện, thế mà trong nhà có
máy điện nào hư, phải đi tìm những anh thợ máy điện đến sửa.
Nếu ta bảo họ giảng nghĩa về điện học, thì phải biết, họ sẽ làm
cho ta điếc óc…Tôi có biết nhiều ông giáo sư ở trường sư
phạm ra, thế mà trong khi dạy học, họ không biết áp dụng một
nguyên tắc sư phạm nào cả; học trò vẫn than phiền là giờ dạy
của họ buồn ngủ muốn chết, không hiểu được gì cả…Rồi họ
bảo: “Học trò mà học dở, không phải lỗi tại thầy”…Tôi cũng
có thấy vài ông đậu bằng tiến sĩ hay thạc sĩ triết học, thế mà
cách ăn ở với đời dại như một người ngu, không hiểu chút gì
về tâm lí của con người cả.
Ai ai, nếu để ý quan sát, cũng sẽ nhận thấy như tôi…Sự tình
ấy không phải lỗi hoàn toàn nơi những người ấy, mà tôi sẽ bàn
đến một nơi khác. Tôi chỉ muốn nói, những người có những
cấp bằng trên đây, họ có hơn gì kẻ vô học không? Nếu có hơn
là họ hơn về lí thuyết nhưng về phần thực tế…họ đâu có hơn
gì một con “Vẹt “. Nói cho đúng hơn, họ chỉ có “học” mà
không có “hành”. Học là để biết. Biết, mà không thực hành
được, cũng chưa gọi là “biết “. Tri và hành cần phải hợp nhất
mới được gọi là người “có học thức “.
Người xưa có ví: “Con chim ăn cỏ, đâu phải để mà nhả cỏ,
mà là để biến thành những bộ lông mướt đẹp. Con tằm ăn dâu,
đâu phải để mà nhả dâu, mà là để nhả tơ…” . Học mà không
“tiêu hóa “, có khác nào con chim nhả cỏ, con tằm nhả dâu…
Người ta rồi cũng chẳng khác nào cái máy thu thanh, chỉ lặp
lại những gì kẻ khác đã nói…Học như thế, không có lợi ích gì
cho mình mà còn hạ phẩm cách của con người ngang với máy
móc. George Duhamel có nói: “Đừng sợ máy móc của bên
ngòai…hãy sợ máy móc của cõi lòng…”. Một xã hội mà con
người chỉ còn là một bộ máy thì sứ mạng của văn hóa đã đến
ngày cùng tận rồi…mà tinh thần loài người rồi cũng đến lúc
diệt vong: có xác mà không hồn…Học mà đưa con người đến
tình trạng ấy, tôi tưởng thà đừng học có hơn không? Cái hiểm
trạng của xã hội phần lớn phải chăng một phần nào đều do
những bộ óc “học thức nửa mùa ” ấy gây nên?
Thế thì, học và học thức không thể lầm lẫn với nhau được.
ta cần phải để ý phân biệt hai lẽ ấy.
Thật vậy, có những sự hiểu biết chỉ “bám ” ngoài da mà
không thể “ăn sâu ” vào tâm khảm của ta. Nó là một nước sơn
bóng nhoáng và chỉ là một lớp sơn thôi…Cái học của ta không
có ảnh hưởng gì đến tâm hồn ta cả. Trái lại, cũng có nhiều thứ
hiểu biết liên lạc với kí ức ta, với tư tưởng ta, với tình cảm dục
vọng ta, nó hòa hợp với con người tinh thần của ta không khác
nào khí huyết tinh tủy đối với thân thể của ta vậy. Giữa những
sự hiểu biết ấy và ta, có một thứ tác động và phản động, xung
đột nhau, hòa hợp nhau để thay đổi nhau và thay đổi luôn cả
cái người của ta nữa…
Tôi muốn nói: giữa ta và những điều ta học hỏi phải có một
sự tiêu hóa , hay muốn nói theo Kinh Dịch, phải có một việc
thần hóa (thần nhi hỏa chi) mới được .
Vậy, ta phải dành chữ “học thức” cho những bộ óc thông
minh biết đồng hóa với những điều mình đã học. Như thế thì,
học nhiều và học thức không giống nhau.
Phần đông chúng ta thường hiểu lầm những việc ấy. Chúng
ta thường đánh giá con người theo bằng cấp của họ, những
bằng cấp ấy phần nhiều là những bằng cấp trí nhớ: kẻ nào nhớ
giỏi thì thi đậu. Sự nhận xét sai lầm này gây không biết bao tai
họa cho loài người hiện thời.
Tóm lại, người học thức không phải cần biết thật nhiều, mà
cần phải thật biết những gì mình đã biết .
“Tri chi vi tri chi, bất tri chi bất tri, thị tri dã” - Biết, thì biết
là mình biết, không biết là biết mình không biết, ấy mới thật là
biết. Học thức là một vấn đề thuộc “phẩm”, chứ không phải
thuộc “lượng” .
Cái học mà đã được đồng hóa rồi thì không còn nói là cái
học bên ngoài nữa. Cỏ mà bị chim ăn rồi, không còn là cỏ nữa.
Dâu mà bị tằm ăn, không còn gọi là dâu nữa.
Học, cũng như ăn.
B. HỌC ĐỂ LÀM GÌ?
Học để làm gì? Vài tại sao ta phải học?
Ta phải quan sát chung quanh ta, ta sẽ thấy có hai hạng
người: học vì tư lợi, và học không vì tư lợi gì cả, nghĩa là học
để mà học, học theo sở thích của mình…
Hạng học vì tư lợi, chiếm một phần rất đông. Họ học một
nghệ thật nào, một khoa học nào, một nghề nghiệp nào là để
tìm một kế sinh nhai. Cái ý muốn thiết thực này cũng là cái ý
muốn chính của các bậc làm cha mẹ khi tìm thầy cho con, hay
khi gởi chúng đến trường. Mà chính các học sinh, đa số cụng
chỉ có một mục đích ấy: nắm lấy bằng cấp để tìm lấy một con
đường sinh kế.
Thật ra, cũng có nhiều kẻ, đối với nghề nghiệp sau này của
mình cảm thấy thích thú lắm. Cũng có thể rất sung sướng khi
nghĩ đến sau này sẽ được làm kĩ sư, giáo sư, nghệ sĩ hay sĩ
quan…Nhưng, cái ý nghĩ nhờ đó kiếm địa vị, tiền bạc, danh
vọng, quyền tước…cũng đủ làm cho tâm hồn mình mất cả cái
sung sướng tinh khiết của cái học vô tư lợi…Cái mộng của
tuổi trẻ qua rồi, tôi thường thấy có nhiều bậc phụ huynh không
muốn cho con em mình sau này theo đuổi nghề nghiệp của
mình. Học để tìm một nghề nghiệp làm kế sinh nhai, có cái lợi
ích của nó, không một ai có thể chối cải được, nhưng dầu thích
hay không thích nó chỉ là một cái học để thành công, một cái
học vị lợi…mà đối với những người có đầu óc thiết thực, ít lí
tưởng, cho là thỏa mãn lắm rồi!
Bên những nhà “tập sự ” vị lợi ấy, chúng ta cũng thấy có
nhiều kẻ, ngay tuổi còn thơ, nhất là lúc mà trí thức đương
chừng nẩy nở, họ ham học mà không có một ý nghĩ gì vụ lợi
cả: không phải để kiếm tiền, không phải để tìm địa vị, cũng
không phải để tìm danh vọng…Chiều theo ý của cha mẹ, hoặc
vì hoàn cảnh bắt buộc mà phải chọn một nghề nào, kì thực họ
không để chút tâm hồn nào nơi ấy cả. Họ là một công chức sở
hối đoái mà họ say mê thi phú hay âm nhạc. Họ là một sĩ quan
mà họ mê say lịch sử hay văn chương. Họ là một trạng sư mà
họ mê say toán học. Có kẻ, ngoài giờ phải lo lắng giồi mài
nghề nghiệp của mình để kiếm ăn, cũng ráng dành một vài giờ
để thỏa mãn tính tò mò của mình, học những môn không lợi
ích gì cho cái đời vật chất của mình cả, khi thì đọc triết học,
khi thì đọc sách nghiên cứu về văn chương, lắm khi “tập tễnh”
cầm bút viết văn hay hội họa…
Đấy cũng là một cách học, một cái học hoàn toàn không
chút gì vị lợi. Những kẻ học như thế, họ học văn chương vì
văn chương, học nghệ thuật vì nghệ thuật, học khoa học vì
khoa học.
Hai hạng người trên đây, ai có lí? Ai vô lí? Thật cũng khó
mà trả lời. Cái thích của người này chưa chắc cũng là cái thích
của người kia.
Lại còn có người nọ thích không học gì cả , thì sao? Họ sẽ
nói: “Đời người ngắn ngủi, học cùng không học thì có khác gì
nhau. Anh thích khoa học, tạo hóa ban cho anh nhiều năng
khiếu, thì anh thành nhà bác học giúp đời…
Còn tôi không có năng khiếu chi cả, cố mà nhồi vào sọ
những cái học hỏi của kẻ khác, cố mà sản xuất những tác
phẩm không hơn gì những bài làm của học sinh…thì phỏng có
lợi ích gì! Ta hãy cứ tìm lấy những hạnh phúc rẻ tiền không
cần dụng công nhọc sức chi cả có hơn không! Anh đọc truyện
kiều, anh biết thích…Tôi, tôi đọc Lục Vân Tiên, tôi cũng biết
thích vậy. Anh, anh thích nhạc cổ điển, anh thích nhạc Âu Mỹ.
Tôi, tôi nghe vọng cổ, tôi xem hát bội, tôi cũng biết thích vậy.
Anh đọc tiểu thuyết cổ điền của Đông Phương, tôi cũng biết
mê say…Vậy, thì cũng chưa chắc cái sướng của anh hơn cái
sướng của tôi…”
Ta phải trả lời với họ cách nào?
Đã không thiếu gì những quyển luân lí tân cựu đã trả lời với
họ rất hùng hồn…Nhưng, theo tôi, mặc dầu có rất nhiều bài
văn mà tài hùng biện của tác giả không thể chối cãi được…Tôi
thấy cũng chưa đủ sức cảm hóa hạng người trên đây.
Ta hãy can đảm nhìn ngay sự thật; có nhiều kẻ họ sống hết
sức hạnh phúc trong sự ngu dốt và ở không của họ…Họ ghét
đọc sách, họ ghét suy nghĩ, họ ghét làm việc bằng tinh thần
cụng như họ ghét gông cùm tù tội vậy: một vấn đề hoàn toàn
thuộc về bản chất…
Geothe, lúc mà danh vọng của ông lên đến tột độ, ngày kia
dạo trên bờ sông thành Naples gặp một tên ăn mày nằm ngủ
phơi mình trong ánh nắng…Ông dừng chân, tự hỏi:
“Ta và anh ăn mày này, ai hạnh phúc hơn ai ?”. Thật, cũng
khó mà trả lời cho dứt khóat. Tuy nhiên, tôi chắc chắn, các bạn
cũng như tôi, chúng ta thích sống trong hạnh phúc của Geothe
hơn. Andre' Gide cũng nói: “Một cái hạnh phúc mà vô tâm, tôi
không chịu sống trong hạnh phúc ấy “.
Nếu bạn là người chịu theo phái “ăn rồi nằm ngữa nằm
nghiêng, có ai mướn tớ, thì khiêng tớ về…” Nghĩa là theo phái
thích “ăn không ngồi rồi”, “tối thiểu nổ lực ” và cho đó là hạnh
phúc nhất đời, thì xin mời bạn hãy để quyển sách này xuống…
Nó không phải viết cho bạn.
Thú thật, tôi không đủ tài để thuyết phục bạn. Sách này viết
ra, là cho những ai cùng đồng một ý kiến với tôi, cho rằng
hạnh phúc của Geothe hơn hạnh phúc của anh ăn mày, hay nói
đúng hơn, Geothe cao trọng hơn anh ăn mày.
Theo tôi, hạnh phúc là được làm chủ hành động ta, tư tưởng
ta, tình cảm ta…và mỗi ngày mỗi làm cho “cái người ” của ta
thêm sáng suốt hơn, thêm tự do hơn, thêm to rộng hơn…nghĩa
là thêm mới mẻ hơn. “Cấu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân
“. Mỗi ngày một mới, và ngày càng mới mãi…Đấy là lời khắc
trên bồn tắm của vua Thành Thang ngày xưa. Và cũng chính là
lí tưởng của Pastuer: “Cao lên, cao hơn lên, và cao lên mãi…”
Như thế, ta thấy rõ mục đích của sự học là gì rồi. Học, là để
mưu hạnh phúc, nghĩa là để làm cho mình càng ngày càng
mới, càng ngày càng cao, càng ngày càng rộng… . Học, là
tăng gia sự hiểu biết của mình, là mở rộng tâm hồn của mình
bằng cách thu nhận sự hiểu biết cùng những kinh nghiệm của
kẻ khác làm của mình. Có khác nào một đứa trẻ mới sinh, cân
không đầy hai, ba kí…thế mà nhờ càng ngày càng lớn đến
năm, sáu chục kí…trong khoảng vài mươi năm sau? Phải
chăng nhờ rút lấy những vật liệu chung quanh: không khí, món
ăn, món uống…mà tiến từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh,
nghĩa là càng ngày càng mới, càng ngày càng cao, càng ngày
càng lớn. Bởi vậy, trước đây tôi có nói: “Học cũng như ăn “.
Ăn mà không tiêu, thì có hại cho sức khoẻ. Học mà không
tiêu hóa thì có hại cho tinh thần. Cỏ của con chim ăn mà được
tiêu, không còn gọi là cỏ nữa, mà là bộ lông mướt đẹp của nó.
Dâu của con chim ăn mà được tiêu, không còn là dâu nữa, mà
là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó. Người có học thức là người
đã thần hóa những cái học của mình . Bởi vậy, người có học
thức là người dường như không biết gì cả, mà không có cái gì
là không biết.
Học mà đến mực dường như quên hết cả sách vở của mình
đã học thì cái học ấy mới thật là “nhập diệu”. Herriot nói:
“Học thức là cái gì còn lại khi mình đã quên tất cả “.
Một nhà tâm lí học có nói: “Quên là điều kiện cần thiết của
cái Nhớ “. Thật là chí lí. Một điều gì học mà mình còn cố nhớ,
là nó chưa được nhập vào tâm. Chỉ khi nào mình không cần
nhớ mà nó vẫn tự nhiên hiển hiện trong tâm trí mình thì môn
học ấy mới được gọi là đã được tiêu hóa. Người học đánh máy
chữ mà còn để ý tìm từng nét chữ, cố nhớ vị trí của nút chữ…
là người đánh máy chưa tinh. Người học đi xe máy mà còn
nhớ mình còn ngồi trên yên xe máy, còn để ý đến bàn đạp,
cách đạp…là người đi xe máy chưa tinh. Tôi còn nhớ, lúc còn
học thi, gần đến ngày thi, tôi băn khoăn nói với cha tôi: “Sao
con học nhiều quá mà nay dường như con không nhớ gì cả.
Lòng con như quên hết, không biết có nhớ được gì không?
Con sợ quá “. Cha tôi cười bảo:
“Đấy là con đã học “mùi” rồi. Quên tức là nhớ nhiều rồi đó.
Con hãy yên tâm …”. Thật đúng như lời. Ngày thi giám khảo
hỏi đâu, tôi trả lời liền đó, một cách dễ dàng hết sức.
Trang Tử nói: “Người bắn cung mà còn để ý đến việc bắn
cung của mình là người bắn chưa tinh. Kẻ lội mà còn để ý đến
cái lội của mình là người lội chưa giỏi. Phải biết quên thị phi
đi, thì cái tâm mình mới thông suốt được cái lẽ thị phi…(Tri
vong thị phi, tâm chi thích dã)”. Hiểu được câu nói này của
Trang Tử là hiểu được cái diệu pháp của Phép Học rồi vậy.
C. THẾ NÀO LÀ BẬC THIÊN TÀI?
Nói đến những bậc thiên tài nhiều người đã tưởng tượng họ
như kẻ phi thường, cô phong độc tú…xa hẳn với loài người.
Thực ra cũng không có gì lạ giữa họ và chúng ta cho lắm; có
nhiều kẻ còn tệ hơn chúng ta nhiều về vấn đề thể chất lẫn tinh
thần nữa. Họ chỉ khác ta có một điều thôi: họ có một đức tin
vững vàng về phương pháp làm việc của họ . Họ tin rằng với
sự cần cù nhẫn nại và cách làm việc có phương pháp, họ sẽ đạt
được ý muốn cao xa của họ. Theo họ “thiên tài chỉ là một sự
nhẫn nại bền bỉ lâu ngày ” mà thôi.
Darwin, tác giả bộ “Vạn vật nguyên lai luận”, người đã gây
được một cuộc cách mạng to tát trong khoa học là một người
có một trí nhớ rất tồi tệ, một sức khoẻ rất bạc nhược.
Spinoza thì đau bệnh phổi, chết vào khoảng 45 tuổi.
Pascal thì đau mãi và mất sớm năm 39 tuổi.
Montaigne cứ than vãn mãi về trí nhớ thậm tệ của ông cũng
như về trí não “chậm chạp và tăm tối” của ông, còn Herbert
Spencer thì không thể nào làm việc trong một giờ mà không
đau. Có ai dám bảo rằng những người nói trên đây không phải
là những bậc vĩ nhân trong nhân loại? Sự nghiệp tinh thần của
họ đều là những kỳ công bất hủ, những tinh hoa của nhân loại.
Thế mà vấn đề thể chất của họ còn thua ta xa, còn vấn đề tinh
thần có khi cũng không hơn gì ta cho lắm. Nếu phải kể ra cho
hết, thì cả năm mươi trang cũng không sao kể đủ tên tuổi của
các bậc vĩ nhân mà về phương diện thể chất và tinh thần
không có gì là đặc sắc hơn những kẻ tầm thường.
Thế nhưng họ đã để lại cho đời những kỳ công vĩ đại là nhờ
đâu? Vì họ biết cách làm việc có phương pháp, có nghệ thuật.
Trong giới trí thức, cũng như trong các hiện tượng khác của
tự nhiên: những hành động bạo phát, hùng hổ mãnh liệt như
địa chấn, thủy tai…chỉ là những hiện tượng bạo phát mà bạo
tàn…
Những gì có tính cách vĩ đại khó thoát khỏi yếu tố thời gian.
Muốn học cho thâm, muốn gây tạo những công trình to tát
cũng phải cần đến thời giờ. Nhất là văn hóa, không thể chấp
nhận được thời gian. Một giọt nước con, mà với thời gian đã
điêu khắc dải Hoành Sơn, Tuyết Lãnh…
Nếu các bạn xem kĩ đời niên thiếu của các bậc vĩ nhân đã
làm vẻ vang cho Tổ quốc họ và cho cả nhân loại, các bạn sẽ
thấy, khi các ông ấy còn là học sinh đâu phải luôn luôn là
những học sinh đứng vào hạng nhất trong lớp họ. Có khi họ lại
là những anh học sinh “hạng bét ” là khác. Có nhiều kẻ, chính
các ông thầy của họ cũng không để ý đến họ nữa. Nhưng, một
ngày kia, một tình cờ run rủi, bỗng dưng cảm khích như
Malebranche, sau khi đọc quyển “Traite' de lHomme của
Descartes”, đem hết nghị lực lao đầu vào sự học, nhẫn nại, cố
gắng cho tới ngày tài hoa xuất hiện.
Một việc làm âm thầm, lặng lẽ trong cô tịch nhưng đầy hăng
hái, đầy kiên nhẫn sẽ là những công việc làm có nhiều kết quả
vẻ vang và sâu sắc nhất. Trong khoảng âm thầm lặng lẽ nghiên
cứu học hỏi, các bạn đã tìm ra được lắm ý nghĩa hay ho, nhiều
tư tưởng tân kì có thể là những nền tảng cho một đời sống tinh
thần và phát minh sau này của bạn.
Trong lúc ấy, trong lúc mà các bạn khác của bạn, nhiều may
mắn hơn, đi vào các trường cao đẳng để tản mác trí lực của họ
trong những cuộc đua chọi bằng cấp và địa vị cao sang quyền
quí, thì trong bóng tối, trong im lặng, tác phẩm của bạn như
tiếng sấm đêm đông…làm cho mọi người kinh khủng. Công
trình sự nghiệp của bạn chẳng khác nào những hòn đảo kia, từ
lượng cát đắp bồi, bỗng trồi lên mặt nước, một cách vững vàng
như con núi.
Những bậc vĩ nhân đều hiện lên một cách từ từ và lặng lẻ
như thế. Họ nhẫn nại mà đi từng bước một; nhưng một bước
của họ là một bước chắc chắn.
Leo núi cao, các người từng trải đều quả quyết rằng những
kẻ nào háo thắng, vội vàng sẽ không bao giờ đi tới mức được.
Họ sẽ mệt nhọc, đuối sức và bị bỏ lại giữa đường. Các bậc vĩ
nhân họ đi từ từ mà không nghỉ, một cách hết sức trật tự và
quy củ.
Ông Newton nói: “Nếu tôi có phát minh được một đôi điều
gì, cũng là nhờ nghĩ ngợi mãi một việc và đem việc ấy mà
quan sát đủ mọi phương diện. Nếu những phát minh của tôi có
được chút ích lợi cho đồng bào là do sự cần cù và đeo đuổi
mãi theo một ý nghĩ mà không thôi vậy “.
Giáo sư Duclaux, trong một bài diễn văn nói về Pastuer có
nói: “Tôi không rõ những phát minh kì vĩ có phải là do thiên
tài sản xuất, không cần đến sự cố công gắng sức không? Chứ ở
trường hợp Pastuer đây, tôi thấy hẳn không phải vậy. Nếu ông
là một nhà phát minh đã lập được rất nhiều kì công vĩ đại
trong nhân loại, trước hết là nhờ ông là một người làm việc rất
nhẫn nại và lặng lẽ. ..”
Nhất là họ không bao giờ hiếu danh, hối hả trong công việc
học hỏi và nghiên cứu của họ.
Người ta bảo rằng lúc Pastuer thi vào đại học, chỉ đậu hạng
ba hạng tư gì đó. Năm ấy, ông không chịu vào đại học. Học
thêm một năm nữa, kì thi năm sau ông đứng đầu. Ông tự cho
rằng sức ông còn yếu, nên cần học lại thêm một năm nữa, đâu
có muộn gì, bởi theo ông cần nhất là phải có thật tài hơn là hối
hả trong công trình học vấn. Thật có khác với đầu óc tâm
tưởng của phần đông chúng ta ngày nay, bao giờ cũng không
muốn cướp thời gian và thành công mau lẹ.
Tóm lại, thiên tài là một sự nhẫn nại bền bỉ và lâu dài. Muốn
thành những bậc tài hoa, điều thứ nhất là phải có lí tưởng, có
đủ tin tưởng và chí kiên nhẫn để thực hiện lí tưởng ấy; điều
thứ hai là làm việc cho có trật tự, có phương pháp, nhẫn nại và
lặng lẽ, không bồn chồn, không vội vã …
TÔI TỰ HỌC
Nguyễn Duy Cần
www.dtv-ebook.com
Chương 2
A.HỌC VẤN VÀ THỜI GIAN
Trang Tử nói: “Đời sống ta có hạn mà sự học hỏi thì vô
hạn…”. Đời bấy giờ mà ông còn nói thế, thì sống vào đời này
phải nói như thế nào? Khoa học đã đi đến trình độ cực kì phức
tạp và sâu rộng, dẫu là bậc thông minh đến đâu cũng không
thể dám nói: “Óc tôi có thể chứa được tất cả cái học hiện thời
“. Người như Trang Tử mà Tư Mã Thiên bảo là có một cái học
“thông kim bác cổ “, vậy mà còn phải nói thế. Ta cứ nhìn kĩ
chung quanh từng ngành học, sẽ thấy sự gia tăng của nó trong
mấy năm gần đây mà ngợp. Dù cho ta có thể đầu thai mấy
ngàn kiếp cũng không sao chứa được hết cái học của con
người, ngay trong mỗi một ngành học nào cũng vậy.
Sự học ngày càng tăng, mà thời giờ con người càng ngày
càng thu hẹp. Đừng nói thì giờ rỗi rãi của ta ngày nay có
nhiều…Lấy ngay một cái nghề giáo viên cũng đủ thấy ngày
giờ của mình đã mất hết. Dù ta bỏ hết thời giờ của ta cũng
không sao có đủ để nghiên cứu học hỏi cho tinh chuyên. Nghề
bác sĩ, nghề kĩ sư…và bất luận là nghề nào, muốn học đến chỗ
tinh vi của nó, đều phải mất thì giờ không ít. Thế là sự học
càng tăng thì giờ để thu thập nó lại càng hẹp.
Thật là một sự mâu thuẩn đau đớn cho những người ham
học như chúng ta. Trước vấn đề khó giải này phải đối phó cách
nào?
Chắc chắn là chúng ta không nên giải quyết một cách tiêu
cực như hạng “dốt kim thời” này: họ viện lẽ “bể học mênh
mông mà thời giờ không có đủ…vậy tốt hơn việc nhà mình
mình biết, ghé mắt vào việc nhà kẻ khác để làm gì? Học làm
gì, rút cuộc cũng không hiểu biết gì hơn người không học …”
Socrate há không có nói: “Điều mà ta biết rõ nhất là ta không
biết gì cả !” hay sao?
Hạng “dốt” này, may thay chỉ có một phần tử rất ít trong xã
hội ngày nay. Nói thế, đâu phải chỉ có đời nay mới có hạng
người này mà thôi. Đời nào cũng có cả. Nhưng có điều là hạng
“dốt kim thời” này họ dốt và biết biện hộ sự dốt nát của họ: họ
viện đủ lí lẽ, nào là khoa học phá sản, nào là sức hiểu biết của
trí não thì hữu hạn, còn sự hiểu biết của loài người thì vô
biên…Nói cho đúng, họ là hạng dốt có “triết lí”. Họ lí sự lắm
và tìm đủ cách để biện hộ sự khuất phục của họ trước vấn đề
học hỏi.
Lại còn có một hạng người phản đối hạng trên. Họ nhất định
không chịu khoanh tay chịu dốt…Nhưng, cẩn thận hơn, họ
quyết định chọn một vài sự hiểu biết nào mà họ thích nhất, rồi
bám lấy, ngăn tường đắp lũy, đem tất cả thời giờ và tâm trí họ
để nghiên cứu một cách sâu sa triệt để hơn. Đây là giải pháp
của nhà chuyên môn . Hạng người này hiện thời rất đông. Bất
cứ là đi vào giới trí thức nào ta luôn luôn đụng chạm với
những nhà thông thái “trong tháp ngà” ấy. Một ông kĩ sư cấu
cống không biết gì cả đến các phong trào văn nghệ trong nước,
cũng không đủ sức hiểu biết một bài thơ hay. Một bác sĩ y
khoa không bao giờ đọc sách triết học, hay văn chương. Một
kịch gia suốt đời không đọc một quyển sách về khoa học ứng
dụng.
Ngoài cái ngành chuyên môn của họ, họ không buồn biết
đến việc gì ngoài chỗ sở trường của họ. Họ cũng là hạng người
công nhận sự bất lực của trí não con người trước vấn đề mênh
mông của sự học hỏi. Nhưng, thay vì như anh “dốt kim thời”
trên đây bó tay chịu dốt, thì họ lại quyết định chọn con đường
cô lập và chuyên môn. Tuy vậy, hạng người này đáng mến hơn
hạng người trên đây, nhất là họ dễ thương hơn hạng người
“ngụy trí thức ” sau đây.
Hạng người “ngụy bác học” hay “ngụy trí thức” lại cũng là
nạn nhân của vấn đề nan giải trên đây: cái học thì vô cùng mà
thời gian thì có hạn. Họ không chịu dốt, nhưng họ cũng không
có đủ can đảm làm nhà chuyên môn. Họ là những hạng người
“dở dở ương ương” : cái gì cũng biết, nhưng biết không có cái
gì thực biết. Đấy cũng là lối học ở nhà trường để đào tạo một
hạng người “bác học nửa mùa “. Sách gì họ cũng đọc…nhưng
mà họ chỉ đọc phớt qua như con bướm giỡn hoa…Họ bàn đến
nguyên tử lực, họ nói chuyện Einstein và thuyết tương đối, họ
bàn đến Vô Vi của Lão Tử, họ luận về Tam Giáo, sành chính
trị, kinh tế…không có câu chuyện gì là không thấy họ phê
bình chỉ trích như một kẻ chuyên môn. Những nhà “bác học
nữa mùa” này hiện thời đã chiếm số khá đông trong nhân loại.
Chế độ dân chủ cho phép họ nghênh ngang múa mép trong
khắp các ngành hoạt động xã hội. Những báo chí, những sách
phổ thông viết một cách hối hả của những “học giả nữa mùa”
là những “tội nhân” đã đào tạo ra hạng người này, nhất là cái
học “bách khoa” của giáo dục.
Hạng “ngụy trí thức” này thật là cả một tai vạ cho xã hội
hiện thời. Đối với hạng dốt và hạng chuyên môn trên đây họ là
hạng người bêu xấu sự học, hạng người đáng ghét nhất. Dân
chúng thiếu học thường bị bọn người này loè bịp khiến kẻ nào
múa môi lẻo mép nhất, thường được quần chúng hoan
nghênh…Và chính họ là kẻ dẫn dân chúng vào những con
đường phiêu lưu tăm tối của lịch sử sau này.
B. CÁI HỌC VỀ BỀ RỘNG VÀ CÁI HỌC VỀ BỀ SÂU
Có hai thứ học vấn: học về bề sâu và học về bề rộng
Có một thứ hiểu biết do bên ngoài đưa đến, có một thứ hiểu
biết do bên trong mà phát huy ra được.
Cái học bao quát mà người xưa ở Đông Phương khuyên
bảo: “Thượng tri thiên văn, hạ tri địa lí, trung tri nhân sự ” là
một cái học hết sức cần thiết để tìm biết được chân lí trong đời
này. Thật vậy, mọi sự mọi vật trên đời liên quan rất mật thiết
với nhau. Có biết được nguyên nhân mới hiểu rành lí sự.
Nhưng cái “nhân ” này sanh ra cái “quả” kia, rồi cái quả ấy lại
là cái nhân cho cái quả khác, tiếp tục nhau mà đến. Sự việc
này xảy ra trước mắt ta hôm nay, trước đây đã có một dọc
nguyên nhân mà ta không biết và có biết chăng, cũng chỉ biết
được một vài nguyên nhân thiển cận mà thôi, còn lại không
biết bao nhiêu nguyên nhân khác nữa, hữu hình có, vô hình
cũng có mà ta không làm sao biết hết được. Người trí sở dĩ
khác được kẻ ngu chỉ ở điểm này: Một đàng đã tìm thấy được
nhiều nguyên nhân sâu xa và rộng rãi, còn một đàng thì không
nhận thấy một nguyên nhân nào khác hơn là sự việc đã xảy ra
mà thôi. Vì vậy mà người trí thức cần phải có một cái học rộng
rãi để khỏi phải bị thiên kiến trong khi nhận xét và phê bình.
Nhưng cần nhất là phải có một cái học chuyên môn, một cái
học về bề sâu. Victor Duruy nói: “Phải có một cái học tổng
quát để phụng sự cho ngành chuyên môn của mình !”.
Câu chuyện sau đây chứng tỏ rằng cái học chuyên môn mà
được tận tâm huấn luyện bắt buộc ta phải đi đến cái học tổng
quát.
Một nhà tiến sĩ văn chương cổ điển, ngày kia đến viếng ông
Kerschensteiner, bấy giờ đang làm hiệu trưởng các trường ở
Munich, để xin một chân giáo học ở trường tiểu học của ông.
Dĩ nhiên trong việc xin dạy đây, chắc hẳn không phải vì vấn
đề sinh nhai mà chính vì ông ta muốn tự mình nghiên cứu sự
tổ chức và phương pháp dạy dỗ ở cấp đại học mà ông sẽ có
phận sự đảm nhiệm.
Kerschensteiner, trước lòng khẩn thiết nhật thành ít có ấy,
bằng lòng nhận ông ấy vào dạy học, nhưng cũng không quên
nhắc ông rằng cái học chuyên khoa về ngôn ngữ học của ông e
sẽ là một trở ngại to tát cho công việc dạy dỗ của ông đối với
cấp sơ học. Ông này cho biết rắng sự chuyên học về tiếng La
Tinh va Hy Lạp đầu tiên đã hướng ông vào công việc nghiên
cứu về lịch sử thời cổ sơ. Và nghiên cứu thời tiền sử, và vì thế
bắt ông phải đeo đuổi theo khoa nhân loại học. Chính lúc ấy
ông cảm thấy ông cần phải có một sự hiểu biết vững vàng về
vạng vật học và ông bắt đầu nghiên cứu về thực vật học và
động vật học. Nhân đó, ông cảm thấy ông còn thiếu sót rất
nhiều về vật lí học cũng như về hóa học, bởi vậy ba năm sau
khi thi đậu bằng tiến sĩ văn khoa, ông theo thọ giáo những nhà
khoa học trứ danh Rontgen và Bayer.
Câu chuyện trên đây, đâu phải là một câu chuyện đặc biệt
riêng gì của một người: các nhà học thức chân chính nào cũng
đi một con đường như ông tiến sĩ trên đây cả. Thật vậy, khi
mình muốn đi thật sâu vào một vấn đề nào, thường thường lại
phải cầu cứu đến các ngành học khác có liên lạc đến nó. Như
cái học về vật lí bắt ta phải sành toán học, cái học về địa lí
buộc ta phải có một cơ sở học vấn vững vàng về địa chất học.
Thành ra, chỉ đi sâu vào ngành học nào, người ta rốt cuộc
cũng tìm ra được cái học bao la tổng quát, vì sự vật trong đời
chằng chịt dính líu nhau, không có một sự vật nào là cô đơn
độc lập cả.
Rồi ra, cái học tổng quát có cái hại này, là cái gì cũng biết,
nhưng không có cái gì chuyên môn thực hiện được cả cho sự
tiến bộ chung của nhân loại. Tuy vậy, nó có những cái lợi to tát
này là nó đào tạo cho ta có được một cái nhìn bao quát, không
thiên kiến, trí óc và tâm hồn rộng rãi, hiểu được người chung
quanh, không có tinh thần quá khích. Đời sống tinh thần cũng
dồi dào mà hưởng thụ sự sung sướng cũng rộng rãi. Thử tưởng
tượng một người có óc thẩm mĩ, hiểu biết được cái hay của âm
nhạc hay hội họa, bất kì là âm nhạc hay hội họa của nước nào.
Người đó phải chăng là người có nguồn hạnh phúc tinh thần
vô tận không? Trái lại, những kẻ chỉ biết cái hay của vọng cổ
mà không thưởng thức cái đẹp của một bản nhạc Beethoven,
biết cái hay của một tuồng hát bóng Âu Mỹ mà không thưởng
thức nổi cái đẹp của một tuồng “hát bội” Á Đông…thì dĩ
nhiên nguồn cảm hứng mĩ thuật phải kém nhiều, vì bị hạn
định.
Cái học chuyên môn thì có cái lợi nhiều cho xã hội, khiến
cho công việc làm ngày càng trở nên tinh tiến, mau lẹ, nhưng
nó có cái hại là thường hay biến con người thành bộ óc hẹp
hòi, vì nghề nghiệp. Có quá nhiều nhà chuyên môn họ làm thái
quá đến lố bịch…Như nhà bác sĩ kia bị ám ảnh vì vi trùng, rồi
dưới con mắt ông, cái gì cũng cắt nghĩa bằng vi trùng…Cho
đến tình yêu họ cũng cắt nghĩa là bị vi trùng “yêu”. Dưới mắt
bác sĩ, điên là một chứng bệnh, nhưng thiên tài đối với các ông
cũng là một chứng bệnh. Thậm chí có nhà bác học nọ cho Đức
Jesus cũng là một người điên, vì là một người “phi thường “.
lại nữa, nhà chuyên môn cũng thường bị mang chứng bệnh
“Sai ngoa về nghề nghiệp ” nữa. Đó là một tai hại đáng lo
ngại, cần phải tránh xa vì nó có tính cách phản văn hóa.
C. CỐ GẮNG: ĐIỀU KIỆN ĐẦU TIÊNCỦA SỰ TIẾN BỘ
TINH THẦN
Muốn có sự tiến bộ về văn hóa, tức là muốn cho sự học
được bổ ích cho tinh thần, phải để ý đến yếu tố đầu tiên này,
sự cố gắng .
Một cố gắng dù nhỏ bậc nào cũng là điều kiện cần thiết để
tinh thần trí não ta tiến bộ. Ngày nay, phần đông đã hiểu một
cách sai lầm rằng: ông thầy dạy hay không phải ông thầy bắt ta
làm việc, mà là ông thầy làm việc thế nào cho ta. Cũng như
sách hay không phải là sách mà tác giả bắt ta suy nghĩ, trái lại
là sách mà tác giả đã suy nghĩ sẵn cho ta, có khi tác giả đã làm
sẵn bài tóm tắt cùng dàn bài cho ta nữa những sách học trò lớp
năm…vậy.
Người ta lại còn rút ngắn và lược thuật các quyển sách chỉ
nói đại cương như loại “Degest” của Mỹ, và loại sách ấy rất
được đa số quần chúng ưa thích…Dường như càng cố tránh
cho độc giả phải nhọc công tìm kiếm, và suy nghĩ được chừng
nào hay chừng nấy, đó là người ta đã đạt được mục đích mà họ
gọi là “phổ thông”…Kể ra những công việc làm ấy, về mặt
văn hóa, không giúp ích gì tinh thần bao nhiêu. Độc giả chỉ
đóng một vai tuồng thụ động trong khi đọc sách, thành ra, đọc
sách thì thật nhiều, mà kết quả về văn hóa thì chả có là bao.
Đọc sách du lịch, viếng các việc bảo tàng, đi nghe âm nhạc,
nghe diễn thuyết…không phải là đi tìm món ăn tinh thần, gây
dựng cơ sở văn hóa cho mình sao? Làm mấy công việc đó đâu
cần gì phải cố gắng?
Ta nên nhớ rằng, người ta có thể đọc sách rất nhiều, đi du
lịch cùng khắp thế giới mà dốt nát vẫn hoàn dốt nát. Là tại
sao? Đọc sách có nhiều sách. Nếu đọc sách chỉ để giết thời
giờ, tìm vui thích hoặc để tìm quên lãng trong những lúc buồn
chán ở trên toa xe hay đọc sách để tìm giấc ngủ - thì đọc sách
không lợi gì cho tinh thần cả. Đọc sách mà có lợi cho tinh thần
là khi nào mình biết vận dụng tất cả năng lực và năng khiếu
của mình, nhận thức được rõ ràng những ý kiến sâu thẳm của
lòng mình đem ra so sánh với những ý kiến dị đồng của tác
giả, biết sắp đạt lại những kí ức của mình, biết trầm ngâm suy
nghĩ, biết làm việc có phương pháp, tóm lại, biết thảo luận và
thông cảm với tác giả quyển sách mình đọc, đó là cách đọc
sách đấy.
Du lịch cũng là một nguồn học hỏi, nhưng biết du lịch chỉ là
thụ động, mà không biết quan sát, biết suy nghĩ thì dù có lê
chân suốt đời khắp năm châu thế giới cũng chẳng ích gì. Sở dĩ
du lịch đã giúp ích cho sự “đa văn quảng kiến” cho nhiều bậc
văn hào trên thế giới như bằng chứng nơi những tập du kí của
những đại văn hào H. de Keyserling, Aldous Huxley,
R.Rolland, A. Gide…là vì những nhân vật ấy đã khéo biết
quan sát, không phải cái bề ngoài của sự vật và con người mà
là vì họ đã biết nhìn xem cái động cơ vô hình đã nhào nặn
những sự kiện hữu hình dưới mắt họ kia. Sự du lịch của họ
không có tính cách thụ động nhọc nhằn chán nản như một thí
sinh dượt thi một cách đau khổ chán chường…Sự cố gắng
trong vấn đề học hỏi rất có thể trái ngược l...
 





