LỜI CHÚC

BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT WEBSITE

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1

    Toi Tu Hoc - Nguyen Duy Can

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 14h:04' 07-03-2024
    Dung lượng: 250.6 KB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Chương 1
    Chương 2
    Chương 3
    Chương 4

    TÔI TỰ HỌC
    Nguyễn Duy Cần
    www.dtv-ebook.com
    Chương 1
    A. THẾ NÀO LÀ NGƯỜI HỌC THỨC?
    Lễ Ký có nói: “Ngọc bất trác, bất thành khí; nhân bất học,
    bất tri lí “. Có người dịch như vầy: “Ngọc chẳng mài, chẳng ra
    chi. Người mà chẳng học, trí tri đâu tường …”
    Như thế nào là “người có học “?
    Có kẻ học đậu năm ba bằng, có người đậu cử nhân, tiến sĩ…
    thế mà cũng còn bị người ta mắng cho là đồ “vô học “. Như
    thế thì “người có học” là người như thế nào? Chắc chắn, nó
    phải có một định nghĩa rõ ràng, nhưng thường được hiểu ngầm
    hơn là nói trắng ra.
    Tôi có quen nhiều bạn đậu kĩ sư điện, thế mà trong nhà có
    máy điện nào hư, phải đi tìm những anh thợ máy điện đến sửa.
    Nếu ta bảo họ giảng nghĩa về điện học, thì phải biết, họ sẽ làm
    cho ta điếc óc…Tôi có biết nhiều ông giáo sư ở trường sư
    phạm ra, thế mà trong khi dạy học, họ không biết áp dụng một
    nguyên tắc sư phạm nào cả; học trò vẫn than phiền là giờ dạy
    của họ buồn ngủ muốn chết, không hiểu được gì cả…Rồi họ
    bảo: “Học trò mà học dở, không phải lỗi tại thầy”…Tôi cũng
    có thấy vài ông đậu bằng tiến sĩ hay thạc sĩ triết học, thế mà
    cách ăn ở với đời dại như một người ngu, không hiểu chút gì
    về tâm lí của con người cả.
    Ai ai, nếu để ý quan sát, cũng sẽ nhận thấy như tôi…Sự tình
    ấy không phải lỗi hoàn toàn nơi những người ấy, mà tôi sẽ bàn
    đến một nơi khác. Tôi chỉ muốn nói, những người có những

    cấp bằng trên đây, họ có hơn gì kẻ vô học không? Nếu có hơn
    là họ hơn về lí thuyết nhưng về phần thực tế…họ đâu có hơn
    gì một con “Vẹt “. Nói cho đúng hơn, họ chỉ có “học” mà
    không có “hành”. Học là để biết. Biết, mà không thực hành
    được, cũng chưa gọi là “biết “. Tri và hành cần phải hợp nhất
    mới được gọi là người “có học thức “.
    Người xưa có ví: “Con chim ăn cỏ, đâu phải để mà nhả cỏ,
    mà là để biến thành những bộ lông mướt đẹp. Con tằm ăn dâu,
    đâu phải để mà nhả dâu, mà là để nhả tơ…” . Học mà không
    “tiêu hóa “, có khác nào con chim nhả cỏ, con tằm nhả dâu…
    Người ta rồi cũng chẳng khác nào cái máy thu thanh, chỉ lặp
    lại những gì kẻ khác đã nói…Học như thế, không có lợi ích gì
    cho mình mà còn hạ phẩm cách của con người ngang với máy
    móc. George Duhamel có nói: “Đừng sợ máy móc của bên
    ngòai…hãy sợ máy móc của cõi lòng…”. Một xã hội mà con
    người chỉ còn là một bộ máy thì sứ mạng của văn hóa đã đến
    ngày cùng tận rồi…mà tinh thần loài người rồi cũng đến lúc
    diệt vong: có xác mà không hồn…Học mà đưa con người đến
    tình trạng ấy, tôi tưởng thà đừng học có hơn không? Cái hiểm
    trạng của xã hội phần lớn phải chăng một phần nào đều do
    những bộ óc “học thức nửa mùa ” ấy gây nên?
    Thế thì, học và học thức không thể lầm lẫn với nhau được.
    ta cần phải để ý phân biệt hai lẽ ấy.
    Thật vậy, có những sự hiểu biết chỉ “bám ” ngoài da mà
    không thể “ăn sâu ” vào tâm khảm của ta. Nó là một nước sơn
    bóng nhoáng và chỉ là một lớp sơn thôi…Cái học của ta không
    có ảnh hưởng gì đến tâm hồn ta cả. Trái lại, cũng có nhiều thứ
    hiểu biết liên lạc với kí ức ta, với tư tưởng ta, với tình cảm dục
    vọng ta, nó hòa hợp với con người tinh thần của ta không khác
    nào khí huyết tinh tủy đối với thân thể của ta vậy. Giữa những
    sự hiểu biết ấy và ta, có một thứ tác động và phản động, xung

    đột nhau, hòa hợp nhau để thay đổi nhau và thay đổi luôn cả
    cái người của ta nữa…
    Tôi muốn nói: giữa ta và những điều ta học hỏi phải có một
    sự tiêu hóa , hay muốn nói theo Kinh Dịch, phải có một việc
    thần hóa (thần nhi hỏa chi) mới được .
    Vậy, ta phải dành chữ “học thức” cho những bộ óc thông
    minh biết đồng hóa với những điều mình đã học. Như thế thì,
    học nhiều và học thức không giống nhau.
    Phần đông chúng ta thường hiểu lầm những việc ấy. Chúng
    ta thường đánh giá con người theo bằng cấp của họ, những
    bằng cấp ấy phần nhiều là những bằng cấp trí nhớ: kẻ nào nhớ
    giỏi thì thi đậu. Sự nhận xét sai lầm này gây không biết bao tai
    họa cho loài người hiện thời.
    Tóm lại, người học thức không phải cần biết thật nhiều, mà
    cần phải thật biết những gì mình đã biết .
    “Tri chi vi tri chi, bất tri chi bất tri, thị tri dã” - Biết, thì biết
    là mình biết, không biết là biết mình không biết, ấy mới thật là
    biết. Học thức là một vấn đề thuộc “phẩm”, chứ không phải
    thuộc “lượng” .
    Cái học mà đã được đồng hóa rồi thì không còn nói là cái
    học bên ngoài nữa. Cỏ mà bị chim ăn rồi, không còn là cỏ nữa.
    Dâu mà bị tằm ăn, không còn gọi là dâu nữa.
    Học, cũng như ăn.
    B. HỌC ĐỂ LÀM GÌ?
    Học để làm gì? Vài tại sao ta phải học?
    Ta phải quan sát chung quanh ta, ta sẽ thấy có hai hạng
    người: học vì tư lợi, và học không vì tư lợi gì cả, nghĩa là học
    để mà học, học theo sở thích của mình…

    Hạng học vì tư lợi, chiếm một phần rất đông. Họ học một
    nghệ thật nào, một khoa học nào, một nghề nghiệp nào là để
    tìm một kế sinh nhai. Cái ý muốn thiết thực này cũng là cái ý
    muốn chính của các bậc làm cha mẹ khi tìm thầy cho con, hay
    khi gởi chúng đến trường. Mà chính các học sinh, đa số cụng
    chỉ có một mục đích ấy: nắm lấy bằng cấp để tìm lấy một con
    đường sinh kế.
    Thật ra, cũng có nhiều kẻ, đối với nghề nghiệp sau này của
    mình cảm thấy thích thú lắm. Cũng có thể rất sung sướng khi
    nghĩ đến sau này sẽ được làm kĩ sư, giáo sư, nghệ sĩ hay sĩ
    quan…Nhưng, cái ý nghĩ nhờ đó kiếm địa vị, tiền bạc, danh
    vọng, quyền tước…cũng đủ làm cho tâm hồn mình mất cả cái
    sung sướng tinh khiết của cái học vô tư lợi…Cái mộng của
    tuổi trẻ qua rồi, tôi thường thấy có nhiều bậc phụ huynh không
    muốn cho con em mình sau này theo đuổi nghề nghiệp của
    mình. Học để tìm một nghề nghiệp làm kế sinh nhai, có cái lợi
    ích của nó, không một ai có thể chối cải được, nhưng dầu thích
    hay không thích nó chỉ là một cái học để thành công, một cái
    học vị lợi…mà đối với những người có đầu óc thiết thực, ít lí
    tưởng, cho là thỏa mãn lắm rồi!
    Bên những nhà “tập sự ” vị lợi ấy, chúng ta cũng thấy có
    nhiều kẻ, ngay tuổi còn thơ, nhất là lúc mà trí thức đương
    chừng nẩy nở, họ ham học mà không có một ý nghĩ gì vụ lợi
    cả: không phải để kiếm tiền, không phải để tìm địa vị, cũng
    không phải để tìm danh vọng…Chiều theo ý của cha mẹ, hoặc
    vì hoàn cảnh bắt buộc mà phải chọn một nghề nào, kì thực họ
    không để chút tâm hồn nào nơi ấy cả. Họ là một công chức sở
    hối đoái mà họ say mê thi phú hay âm nhạc. Họ là một sĩ quan
    mà họ mê say lịch sử hay văn chương. Họ là một trạng sư mà
    họ mê say toán học. Có kẻ, ngoài giờ phải lo lắng giồi mài
    nghề nghiệp của mình để kiếm ăn, cũng ráng dành một vài giờ
    để thỏa mãn tính tò mò của mình, học những môn không lợi

    ích gì cho cái đời vật chất của mình cả, khi thì đọc triết học,
    khi thì đọc sách nghiên cứu về văn chương, lắm khi “tập tễnh”
    cầm bút viết văn hay hội họa…
    Đấy cũng là một cách học, một cái học hoàn toàn không
    chút gì vị lợi. Những kẻ học như thế, họ học văn chương vì
    văn chương, học nghệ thuật vì nghệ thuật, học khoa học vì
    khoa học.
    Hai hạng người trên đây, ai có lí? Ai vô lí? Thật cũng khó
    mà trả lời. Cái thích của người này chưa chắc cũng là cái thích
    của người kia.
    Lại còn có người nọ thích không học gì cả , thì sao? Họ sẽ
    nói: “Đời người ngắn ngủi, học cùng không học thì có khác gì
    nhau. Anh thích khoa học, tạo hóa ban cho anh nhiều năng
    khiếu, thì anh thành nhà bác học giúp đời…
    Còn tôi không có năng khiếu chi cả, cố mà nhồi vào sọ
    những cái học hỏi của kẻ khác, cố mà sản xuất những tác
    phẩm không hơn gì những bài làm của học sinh…thì phỏng có
    lợi ích gì! Ta hãy cứ tìm lấy những hạnh phúc rẻ tiền không
    cần dụng công nhọc sức chi cả có hơn không! Anh đọc truyện
    kiều, anh biết thích…Tôi, tôi đọc Lục Vân Tiên, tôi cũng biết
    thích vậy. Anh, anh thích nhạc cổ điển, anh thích nhạc Âu Mỹ.
    Tôi, tôi nghe vọng cổ, tôi xem hát bội, tôi cũng biết thích vậy.
    Anh đọc tiểu thuyết cổ điền của Đông Phương, tôi cũng biết
    mê say…Vậy, thì cũng chưa chắc cái sướng của anh hơn cái
    sướng của tôi…”
    Ta phải trả lời với họ cách nào?
    Đã không thiếu gì những quyển luân lí tân cựu đã trả lời với
    họ rất hùng hồn…Nhưng, theo tôi, mặc dầu có rất nhiều bài
    văn mà tài hùng biện của tác giả không thể chối cãi được…Tôi
    thấy cũng chưa đủ sức cảm hóa hạng người trên đây.

    Ta hãy can đảm nhìn ngay sự thật; có nhiều kẻ họ sống hết
    sức hạnh phúc trong sự ngu dốt và ở không của họ…Họ ghét
    đọc sách, họ ghét suy nghĩ, họ ghét làm việc bằng tinh thần
    cụng như họ ghét gông cùm tù tội vậy: một vấn đề hoàn toàn
    thuộc về bản chất…
    Geothe, lúc mà danh vọng của ông lên đến tột độ, ngày kia
    dạo trên bờ sông thành Naples gặp một tên ăn mày nằm ngủ
    phơi mình trong ánh nắng…Ông dừng chân, tự hỏi:
    “Ta và anh ăn mày này, ai hạnh phúc hơn ai ?”. Thật, cũng
    khó mà trả lời cho dứt khóat. Tuy nhiên, tôi chắc chắn, các bạn
    cũng như tôi, chúng ta thích sống trong hạnh phúc của Geothe
    hơn. Andre' Gide cũng nói: “Một cái hạnh phúc mà vô tâm, tôi
    không chịu sống trong hạnh phúc ấy “.
    Nếu bạn là người chịu theo phái “ăn rồi nằm ngữa nằm
    nghiêng, có ai mướn tớ, thì khiêng tớ về…” Nghĩa là theo phái
    thích “ăn không ngồi rồi”, “tối thiểu nổ lực ” và cho đó là hạnh
    phúc nhất đời, thì xin mời bạn hãy để quyển sách này xuống…
    Nó không phải viết cho bạn.
    Thú thật, tôi không đủ tài để thuyết phục bạn. Sách này viết
    ra, là cho những ai cùng đồng một ý kiến với tôi, cho rằng
    hạnh phúc của Geothe hơn hạnh phúc của anh ăn mày, hay nói
    đúng hơn, Geothe cao trọng hơn anh ăn mày.
    Theo tôi, hạnh phúc là được làm chủ hành động ta, tư tưởng
    ta, tình cảm ta…và mỗi ngày mỗi làm cho “cái người ” của ta
    thêm sáng suốt hơn, thêm tự do hơn, thêm to rộng hơn…nghĩa
    là thêm mới mẻ hơn. “Cấu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân
    “. Mỗi ngày một mới, và ngày càng mới mãi…Đấy là lời khắc
    trên bồn tắm của vua Thành Thang ngày xưa. Và cũng chính là
    lí tưởng của Pastuer: “Cao lên, cao hơn lên, và cao lên mãi…”
    Như thế, ta thấy rõ mục đích của sự học là gì rồi. Học, là để
    mưu hạnh phúc, nghĩa là để làm cho mình càng ngày càng

    mới, càng ngày càng cao, càng ngày càng rộng… . Học, là
    tăng gia sự hiểu biết của mình, là mở rộng tâm hồn của mình
    bằng cách thu nhận sự hiểu biết cùng những kinh nghiệm của
    kẻ khác làm của mình. Có khác nào một đứa trẻ mới sinh, cân
    không đầy hai, ba kí…thế mà nhờ càng ngày càng lớn đến
    năm, sáu chục kí…trong khoảng vài mươi năm sau? Phải
    chăng nhờ rút lấy những vật liệu chung quanh: không khí, món
    ăn, món uống…mà tiến từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh,
    nghĩa là càng ngày càng mới, càng ngày càng cao, càng ngày
    càng lớn. Bởi vậy, trước đây tôi có nói: “Học cũng như ăn “.
    Ăn mà không tiêu, thì có hại cho sức khoẻ. Học mà không
    tiêu hóa thì có hại cho tinh thần. Cỏ của con chim ăn mà được
    tiêu, không còn gọi là cỏ nữa, mà là bộ lông mướt đẹp của nó.
    Dâu của con chim ăn mà được tiêu, không còn là dâu nữa, mà
    là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó. Người có học thức là người
    đã thần hóa những cái học của mình . Bởi vậy, người có học
    thức là người dường như không biết gì cả, mà không có cái gì
    là không biết.
    Học mà đến mực dường như quên hết cả sách vở của mình
    đã học thì cái học ấy mới thật là “nhập diệu”. Herriot nói:
    “Học thức là cái gì còn lại khi mình đã quên tất cả “.
    Một nhà tâm lí học có nói: “Quên là điều kiện cần thiết của
    cái Nhớ “. Thật là chí lí. Một điều gì học mà mình còn cố nhớ,
    là nó chưa được nhập vào tâm. Chỉ khi nào mình không cần
    nhớ mà nó vẫn tự nhiên hiển hiện trong tâm trí mình thì môn
    học ấy mới được gọi là đã được tiêu hóa. Người học đánh máy
    chữ mà còn để ý tìm từng nét chữ, cố nhớ vị trí của nút chữ…
    là người đánh máy chưa tinh. Người học đi xe máy mà còn
    nhớ mình còn ngồi trên yên xe máy, còn để ý đến bàn đạp,
    cách đạp…là người đi xe máy chưa tinh. Tôi còn nhớ, lúc còn
    học thi, gần đến ngày thi, tôi băn khoăn nói với cha tôi: “Sao
    con học nhiều quá mà nay dường như con không nhớ gì cả.

    Lòng con như quên hết, không biết có nhớ được gì không?
    Con sợ quá “. Cha tôi cười bảo:
    “Đấy là con đã học “mùi” rồi. Quên tức là nhớ nhiều rồi đó.
    Con hãy yên tâm …”. Thật đúng như lời. Ngày thi giám khảo
    hỏi đâu, tôi trả lời liền đó, một cách dễ dàng hết sức.
    Trang Tử nói: “Người bắn cung mà còn để ý đến việc bắn
    cung của mình là người bắn chưa tinh. Kẻ lội mà còn để ý đến
    cái lội của mình là người lội chưa giỏi. Phải biết quên thị phi
    đi, thì cái tâm mình mới thông suốt được cái lẽ thị phi…(Tri
    vong thị phi, tâm chi thích dã)”. Hiểu được câu nói này của
    Trang Tử là hiểu được cái diệu pháp của Phép Học rồi vậy.
    C. THẾ NÀO LÀ BẬC THIÊN TÀI?
    Nói đến những bậc thiên tài nhiều người đã tưởng tượng họ
    như kẻ phi thường, cô phong độc tú…xa hẳn với loài người.
    Thực ra cũng không có gì lạ giữa họ và chúng ta cho lắm; có
    nhiều kẻ còn tệ hơn chúng ta nhiều về vấn đề thể chất lẫn tinh
    thần nữa. Họ chỉ khác ta có một điều thôi: họ có một đức tin
    vững vàng về phương pháp làm việc của họ . Họ tin rằng với
    sự cần cù nhẫn nại và cách làm việc có phương pháp, họ sẽ đạt
    được ý muốn cao xa của họ. Theo họ “thiên tài chỉ là một sự
    nhẫn nại bền bỉ lâu ngày ” mà thôi.
    Darwin, tác giả bộ “Vạn vật nguyên lai luận”, người đã gây
    được một cuộc cách mạng to tát trong khoa học là một người
    có một trí nhớ rất tồi tệ, một sức khoẻ rất bạc nhược.
    Spinoza thì đau bệnh phổi, chết vào khoảng 45 tuổi.
    Pascal thì đau mãi và mất sớm năm 39 tuổi.
    Montaigne cứ than vãn mãi về trí nhớ thậm tệ của ông cũng
    như về trí não “chậm chạp và tăm tối” của ông, còn Herbert
    Spencer thì không thể nào làm việc trong một giờ mà không
    đau. Có ai dám bảo rằng những người nói trên đây không phải

    là những bậc vĩ nhân trong nhân loại? Sự nghiệp tinh thần của
    họ đều là những kỳ công bất hủ, những tinh hoa của nhân loại.
    Thế mà vấn đề thể chất của họ còn thua ta xa, còn vấn đề tinh
    thần có khi cũng không hơn gì ta cho lắm. Nếu phải kể ra cho
    hết, thì cả năm mươi trang cũng không sao kể đủ tên tuổi của
    các bậc vĩ nhân mà về phương diện thể chất và tinh thần
    không có gì là đặc sắc hơn những kẻ tầm thường.
    Thế nhưng họ đã để lại cho đời những kỳ công vĩ đại là nhờ
    đâu? Vì họ biết cách làm việc có phương pháp, có nghệ thuật.
    Trong giới trí thức, cũng như trong các hiện tượng khác của
    tự nhiên: những hành động bạo phát, hùng hổ mãnh liệt như
    địa chấn, thủy tai…chỉ là những hiện tượng bạo phát mà bạo
    tàn…
    Những gì có tính cách vĩ đại khó thoát khỏi yếu tố thời gian.
    Muốn học cho thâm, muốn gây tạo những công trình to tát
    cũng phải cần đến thời giờ. Nhất là văn hóa, không thể chấp
    nhận được thời gian. Một giọt nước con, mà với thời gian đã
    điêu khắc dải Hoành Sơn, Tuyết Lãnh…
    Nếu các bạn xem kĩ đời niên thiếu của các bậc vĩ nhân đã
    làm vẻ vang cho Tổ quốc họ và cho cả nhân loại, các bạn sẽ
    thấy, khi các ông ấy còn là học sinh đâu phải luôn luôn là
    những học sinh đứng vào hạng nhất trong lớp họ. Có khi họ lại
    là những anh học sinh “hạng bét ” là khác. Có nhiều kẻ, chính
    các ông thầy của họ cũng không để ý đến họ nữa. Nhưng, một
    ngày kia, một tình cờ run rủi, bỗng dưng cảm khích như
    Malebranche, sau khi đọc quyển “Traite' de lHomme của
    Descartes”, đem hết nghị lực lao đầu vào sự học, nhẫn nại, cố
    gắng cho tới ngày tài hoa xuất hiện.
    Một việc làm âm thầm, lặng lẽ trong cô tịch nhưng đầy hăng
    hái, đầy kiên nhẫn sẽ là những công việc làm có nhiều kết quả
    vẻ vang và sâu sắc nhất. Trong khoảng âm thầm lặng lẽ nghiên

    cứu học hỏi, các bạn đã tìm ra được lắm ý nghĩa hay ho, nhiều
    tư tưởng tân kì có thể là những nền tảng cho một đời sống tinh
    thần và phát minh sau này của bạn.
    Trong lúc ấy, trong lúc mà các bạn khác của bạn, nhiều may
    mắn hơn, đi vào các trường cao đẳng để tản mác trí lực của họ
    trong những cuộc đua chọi bằng cấp và địa vị cao sang quyền
    quí, thì trong bóng tối, trong im lặng, tác phẩm của bạn như
    tiếng sấm đêm đông…làm cho mọi người kinh khủng. Công
    trình sự nghiệp của bạn chẳng khác nào những hòn đảo kia, từ
    lượng cát đắp bồi, bỗng trồi lên mặt nước, một cách vững vàng
    như con núi.
    Những bậc vĩ nhân đều hiện lên một cách từ từ và lặng lẻ
    như thế. Họ nhẫn nại mà đi từng bước một; nhưng một bước
    của họ là một bước chắc chắn.
    Leo núi cao, các người từng trải đều quả quyết rằng những
    kẻ nào háo thắng, vội vàng sẽ không bao giờ đi tới mức được.
    Họ sẽ mệt nhọc, đuối sức và bị bỏ lại giữa đường. Các bậc vĩ
    nhân họ đi từ từ mà không nghỉ, một cách hết sức trật tự và
    quy củ.
    Ông Newton nói: “Nếu tôi có phát minh được một đôi điều
    gì, cũng là nhờ nghĩ ngợi mãi một việc và đem việc ấy mà
    quan sát đủ mọi phương diện. Nếu những phát minh của tôi có
    được chút ích lợi cho đồng bào là do sự cần cù và đeo đuổi
    mãi theo một ý nghĩ mà không thôi vậy “.
    Giáo sư Duclaux, trong một bài diễn văn nói về Pastuer có
    nói: “Tôi không rõ những phát minh kì vĩ có phải là do thiên
    tài sản xuất, không cần đến sự cố công gắng sức không? Chứ ở
    trường hợp Pastuer đây, tôi thấy hẳn không phải vậy. Nếu ông
    là một nhà phát minh đã lập được rất nhiều kì công vĩ đại
    trong nhân loại, trước hết là nhờ ông là một người làm việc rất
    nhẫn nại và lặng lẽ. ..”

    Nhất là họ không bao giờ hiếu danh, hối hả trong công việc
    học hỏi và nghiên cứu của họ.
    Người ta bảo rằng lúc Pastuer thi vào đại học, chỉ đậu hạng
    ba hạng tư gì đó. Năm ấy, ông không chịu vào đại học. Học
    thêm một năm nữa, kì thi năm sau ông đứng đầu. Ông tự cho
    rằng sức ông còn yếu, nên cần học lại thêm một năm nữa, đâu
    có muộn gì, bởi theo ông cần nhất là phải có thật tài hơn là hối
    hả trong công trình học vấn. Thật có khác với đầu óc tâm
    tưởng của phần đông chúng ta ngày nay, bao giờ cũng không
    muốn cướp thời gian và thành công mau lẹ.
    Tóm lại, thiên tài là một sự nhẫn nại bền bỉ và lâu dài. Muốn
    thành những bậc tài hoa, điều thứ nhất là phải có lí tưởng, có
    đủ tin tưởng và chí kiên nhẫn để thực hiện lí tưởng ấy; điều
    thứ hai là làm việc cho có trật tự, có phương pháp, nhẫn nại và
    lặng lẽ, không bồn chồn, không vội vã …

    TÔI TỰ HỌC
    Nguyễn Duy Cần
    www.dtv-ebook.com
    Chương 2
    A.HỌC VẤN VÀ THỜI GIAN
    Trang Tử nói: “Đời sống ta có hạn mà sự học hỏi thì vô
    hạn…”. Đời bấy giờ mà ông còn nói thế, thì sống vào đời này
    phải nói như thế nào? Khoa học đã đi đến trình độ cực kì phức
    tạp và sâu rộng, dẫu là bậc thông minh đến đâu cũng không
    thể dám nói: “Óc tôi có thể chứa được tất cả cái học hiện thời
    “. Người như Trang Tử mà Tư Mã Thiên bảo là có một cái học
    “thông kim bác cổ “, vậy mà còn phải nói thế. Ta cứ nhìn kĩ
    chung quanh từng ngành học, sẽ thấy sự gia tăng của nó trong
    mấy năm gần đây mà ngợp. Dù cho ta có thể đầu thai mấy
    ngàn kiếp cũng không sao chứa được hết cái học của con
    người, ngay trong mỗi một ngành học nào cũng vậy.
    Sự học ngày càng tăng, mà thời giờ con người càng ngày
    càng thu hẹp. Đừng nói thì giờ rỗi rãi của ta ngày nay có
    nhiều…Lấy ngay một cái nghề giáo viên cũng đủ thấy ngày
    giờ của mình đã mất hết. Dù ta bỏ hết thời giờ của ta cũng
    không sao có đủ để nghiên cứu học hỏi cho tinh chuyên. Nghề
    bác sĩ, nghề kĩ sư…và bất luận là nghề nào, muốn học đến chỗ
    tinh vi của nó, đều phải mất thì giờ không ít. Thế là sự học
    càng tăng thì giờ để thu thập nó lại càng hẹp.
    Thật là một sự mâu thuẩn đau đớn cho những người ham
    học như chúng ta. Trước vấn đề khó giải này phải đối phó cách
    nào?

    Chắc chắn là chúng ta không nên giải quyết một cách tiêu
    cực như hạng “dốt kim thời” này: họ viện lẽ “bể học mênh
    mông mà thời giờ không có đủ…vậy tốt hơn việc nhà mình
    mình biết, ghé mắt vào việc nhà kẻ khác để làm gì? Học làm
    gì, rút cuộc cũng không hiểu biết gì hơn người không học …”
    Socrate há không có nói: “Điều mà ta biết rõ nhất là ta không
    biết gì cả !” hay sao?
    Hạng “dốt” này, may thay chỉ có một phần tử rất ít trong xã
    hội ngày nay. Nói thế, đâu phải chỉ có đời nay mới có hạng
    người này mà thôi. Đời nào cũng có cả. Nhưng có điều là hạng
    “dốt kim thời” này họ dốt và biết biện hộ sự dốt nát của họ: họ
    viện đủ lí lẽ, nào là khoa học phá sản, nào là sức hiểu biết của
    trí não thì hữu hạn, còn sự hiểu biết của loài người thì vô
    biên…Nói cho đúng, họ là hạng dốt có “triết lí”. Họ lí sự lắm
    và tìm đủ cách để biện hộ sự khuất phục của họ trước vấn đề
    học hỏi.
    Lại còn có một hạng người phản đối hạng trên. Họ nhất định
    không chịu khoanh tay chịu dốt…Nhưng, cẩn thận hơn, họ
    quyết định chọn một vài sự hiểu biết nào mà họ thích nhất, rồi
    bám lấy, ngăn tường đắp lũy, đem tất cả thời giờ và tâm trí họ
    để nghiên cứu một cách sâu sa triệt để hơn. Đây là giải pháp
    của nhà chuyên môn . Hạng người này hiện thời rất đông. Bất
    cứ là đi vào giới trí thức nào ta luôn luôn đụng chạm với
    những nhà thông thái “trong tháp ngà” ấy. Một ông kĩ sư cấu
    cống không biết gì cả đến các phong trào văn nghệ trong nước,
    cũng không đủ sức hiểu biết một bài thơ hay. Một bác sĩ y
    khoa không bao giờ đọc sách triết học, hay văn chương. Một
    kịch gia suốt đời không đọc một quyển sách về khoa học ứng
    dụng.
    Ngoài cái ngành chuyên môn của họ, họ không buồn biết
    đến việc gì ngoài chỗ sở trường của họ. Họ cũng là hạng người
    công nhận sự bất lực của trí não con người trước vấn đề mênh

    mông của sự học hỏi. Nhưng, thay vì như anh “dốt kim thời”
    trên đây bó tay chịu dốt, thì họ lại quyết định chọn con đường
    cô lập và chuyên môn. Tuy vậy, hạng người này đáng mến hơn
    hạng người trên đây, nhất là họ dễ thương hơn hạng người
    “ngụy trí thức ” sau đây.
    Hạng người “ngụy bác học” hay “ngụy trí thức” lại cũng là
    nạn nhân của vấn đề nan giải trên đây: cái học thì vô cùng mà
    thời gian thì có hạn. Họ không chịu dốt, nhưng họ cũng không
    có đủ can đảm làm nhà chuyên môn. Họ là những hạng người
    “dở dở ương ương” : cái gì cũng biết, nhưng biết không có cái
    gì thực biết. Đấy cũng là lối học ở nhà trường để đào tạo một
    hạng người “bác học nửa mùa “. Sách gì họ cũng đọc…nhưng
    mà họ chỉ đọc phớt qua như con bướm giỡn hoa…Họ bàn đến
    nguyên tử lực, họ nói chuyện Einstein và thuyết tương đối, họ
    bàn đến Vô Vi của Lão Tử, họ luận về Tam Giáo, sành chính
    trị, kinh tế…không có câu chuyện gì là không thấy họ phê
    bình chỉ trích như một kẻ chuyên môn. Những nhà “bác học
    nữa mùa” này hiện thời đã chiếm số khá đông trong nhân loại.
    Chế độ dân chủ cho phép họ nghênh ngang múa mép trong
    khắp các ngành hoạt động xã hội. Những báo chí, những sách
    phổ thông viết một cách hối hả của những “học giả nữa mùa”
    là những “tội nhân” đã đào tạo ra hạng người này, nhất là cái
    học “bách khoa” của giáo dục.
    Hạng “ngụy trí thức” này thật là cả một tai vạ cho xã hội
    hiện thời. Đối với hạng dốt và hạng chuyên môn trên đây họ là
    hạng người bêu xấu sự học, hạng người đáng ghét nhất. Dân
    chúng thiếu học thường bị bọn người này loè bịp khiến kẻ nào
    múa môi lẻo mép nhất, thường được quần chúng hoan
    nghênh…Và chính họ là kẻ dẫn dân chúng vào những con
    đường phiêu lưu tăm tối của lịch sử sau này.
    B. CÁI HỌC VỀ BỀ RỘNG VÀ CÁI HỌC VỀ BỀ SÂU

    Có hai thứ học vấn: học về bề sâu và học về bề rộng
    Có một thứ hiểu biết do bên ngoài đưa đến, có một thứ hiểu
    biết do bên trong mà phát huy ra được.
    Cái học bao quát mà người xưa ở Đông Phương khuyên
    bảo: “Thượng tri thiên văn, hạ tri địa lí, trung tri nhân sự ” là
    một cái học hết sức cần thiết để tìm biết được chân lí trong đời
    này. Thật vậy, mọi sự mọi vật trên đời liên quan rất mật thiết
    với nhau. Có biết được nguyên nhân mới hiểu rành lí sự.
    Nhưng cái “nhân ” này sanh ra cái “quả” kia, rồi cái quả ấy lại
    là cái nhân cho cái quả khác, tiếp tục nhau mà đến. Sự việc
    này xảy ra trước mắt ta hôm nay, trước đây đã có một dọc
    nguyên nhân mà ta không biết và có biết chăng, cũng chỉ biết
    được một vài nguyên nhân thiển cận mà thôi, còn lại không
    biết bao nhiêu nguyên nhân khác nữa, hữu hình có, vô hình
    cũng có mà ta không làm sao biết hết được. Người trí sở dĩ
    khác được kẻ ngu chỉ ở điểm này: Một đàng đã tìm thấy được
    nhiều nguyên nhân sâu xa và rộng rãi, còn một đàng thì không
    nhận thấy một nguyên nhân nào khác hơn là sự việc đã xảy ra
    mà thôi. Vì vậy mà người trí thức cần phải có một cái học rộng
    rãi để khỏi phải bị thiên kiến trong khi nhận xét và phê bình.
    Nhưng cần nhất là phải có một cái học chuyên môn, một cái
    học về bề sâu. Victor Duruy nói: “Phải có một cái học tổng
    quát để phụng sự cho ngành chuyên môn của mình !”.
    Câu chuyện sau đây chứng tỏ rằng cái học chuyên môn mà
    được tận tâm huấn luyện bắt buộc ta phải đi đến cái học tổng
    quát.
    Một nhà tiến sĩ văn chương cổ điển, ngày kia đến viếng ông
    Kerschensteiner, bấy giờ đang làm hiệu trưởng các trường ở
    Munich, để xin một chân giáo học ở trường tiểu học của ông.
    Dĩ nhiên trong việc xin dạy đây, chắc hẳn không phải vì vấn
    đề sinh nhai mà chính vì ông ta muốn tự mình nghiên cứu sự

    tổ chức và phương pháp dạy dỗ ở cấp đại học mà ông sẽ có
    phận sự đảm nhiệm.
    Kerschensteiner, trước lòng khẩn thiết nhật thành ít có ấy,
    bằng lòng nhận ông ấy vào dạy học, nhưng cũng không quên
    nhắc ông rằng cái học chuyên khoa về ngôn ngữ học của ông e
    sẽ là một trở ngại to tát cho công việc dạy dỗ của ông đối với
    cấp sơ học. Ông này cho biết rắng sự chuyên học về tiếng La
    Tinh va Hy Lạp đầu tiên đã hướng ông vào công việc nghiên
    cứu về lịch sử thời cổ sơ. Và nghiên cứu thời tiền sử, và vì thế
    bắt ông phải đeo đuổi theo khoa nhân loại học. Chính lúc ấy
    ông cảm thấy ông cần phải có một sự hiểu biết vững vàng về
    vạng vật học và ông bắt đầu nghiên cứu về thực vật học và
    động vật học. Nhân đó, ông cảm thấy ông còn thiếu sót rất
    nhiều về vật lí học cũng như về hóa học, bởi vậy ba năm sau
    khi thi đậu bằng tiến sĩ văn khoa, ông theo thọ giáo những nhà
    khoa học trứ danh Rontgen và Bayer.
    Câu chuyện trên đây, đâu phải là một câu chuyện đặc biệt
    riêng gì của một người: các nhà học thức chân chính nào cũng
    đi một con đường như ông tiến sĩ trên đây cả. Thật vậy, khi
    mình muốn đi thật sâu vào một vấn đề nào, thường thường lại
    phải cầu cứu đến các ngành học khác có liên lạc đến nó. Như
    cái học về vật lí bắt ta phải sành toán học, cái học về địa lí
    buộc ta phải có một cơ sở học vấn vững vàng về địa chất học.
    Thành ra, chỉ đi sâu vào ngành học nào, người ta rốt cuộc
    cũng tìm ra được cái học bao la tổng quát, vì sự vật trong đời
    chằng chịt dính líu nhau, không có một sự vật nào là cô đơn
    độc lập cả.
    Rồi ra, cái học tổng quát có cái hại này, là cái gì cũng biết,
    nhưng không có cái gì chuyên môn thực hiện được cả cho sự
    tiến bộ chung của nhân loại. Tuy vậy, nó có những cái lợi to tát
    này là nó đào tạo cho ta có được một cái nhìn bao quát, không

    thiên kiến, trí óc và tâm hồn rộng rãi, hiểu được người chung
    quanh, không có tinh thần quá khích. Đời sống tinh thần cũng
    dồi dào mà hưởng thụ sự sung sướng cũng rộng rãi. Thử tưởng
    tượng một người có óc thẩm mĩ, hiểu biết được cái hay của âm
    nhạc hay hội họa, bất kì là âm nhạc hay hội họa của nước nào.
    Người đó phải chăng là người có nguồn hạnh phúc tinh thần
    vô tận không? Trái lại, những kẻ chỉ biết cái hay của vọng cổ
    mà không thưởng thức cái đẹp của một bản nhạc Beethoven,
    biết cái hay của một tuồng hát bóng Âu Mỹ mà không thưởng
    thức nổi cái đẹp của một tuồng “hát bội” Á Đông…thì dĩ
    nhiên nguồn cảm hứng mĩ thuật phải kém nhiều, vì bị hạn
    định.
    Cái học chuyên môn thì có cái lợi nhiều cho xã hội, khiến
    cho công việc làm ngày càng trở nên tinh tiến, mau lẹ, nhưng
    nó có cái hại là thường hay biến con người thành bộ óc hẹp
    hòi, vì nghề nghiệp. Có quá nhiều nhà chuyên môn họ làm thái
    quá đến lố bịch…Như nhà bác sĩ kia bị ám ảnh vì vi trùng, rồi
    dưới con mắt ông, cái gì cũng cắt nghĩa bằng vi trùng…Cho
    đến tình yêu họ cũng cắt nghĩa là bị vi trùng “yêu”. Dưới mắt
    bác sĩ, điên là một chứng bệnh, nhưng thiên tài đối với các ông
    cũng là một chứng bệnh. Thậm chí có nhà bác học nọ cho Đức
    Jesus cũng là một người điên, vì là một người “phi thường “.
    lại nữa, nhà chuyên môn cũng thường bị mang chứng bệnh
    “Sai ngoa về nghề nghiệp ” nữa. Đó là một tai hại đáng lo
    ngại, cần phải tránh xa vì nó có tính cách phản văn hóa.
    C. CỐ GẮNG: ĐIỀU KIỆN ĐẦU TIÊNCỦA SỰ TIẾN BỘ
    TINH THẦN
    Muốn có sự tiến bộ về văn hóa, tức là muốn cho sự học
    được bổ ích cho tinh thần, phải để ý đến yếu tố đầu tiên này,
    sự cố gắng .

    Một cố gắng dù nhỏ bậc nào cũng là điều kiện cần thiết để
    tinh thần trí não ta tiến bộ. Ngày nay, phần đông đã hiểu một
    cách sai lầm rằng: ông thầy dạy hay không phải ông thầy bắt ta
    làm việc, mà là ông thầy làm việc thế nào cho ta. Cũng như
    sách hay không phải là sách mà tác giả bắt ta suy nghĩ, trái lại
    là sách mà tác giả đã suy nghĩ sẵn cho ta, có khi tác giả đã làm
    sẵn bài tóm tắt cùng dàn bài cho ta nữa những sách học trò lớp
    năm…vậy.
    Người ta lại còn rút ngắn và lược thuật các quyển sách chỉ
    nói đại cương như loại “Degest” của Mỹ, và loại sách ấy rất
    được đa số quần chúng ưa thích…Dường như càng cố tránh
    cho độc giả phải nhọc công tìm kiếm, và suy nghĩ được chừng
    nào hay chừng nấy, đó là người ta đã đạt được mục đích mà họ
    gọi là “phổ thông”…Kể ra những công việc làm ấy, về mặt
    văn hóa, không giúp ích gì tinh thần bao nhiêu. Độc giả chỉ
    đóng một vai tuồng thụ động trong khi đọc sách, thành ra, đọc
    sách thì thật nhiều, mà kết quả về văn hóa thì chả có là bao.
    Đọc sách du lịch, viếng các việc bảo tàng, đi nghe âm nhạc,
    nghe diễn thuyết…không phải là đi tìm món ăn tinh thần, gây
    dựng cơ sở văn hóa cho mình sao? Làm mấy công việc đó đâu
    cần gì phải cố gắng?
    Ta nên nhớ rằng, người ta có thể đọc sách rất nhiều, đi du
    lịch cùng khắp thế giới mà dốt nát vẫn hoàn dốt nát. Là tại
    sao? Đọc sách có nhiều sách. Nếu đọc sách chỉ để giết thời
    giờ, tìm vui thích hoặc để tìm quên lãng trong những lúc buồn
    chán ở trên toa xe hay đọc sách để tìm giấc ngủ - thì đọc sách
    không lợi gì cho tinh thần cả. Đọc sách mà có lợi cho tinh thần
    là khi nào mình biết vận dụng tất cả năng lực và năng khiếu
    của mình, nhận thức được rõ ràng những ý kiến sâu thẳm của
    lòng mình đem ra so sánh với những ý kiến dị đồng của tác
    giả, biết sắp đạt lại những kí ức của mình, biết trầm ngâm suy
    nghĩ, biết làm việc có phương pháp, tóm lại, biết thảo luận và

    thông cảm với tác giả quyển sách mình đọc, đó là cách đọc
    sách đấy.
    Du lịch cũng là một nguồn học hỏi, nhưng biết du lịch chỉ là
    thụ động, mà không biết quan sát, biết suy nghĩ thì dù có lê
    chân suốt đời khắp năm châu thế giới cũng chẳng ích gì. Sở dĩ
    du lịch đã giúp ích cho sự “đa văn quảng kiến” cho nhiều bậc
    văn hào trên thế giới như bằng chứng nơi những tập du kí của
    những đại văn hào H. de Keyserling, Aldous Huxley,
    R.Rolland, A. Gide…là vì những nhân vật ấy đã khéo biết
    quan sát, không phải cái bề ngoài của sự vật và con người mà
    là vì họ đã biết nhìn xem cái động cơ vô hình đã nhào nặn
    những sự kiện hữu hình dưới mắt họ kia. Sự du lịch của họ
    không có tính cách thụ động nhọc nhằn chán nản như một thí
    sinh dượt thi một cách đau khổ chán chường…Sự cố gắng
    trong vấn đề học hỏi rất có thể trái ngược l...
     
    Gửi ý kiến

    vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam