GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
Trò Chơi Và Thú Tiêu Khiển Của Người Huế-Trần Đức Anh Sơn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:43' 05-02-2026
Dung lượng: 4.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 13h:43' 05-02-2026
Dung lượng: 4.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TRÒ CHƠI VÀ THÚ TIÊU KHIỂN CỦA NGƯỜI
HUẾ
NHÀ XUẤT BẢN DÂN TRÍ
Số 9 - Ngõ 26 - Phố Hoàng Cầu - Q.Đống Đa - TP.Hà Nội
VPGD: Số 347 Đội Cấn - Quận Ba Đình - TP Hà Nội
ĐT: (024). 66860751 - (024). 66860752
Email: nxbdantri@gmail.com | Website: nxbdantri.com.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản:
BÙI THỊ HƯƠNG
Chịu trách nhiệm nội dung:
LÊ QUANG KHÔI
Biên tập: Nguyễn Thị Thủy
Vẽ bìa: Nguyễn Mạnh Cường
Sửa bản in: Lê Tùng Dương
Trình bày: Vũ Lê Thư
In 2.000 cuốn, khổ 14x20.5 cm tại Công ty TNHH In Tiến Bộ
Địa chỉ: 175 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội
Số xác nhận đăng ký xuất bản số: 1707-2018/CXBIPH/461/DT
Quyết định xuất bản số: 1707-4/QĐXB/NXBDT do NXB Dân trí
cấp ngày 10/10/2018
Mã ISBN: 978-604-88-6224-4. In xong, nộp lưu chiểu năm
2018
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS)
Trụ sở chính: Tầng 5, Tòa nhà số 14 Pháo Đài Láng, phường
Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội
Tel: (024) 3233 6043
VP. TP. HCM: 138C Nguyễn Đình Chiểu, phường 6, quận 3, TP.
Hồ Chí Minh
Tel: (028) 38220 334 | 35
www.omegaplus.vn | https:
//www.facebook.com/groups/congdongomega
Tổng Quan
S
au hơn 1,5 thế kỷ được các chúa Nguyễn chọn làm thủ
phủ của Ðàng Trong, đến cuối thế kỷ XVIII, Huế trở
thành kinh đô vương triều Tây Sơn (1788 - 1802) và sau
đó là kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945). Ở một nơi
từng được tán tụng “... mặt đất thì non sông tươi đẹp, biển cả thì
sóng nước mênh mông... đàn ông khá cương cường, đàn bà hơi
mềm mại, trai thì trọng đức dũng cảm tài lương, gái thì quý nết
đoan trang cần kiệm...”1, lại được tiếp nhận những tinh hoa của
đất nước tụ hội về bởi vị thế của một kinh đô, xứ Huế 2, trong
khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XVI đến đầu XX, xứng đáng là
chốn đô hội của cả nước. Việc nhà Nguyễn chọn Huế để định đô
trong gần 1,5 thế kỷ đã làm nảy sinh nơi đây lớp người thượng
kinh và theo đó là một lối sống kinh kỳ. Ðiều này góp phần tạo
nên những nét đặc sắc trong lối sống, cách ứng xử, cũng như
trong việc thưởng ngoạn và tiêu khiển của người dân xứ Huế.
1. Dương Văn An, Ô châu cận lục (Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Văn
Nguyên), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 44.
2. Các địa danh: Huế, xứ Huế có trong tiểu luận này được sử dụng để chỉ vùng đất trước
kia là thủ phủ của cả xứ Đàng Trong trong hơn 1,5 thế kỷ (1636 - 1788), sau đó là
kinh đô của hai vương triều: Tây Sơn (1788 - 1802) và Nguyễn (1802 - 1945), trải dài
từ nam Quảng Trị đến bắc Hải Vân (vùng đất này gần như tương ứng với địa giới hành
chính của tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay), chứ không bó hẹp trong phạm vi thành phố
Huế đương đại, với tư cách là một đơn vị hành chính của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sự tồn tại và phát triển của các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế
bắt nguồn từ sự du nhập các trò chơi và thú tiêu khiển truyền
thống của cư dân đồng bằng Bắc Bộ rồi cải biên cho phù hợp với
điều kiện địa lý, môi trường và hoàn cảnh lịch sử ở vùng đất
mới. Nhiều trò chơi dân gian của người dân Ðại Việt xưa, đã
theo bước chân của những lớp dân Nam tiến, có mặt ở Huế ngay
từ khi mảnh đất này còn là “Ô châu ác địa”. Trong giai đoạn đầu,
những trò chơi ấy vẫn mang đậm dấu ấn từ những trò vui của
cư dân châu thổ sông Hồng. Ðó là những trò chơi gắn với các lễ
hội dân gian, được nhà nước đứng ra tổ chức để mua vui cho
thiên hạ trong các dịp lễ lượt như: đua ghe, đấu vật, đu tiên...
Ðiều này thể hiện khá rõ qua một đoạn ghi chép của Nguyễn
Khoa Chiêm trong sách Nam triều công nghiệp diễn chí: “Lại kể
năm Cảnh Trị thứ 10, Nhâm tý, tháng 2 (đúng ra là năm Dương
Ðức thứ nhất, 1672 - T.Đ.A.S.)1 chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần T.Đ.A.S.) nhàn hạ, triệu trai gái xã Hạ Lan tới trước gác Quyển
Bồng, bày cuộc chơi đùa làm vui: đánh cờ người, đá cầu, xích đu.
Có thể nói là một thắng hội. Khi ấy các quan liêu, dân bách tính
trai già gái trẻ, dắt con ôm cháu, cùng tới xem chơi, không thể
đếm xiết”.2
1. Tác giả Trần Đức Anh Sơn.
2. Dẫn theo: Lê Nguyễn Lưu, “Nhân tố và đặc điểm của văn hóa Huế”, Huế đẹp Huế thơ,
NXB Thuận Hóa, Huế, 1998, tr. 21.
Về sau, nhiều thú vui xuất xứ từ nơi thôn dã, được tầng lớp trên
trong xã hội mới tiếp nhận và cải biên cho phù hợp với lối sống
quyền quý của họ. Từ đó tạo nên những trò chơi và thú tiêu
khiển theo lối Huế, được đánh giá là phong phú, độc đáo và
mang sắc thái riêng, khi so sánh với những các trò chơi và thú
tiêu khiển ở các vùng khác của Việt Nam. Mặt khác, tầng lớp
trên trong xã hội cũng là những người khởi xướng các các trò
chơi và thú tiêu khiển mới như: thưởng thức ca nhạc cung đình,
thả thơ, uống trà... Giới quý tộc và quan lại ở cố đô Huế đã học
hỏi, bắt chước những trò chơi được ghi chép trong sách vở viết
về đời sống cung đình Trung Hoa, rồi cải chế ít nhiều, tạo thành
những trò chơi hay thú tiêu khiển mới để phục vụ cho nhu cầu
giải trí của giai cấp mình như: đầu hồ, xăm hường... Theo thời
gian, nhiều trò chơi cung đình đã vượt khỏi chốn cung cấm, lan
ra phố phường và thôn xóm ngoại thành, được tầng lớp bình
dân tiếp nhận, rồi cải biên hoặc bổ sung một vài chi tiết cho phù
hợp với địa vị và lối sống của họ. Cũng có những thú vui không
rõ do ai khởi xướng nhưng lại được người Huế, từ sang đến hèn,
chấp nhận thưởng thức.
Ðến thời thuộc Pháp, nhiều trò chơi có nguồn gốc châu Âu, được
du nhập vào Huế như: domino, billard, bài Tây... cùng tồn tại với
những trò chơi có từ trước. Ngoài ra, một số trò chơi truyền
thống cũng có những thay đổi cho phù hợp xu thế của thời đại:
ví dụ trò thả thơ, thay vì dùng thơ chữ Hán các đời Ðường - Tống
- Minh bên Tàu, người ta chuyển sang dùng thơ chữ Nôm của
Trần Tế Xương, Tản Ðà, Ưng Bình, Nguyễn Khoa Vy... để thả thơ;
hay như trò tài bàn, mạt chược, vốn du nhập từ Trung Quốc,
nguyên thủy chỉ có 136 quân cờ, sau phát sinh thêm bốn “bộ
hoa”, gồm các quân cờ: mai-lan-cúc-trúc; xuân-hạ-thu- đông;
tổng-đồng-vạn-sách; hoa-nguyên-hỷ-hợp, nâng tổng số quân cờ
thành 152.
Trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế luôn có hai thuộc tính: dân dã
và bác học; dân gian và cung đình.
Chẳng hạn như trò thả diều: con diều Huế vốn gốc gác từ những
con diều đơn sơ của đám con nít nơi thôn quê; về sau được
người lớn phát triển thành con diều có hình dáng phức tạp hơn;
cuối cùng, nó được lớp người thượng kinh biến thành những
nhân vật của bộ môn “múa rối trên không”, dựa theo nhân vật
trong các tích tuồng xưa, với kỹ thuật tinh xảo và lộng lẫy sắc
màu. Hay như trong bộ môn ca Huế, có khi ca từ bắt nguồn từ
những bài ca dao, những bài vè trong dân gian, nhưng cũng có
những làn điệu, những khúc ca có ca từ là những bài thơ do các
thi sĩ chuyên nghiệp, hay các bậc thức giả sáng tác như bài Phẩm
tiết, do công chúa Mai Am sáng tác, bài Tứ đại cảnh, do vua Tự
Ðức đặt ra. Có nơi, có lúc mặt này trội hơn mặt kia, nhưng rất
khó tách bạch rõ ràng, ngược lại, các mặt này thường đan xen,
bổ sung cho nhau, tạo nên những nét đặc thù trong các trò giải
trí ở Huế.
Những thú vui ở Huế, ngoài mục đích tiêu khiển, giải trí, còn
nhằm để khoa trương tài nghệ, óc thẩm mỹ tinh tế, sự tinh xảo,
khéo léo và cả tri thức, học vấn của người dự cuộc. Ðể thỏa mãn
thú đỏ đen hay thử vận hên xui, ngoài những trò cờ bạc diễn ra
trong các sòng tổ tôm, tứ sắc... người Huế còn tìm đến các trò thả
thơ, đố thơ, nơi mà sự uyên bác quyết định sự thắng thua chứ
không phải là tính sát phạt. Tương tự, người ta tìm đến các hội
bài chòi, bài thai là để được thưởng thức những câu hò, giọng
hát, để đắm mình trong không khí rộn ràng của cuộc vui hơn là
để thử vận may rủi.
Một đặc điểm khác trong các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế là
dường như có một sự phân định vô hình trong việc tổ chức và
thưởng ngoạn giữa những lớp người có địa vị khác nhau trong
xã hội: đầu hồ là một trò chơi phổ biến trong cung vua, phủ
chúa, nhưng không thấy lan truyền trong dân gian. Người ta
cũng chỉ thấy trò thả thơ, đố thơ diễn ra nơi các vương phủ và
thành phần tham dự đều là những bậc phong lưu, có học vấn
chứ không phải là những tay trọc phú lắm tiền ít chữ. Cũng
chưa bao giờ có một quan chức nào, dù là võ quan, so tài trong
các sới vật đầu năm ở các hội làng, cho dù họ là người đã từng tỉ
thí trong các kỳ thi võ do triều đình tổ chức. Ðiều này là hệ quả
của sự khác biệt địa vị, học vấn và tình hình kinh tế của từng bộ
phận dân cư trong xã hội.
Ở Huế có những thú vui dành cho đám đông như: đua ghe, thả
diều, đấu vật... song cũng có nhiều thú giải khuây chỉ dành cho
một nhóm người, thậm chí một người như: thưởng trà, đánh cờ
hay sưu tầm cổ vật… Có những trò chơi nhằm phô diễn sức
mạnh cơ bắp như: đua ghe, đấu vật…; có thú vui dùng trí như
đánh cờ, hay khoe tài học vấn như thả thơ, đố thơ…; có trò chơi
thể hiện sự khéo léo như chơi đầu hồ, hay khoe sự sáng tạo như
làm diều và thả diều; nhưng có thú vui lại thể hiện một ước mơ
về học vấn cho bản thân và gia đình như đổ xăm hường hay thể
hiện một khát vọng liên lạc giữa cõi dương với cõi âm, giữa hư
với thực như trò cầu tiên.
Thú vui xứ Huế không chỉ phong phú về dạng thức, loại hình
mà còn hợp thời, hợp cảnh. Dương Văn An trong Ô châu cận lục
từng viết: “Xuân sang thì mở hội đua thuyền với nhiều trai
thanh gái lịch, hạ đến thì bày cuộc viếng thăm với nhiều chốn
múa nơi ca”.1 Không ai thả diều hay du thuyền trên sông Hương
vào những ngày mưa dầm gió bấc, cũng như các cuộc trà chỉ
thực sự mang đến cho ẩm khách cảm giác khinh khoái trong
những ngày đông giá rét, chứ không phải trong những trưa hè
oi bức. Thiên nhiên và thời tiết vừa giúp vào việc sản sinh ra các
trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế, đồng thời, vừa ảnh hưởng trực
tiếp đến thời điểm diễn ra các cuộc vui ấy.
1. Dương Văn An, Ô châu cận lục (Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Văn
Nguyên), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 47.
Có một cảm nhận khác khi tìm hiểu về các trò chơi và thú tiêu
khiển ở Huế là có nhiều trò vui gắn liền với những dòng sông.
Ðó là dòng Hương Giang ở Huế; là sông Bồ Ðiền ở Quảng Ðiền, là
dòng Ô Lâu ở Phong Ðiền, là vùng đầm phá Tam Giang, Cầu Hai,
Lăng Cô... ở vùng duyên hải phía đông. Những trò đua ghe, đua
trải, các cuộc vui trong các cuộc lễ cầu ngư; thú đi câu, ca Huế
trên sông, ngủ đò... đều gắn liền với sông nước và cả những trò
vui, tuy trên cạn, nhưng lại có gốc gác gắn bó với sông nước như
hát tập chèo, hò bả trạo... Ngay như thú thả diều cũng thế. Ðừng
tưởng cánh diều bay lượn trên bầu trời kia thì không có quan hệ
gì với sóng nước của những dòng sông xứ Huế. Vị trí được các
tay chơi diều ưa thích là những bãi đất ven sông, vì ở những nơi
này mới có một khoảng không thoáng đãng để nâng bổng cánh
diều. Dòng sông xanh, bầu trời xanh và cánh diều đủ màu sắc
đang vi vu giữa hai tấm phông xanh tự nhiên kia sẽ trở nên lộng
lẫy hơn, quyến rũ hơn. Vì thế mà trong những trưa hè cháy
bỏng, ngang qua cầu Trường Tiền hay cầu Phú Xuân, người ta
thường thấy những cánh diều chao lượn trên bầu trời, in bóng
xuống dòng Hương trong xanh. Sông Hương đã đọng lại trong
tâm thức người dân xứ Huế một tình cảm dịu dàng, quyến rũ,
thì cũng in dấu lên những trò tiêu khiển ở Huế như nguồn cội
của niềm hứng khởi và lạc thú, mà thiếu nó, hẳn những thú vui
của miền đất này sẽ không trọn vẹn và phong phú đến vậy.
Theo tôi, có thể tạm phân các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế
thành ba nhóm nhỏ, dựa trên quy mô tổ chức và số người tham
dự cuộc tiêu khiển.
- Những trò chơi và thú tiêu khiển mang tính cộng đồng như các
trò: đua ghe, vật võ, đu tiên...
- Những trò chơi và thú tiêu khiển mang tính hội nhóm như: ngâm
vịnh,đối họa thi văn,thưởng thức ca múa nhạc, thưởng trà, thả thơ,
đố thơ, đổ xăm hường, đầu hồ, hay các trò cờ bạc khác như: tứ sắc,
bài xẹp, tổ tôm, kiệu, tài bàn, mạt chược...
- Những trò giải trí và tiêu khiển mang tính cá nhân như: chơi non
bộ, chơi hoa kiểng, chơi chim, chơi sách, chơi cổ vật, ngủ đò...
Tuy nhiên, sự phân định này chỉ có tính tương đối vì có những
thú vui xếp vào nhóm này hay nhóm kia đều được. Ví dụ: uống
trà có thể là thú vui của một người nhưng khi có một nhóm
người thường xuyên tụ họp để thưởng trà, bình thơ thì thú vui
đã mang tính tập thể, hội nhóm; hay như trò chơi đầu hồ, khi
một người chơi thì ngoài mục đích thư giãn, đó còn là việc tập
luyện tính kiên trì, khéo léo của cá nhân, nhưng khi có hai hay
ba người cùng tham gia thì trò này đã mang tính hội nhóm và
cần phải có luật chơi để phân định thắng thua...
Trò chơi và thú tiêu khiển
mang tính cộng đồng
ĐUA GHE
T
rò đua ghe, đua trải diễn ra ở hầu hết các địa phương
trong tỉnh Thừa Thiên Huế. Ðó là một trong những là trò
chơi và cũng là môn thể thao tồn tại lâu đời, có mặt ở
Thuận Hóa từ buổi đầu người Việt theo chân các chúa Nguyễn
vào Nam mở cõi và vẫn tiếp diễn trong các lễ hội, các dịp kỷ
niệm hằng năm hiện nay. Những ghi chép của các tác giả:
Dương Văn An, Nguyễn Khoa Chiêm, Lê Quý Ðôn về vùng đất
Thuận Hóa xưa đều có nói về việc người dân nơi đây tổ chức đua
ghe trong các dịp xuân về hay trong các lễ hội, hoặc do phủ chúa
đứng ra tổ chức nhân một dịp đại lễ nào đó. Sau này, việc tổ
chức đua ghe ở Huế thường gắn liền với các lễ hội nông nghiệp
hay ngư nghiệp. Người dân ở các làng quê thường tổ chức đua
ghe trước khi bước vào vụ mùa mới, như là một phần của
những hoạt động mang tính tâm linh nhằm cầu cho mưa thuận
gió hòa, cho mùa màng được phong đăng hòa cốc.
Đua ghe trên sông Hương. Ảnh: Đào Hoa Nữ.
Chiếc ghe đua xứ Huế thường là loại ghe thân dài; lườn ghe đan
bằng cật tre; mũi và lái cong vút. Ngày trước, thân ghe chỉ được
phủ lớp dầu rái màu nâu để chống thấm nước. Về sau, chiếc ghe
đua được sơn vẽ nhiều màu hơn. Hầu như mỗi thôn, làng đều có
chiếc ghe đua và một đội đua, tuyển chọn từ những tráng đinh
khỏe mạnh, dẻo dai nhất. Vài tuần trước khi diễn ra cuộc đua,
đội đua được tập trung để bắt đầu tập luyện nhằm đạt đến sự
nhuần nhuyễn của toàn đội và tăng cường sức bền bỉ, dẻo dai
cho từng thành viên. Việc luyện tập chủ yếu vào ban đêm và
thực hiện ở trên cạn, thường là nơi đình làng. Thời gian này
cũng là lúc người ta hạ thổ chiếc ghe có từ những mùa đua
trước, bấy lâu vẫn được cất giữ ở nơi cao ráo trong đình, để sửa
chữa, tu bổ hay trang trí lại, chuẩn bị cho cuộc đua mới. Khi việc
luyện tập trên cạn đã khá nhịp nhàng, người ta hạ thủy chiếc
ghe vừa tu sửa xong để đội đua tập chèo trên sông, trên phá một
vài lần, trước khi vào hội. Với dân chúng, sự thú vị của trò đua
ghe đã bắt đầu ngay từ những ngày tập luyện này. Họ kéo đến
xem đội đua luyện tập, phụ họa theo tiếng hô giữ nhịp của đội
đua. Mấy người phụ nữ còn lo việc nấu các món ăn, úy lạo đội
đua để bồi bổ sức khỏe cho họ. Người ta luôn luôn làm một lễ
cúng ghe rất trang trọng trước khi đưa ghe gia nhập hội đua.
Ngày đua đến, những chiếc ghe đủ màu sắc, từ các thôn làng tập
hợp về một quãng sông, cùng những đội đua mặc đồng phục,
sẵn sàng bước vào cuộc tranh tài. Hai bên bờ sông, dân chúng tụ
tập đông đúc, luôn miệng hò reo cổ vũ cho đội nhà trong tiếng
trống dồn dập, náo nức. Cuộc đua thường diễn ra từ sáng sớm,
đến giữa trưa thì chấm dứt. Mỗi lượt tranh tài, đội đua phải bơi
đủ “ba vòng, sáu tráo” trên một khúc sông được giới hạn bởi hai
cọc tre tươi làm cọc tiêu, gọi là vè, trước khi lái chính tháo mái
chèo mang lên bờ nộp cho ban giám khảo. Mỗi cuộc đua thường
có bốn giải thưởng:
- Giải cúng:là giải thưởng cho đội thắng trong lượt đua đầu tiên
vào buổi sáng. Phần thưởng của giải cúng là một mâm cau trầu
và một chai rượu.
- Giải phá: là giải thưởng cho đội thắng trong lượt đua cuối cùng
vào buổi chiều. Phần thưởng của giải là một lá cờ đỏ, không có
hiện vật kèm theo. Lá cờ này vốn là biểu tượng của cuộc đua, sẽ
được đội thắng mang về treo trong đình làng như một niềm
vinh dự của đội đua làng ấy.
- Giải tam liên thắng: là giải thưởng dành cho đội nào về nhất ba
lần trong một cuộc đua. Phần thưởng thường là một con bò để
xẻ thịt ăn mừng.
- Giải nhất, nhì, ba: là giải thưởng dành cho ba đội có thành tích
cao nhất trong cuộc đua. Phần thưởng bằng tiền mặt, tùy theo
thứ hạng mà số tiền mặt được thưởng nhiều hay ít.
Đua ghe ở Cầu Ngói Thanh Toàn. Ảnh: Nguyễn Phong.
Ðua ghe là một trò giải trí mang tính đồng đội cao, vừa giúp vào
việc rèn luyện sức khỏe, vừa để giúp vui cho cộng đồng. Ðó cũng
là một phần trong các hoạt động lễ hội thể hiện tín ngưỡng
nông nghiệp của người dân xứ Huế. Một số làng ngư nghiệp ven
phá Tam Giang như các làng: Thai Dương Thượng thượng giáp
(xã Hải Dương), Thai Dương Thượng hạ giáp (xã Thuận An),
Hòa Duân (xã Phú Thuận)... cũng tổ chức các cuộc đua ghe trong
dịp lễ cầu ngư.
Hiện nay, vào các dịp kỷ niệm ngày giải phóng tỉnh Thừa Thiên
Huế (26.3) và Quốc khánh (2.9), chính quyền thường tổ chức
đua ghe trên sông Hương như một hoạt động thể thao chào
mừng các sự kiện này. Còn tại Cầu Ngói Thanh Toàn (xã Thủy
Thanh, thị xã Hương Thủy), dân địa phương thường tổ chức đua
ghe trong chương trình Hương xưa làng cổ để hưởng ứng các kỳ
Festival Huế từ năm 2004 đến nay. Là thú vui, đồng thời là hoạt
động thể thao lành mạnh, nên các cuộc đua ghe thường niên
trên sông Hương và ở Cầu Ngói Thanh Toàn luôn thu hút đông
đảo dân chúng và du khách đến xem và cổ vũ nhiệt thành.
VẬT VÕ
Một trong những nơi có truyền thống vật võ nổi tiếng nhất ở
tỉnh Thừa Thiên Huế là làng Sình, tên chữ là Lại Ân (nay thuộc
xã Phú Mậu, huyện Phú Vang). Làng Sình nằm bên ngã ba sông,
nơi con sông Bồ hợp lưu với sông Hương trước khi xuôi về phá
Tam Giang để thông ra biển. Ðây là một làng nghề, chuyên làm
tranh mộc bản để thờ cúng. Ðối diện làng Sình, bên kia sông là
làng Thanh Phước, nơi có ngôi đền, thờ một phù điêu Champa,
từng được triều Nguyễn sắc phong là Kỳ Thạch phu nhân chi
thần. Nơi đây còn có vết tích một trại thủy quân thời các chúa
Nguyễn. Khi mới đến Ðàng Trong, để tăng cường sự phòng thủ
mặt đông cho thủ phủ, chúa Nguyễn đã lập nơi đây một xưởng
đóng thuyền và một trại thủy binh đêm ngày luyện tập võ nghệ
và nghề sông nước. Những hoạt động của trại thủy binh đã
mang đến cho vùng này một truyền thống vật võ còn lưu
truyền đến nay. Trước tiên, người ta tổ chức đấu vật trong lực
lượng thủy binh nhằm tuyển chọn những người có sức khỏe, để
lên rừng tìm gỗ đóng thuyền, để đương đầu với kẻ thù lúc cận
chiến. Sau thời các chúa Nguyễn, các sới vật ở làng Sình được tổ
chức hàng năm nhằm tuyển chọn và tưởng thưởng những
thanh niên có lòng can đảm, sức mạnh và mưu trí, để lên rừng
lấy cây vang, cây hòe về chế màu; xuống biển lấy vỏ sò, vỏ điệp
về nung thành bột, đem trộn với hồ, quét lên giấy dó để in
tranh.
Hội vật tổ chức ngày mồng 10 tháng Giêng hàng năm. Sới vật
được đắp bằng đất, ngay trước sân đình. Tuy diễn ra ở làng Sình
nhưng hội vật thu hút nhiều võ sĩ đến từ những vùng phụ cận
như: Vĩnh Lại, Quy Lai, Dương Nỗ, Thanh Phước... Có cả những
võ sĩ từ các làng quê ven biển như Thuận An, Hải Dương... đến
đua tài.
Hội vật diễn ra trong một ngày. Sau khi vị tiên chỉ trong làng
đọc lời khai cuộc và công bố luật lệ hội vật, người ta đốt lửa
trong một chiếc đèn thăng thiên làm bằng vải theo nguyên lý
hoạt động của một khinh khí cầu, rồi thả nó bay lên trời, báo
hiệu hội vật bắt đầu.
Hội vật làng Sình (xã Phú Mậu, huyện Phú Vang).
Ảnh: Trần Tuấn Anh.
Sau hiệp đấu khai hội mang tính nghi thức của hai bậc lão
trượng trong làng là cuộc đua tài của thiếu nhi, kế đến mới là
các hiệp đấu của người lớn. Người nào thắng liên tiếp ba đối thủ
thì được dự vòng bán kết buổi chiều. Buổi chiều ai thắng được
ba trận thì sẽ được vào vòng chung kết. Người vật bị đối phương
nhấc bổng lên hoặc làm cho “lấm lưng trắng bụng” thì thua trận
và bị loại trực tiếp, không được tham dự trận đấu thứ hai mà
phải đợi đến sang năm mới được so tài trở lại.
Các lão đấu thủ thi đấu ở hội vật làng Thủ Lễ (thị trấn Sịa, huyện
Quảng Điền). Ảnh: Nguyễn Phong.
Các nam đấu thủ thi đấu ở hội vật làng Thủ Lễ (thị trấn Sịa,
huyện Quảng Điền). Ảnh: Nguyễn Phong.
Các nữ đấu thủ thi đấu ở hội vật làng Thủ Lễ (thị trấn Sịa, huyện
Quảng Điền). Ảnh: Nguyễn Phong.
Ngoài hội vật làng Sình, trên địa bàn Thừa Thiên Huế còn có hội
vật ở làng Thủ Lễ (thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền) cũng là nơi
quy tụ khá nhiều tay vật từ các địa phương khác đến dự hội. Mỗi
địa phương có một trường phái, một phong cách đấu vật riêng,
chứng tỏ xứ Huế là một nơi giàu truyền thống vật võ. Truyền
thống đó vẫn được duy trì tới nay, như là một hoạt động thể
thao và là trò giải trí được công chúng ưa thích.
ĐU TIÊN
Ðu tiên là một trò vui có gốc gác từ miền Bắc, được du nhập vào
Thuận Hóa từ rất sớm. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Ất
tị, năm thứ 8 niên hiệu Ðại Trị đời Trần Dụ Tông (1363)... mùa
xuân, tháng Giêng, người Chiêm Thành đến bắt dân ở châu Hóa.
Hằng năm, cứ đến mùa xuân tháng Giêng, con trái, con gái họp
nhau đánh đu ở Bà Dương. Người Chiêm Thành khoảng tháng
Chạp năm trước, nấp sẵn ở nơi đầu nguồn của châu Hóa, đến khi
ấy ụp đến cướp bắt lấy người đem về”.1 Chuyện này xảy ra chỉ
sau khi người Chiêm cắt đất Ô, Lý cho Ðại Việt chưa đầy 60 năm,
mà lại thành lệ đến nỗi người Chiêm biết mà phục sẵn chờ bắt
người mang về, chứng tỏ trò chơi này rất hấp dẫn dân chúng và
được tổ chức thường xuyên ngay từ buổi đầu họ đặt chân đến
đây.
1. Ngô Sĩ Liên, Ðại Việt sử ký toàn thư (Bản dịch của Viện Sử học), Quyển 7, Tập II,
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1967, tr. 150.
Ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đánh đu là một trò
chơi phổ biến trong những ngày Tết với rất nhiều loại cây đu và
lối chơi đu khác nhau. Song phổ biến nhất vẫn là hình thức đu
đôi, vẫn được gọi là đu tiên, gồm một cặp thanh niên nam nữ
cùng lên đu so tài. Bên cạnh cây đu, người ta treo một chiếc
khăn hồng ở độ cao xấp xỉ chiều cao giá đu. Người dự cuộc phải
đưa cánh đu bay cao, giật cho được chiếc khăn kia, mới được coi
là thắng cuộc. Ngoài việc đu cao, họ còn phải nhún sao cho đẹp
mắt, thì mới được tán thưởng như trong câu ca:
Nhún mình như thể nhún đu
Càng nhún càng đẹp, càng đu, càng mềm1
1. Nguyễn Thành Luông - Nguyễn Thị Thanh Bình, Văn hóa dân gian cổ truyền. Những
phong tục lý thú, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 65.
Những cuộc đu tiên ở Huế vẫn được tổ chức cho đến trước năm
1945. Trong các dịp lễ lượt quan trọng, chính phủ Nam triều
thường tổ chức các cuộc đu tiên ở trước Phu Văn Lâu để mua
vui. Mỗi dịp như thế, người ta thường dựng từ 2 - 3 cây đu. Thời
này, giá đu đã làm bằng gỗ, rất vững chắc, nhưng cánh đu và
đòn đu thì vẫn làm từ những gốc tre đực. Cánh đu và đòn đu liên
kết với nhau bằng những đoạn tre đập dập và được bện lại nhằm
tăng độ đàn hồi cho đòn đu, giúp động tác nhún mềm mại và
uyển chuyển hơn. Giải thưởng trong các cuộc đu lúc này là bằng
tiền và người ta không còn treo chiếc khăn hồng cho các tay đu
đoạt lấy như trước. Phần lớn các tay đu bấy giờ là nam giới,
hiếm khi có nữ giới tham gia, vì phụ nữ Huế lúc ấy đã theo nếp
gia phong Nho giáo, khác với phụ nữ thời các chúa Nguyễn, say
trò đu tiên đến độ bị người Champa đến rình bắt mà không hay
biết. Vì thế mà tính chất lãng mạn, quyến rũ của trò đu tiên đã
phôi pha dần.
Đu tiên ở làng Phước Yên
(xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền). Ảnh: Nguyễn Phong.
Bay bổng trên đu. Ảnh: Nguyễn Phong.
Ngày nay, trò đu tiên
HUẾ
NHÀ XUẤT BẢN DÂN TRÍ
Số 9 - Ngõ 26 - Phố Hoàng Cầu - Q.Đống Đa - TP.Hà Nội
VPGD: Số 347 Đội Cấn - Quận Ba Đình - TP Hà Nội
ĐT: (024). 66860751 - (024). 66860752
Email: nxbdantri@gmail.com | Website: nxbdantri.com.vn
Chịu trách nhiệm xuất bản:
BÙI THỊ HƯƠNG
Chịu trách nhiệm nội dung:
LÊ QUANG KHÔI
Biên tập: Nguyễn Thị Thủy
Vẽ bìa: Nguyễn Mạnh Cường
Sửa bản in: Lê Tùng Dương
Trình bày: Vũ Lê Thư
In 2.000 cuốn, khổ 14x20.5 cm tại Công ty TNHH In Tiến Bộ
Địa chỉ: 175 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội
Số xác nhận đăng ký xuất bản số: 1707-2018/CXBIPH/461/DT
Quyết định xuất bản số: 1707-4/QĐXB/NXBDT do NXB Dân trí
cấp ngày 10/10/2018
Mã ISBN: 978-604-88-6224-4. In xong, nộp lưu chiểu năm
2018
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS)
Trụ sở chính: Tầng 5, Tòa nhà số 14 Pháo Đài Láng, phường
Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội
Tel: (024) 3233 6043
VP. TP. HCM: 138C Nguyễn Đình Chiểu, phường 6, quận 3, TP.
Hồ Chí Minh
Tel: (028) 38220 334 | 35
www.omegaplus.vn | https:
//www.facebook.com/groups/congdongomega
Tổng Quan
S
au hơn 1,5 thế kỷ được các chúa Nguyễn chọn làm thủ
phủ của Ðàng Trong, đến cuối thế kỷ XVIII, Huế trở
thành kinh đô vương triều Tây Sơn (1788 - 1802) và sau
đó là kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945). Ở một nơi
từng được tán tụng “... mặt đất thì non sông tươi đẹp, biển cả thì
sóng nước mênh mông... đàn ông khá cương cường, đàn bà hơi
mềm mại, trai thì trọng đức dũng cảm tài lương, gái thì quý nết
đoan trang cần kiệm...”1, lại được tiếp nhận những tinh hoa của
đất nước tụ hội về bởi vị thế của một kinh đô, xứ Huế 2, trong
khoảng thời gian từ giữa thế kỷ XVI đến đầu XX, xứng đáng là
chốn đô hội của cả nước. Việc nhà Nguyễn chọn Huế để định đô
trong gần 1,5 thế kỷ đã làm nảy sinh nơi đây lớp người thượng
kinh và theo đó là một lối sống kinh kỳ. Ðiều này góp phần tạo
nên những nét đặc sắc trong lối sống, cách ứng xử, cũng như
trong việc thưởng ngoạn và tiêu khiển của người dân xứ Huế.
1. Dương Văn An, Ô châu cận lục (Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Văn
Nguyên), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 44.
2. Các địa danh: Huế, xứ Huế có trong tiểu luận này được sử dụng để chỉ vùng đất trước
kia là thủ phủ của cả xứ Đàng Trong trong hơn 1,5 thế kỷ (1636 - 1788), sau đó là
kinh đô của hai vương triều: Tây Sơn (1788 - 1802) và Nguyễn (1802 - 1945), trải dài
từ nam Quảng Trị đến bắc Hải Vân (vùng đất này gần như tương ứng với địa giới hành
chính của tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay), chứ không bó hẹp trong phạm vi thành phố
Huế đương đại, với tư cách là một đơn vị hành chính của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sự tồn tại và phát triển của các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế
bắt nguồn từ sự du nhập các trò chơi và thú tiêu khiển truyền
thống của cư dân đồng bằng Bắc Bộ rồi cải biên cho phù hợp với
điều kiện địa lý, môi trường và hoàn cảnh lịch sử ở vùng đất
mới. Nhiều trò chơi dân gian của người dân Ðại Việt xưa, đã
theo bước chân của những lớp dân Nam tiến, có mặt ở Huế ngay
từ khi mảnh đất này còn là “Ô châu ác địa”. Trong giai đoạn đầu,
những trò chơi ấy vẫn mang đậm dấu ấn từ những trò vui của
cư dân châu thổ sông Hồng. Ðó là những trò chơi gắn với các lễ
hội dân gian, được nhà nước đứng ra tổ chức để mua vui cho
thiên hạ trong các dịp lễ lượt như: đua ghe, đấu vật, đu tiên...
Ðiều này thể hiện khá rõ qua một đoạn ghi chép của Nguyễn
Khoa Chiêm trong sách Nam triều công nghiệp diễn chí: “Lại kể
năm Cảnh Trị thứ 10, Nhâm tý, tháng 2 (đúng ra là năm Dương
Ðức thứ nhất, 1672 - T.Đ.A.S.)1 chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần T.Đ.A.S.) nhàn hạ, triệu trai gái xã Hạ Lan tới trước gác Quyển
Bồng, bày cuộc chơi đùa làm vui: đánh cờ người, đá cầu, xích đu.
Có thể nói là một thắng hội. Khi ấy các quan liêu, dân bách tính
trai già gái trẻ, dắt con ôm cháu, cùng tới xem chơi, không thể
đếm xiết”.2
1. Tác giả Trần Đức Anh Sơn.
2. Dẫn theo: Lê Nguyễn Lưu, “Nhân tố và đặc điểm của văn hóa Huế”, Huế đẹp Huế thơ,
NXB Thuận Hóa, Huế, 1998, tr. 21.
Về sau, nhiều thú vui xuất xứ từ nơi thôn dã, được tầng lớp trên
trong xã hội mới tiếp nhận và cải biên cho phù hợp với lối sống
quyền quý của họ. Từ đó tạo nên những trò chơi và thú tiêu
khiển theo lối Huế, được đánh giá là phong phú, độc đáo và
mang sắc thái riêng, khi so sánh với những các trò chơi và thú
tiêu khiển ở các vùng khác của Việt Nam. Mặt khác, tầng lớp
trên trong xã hội cũng là những người khởi xướng các các trò
chơi và thú tiêu khiển mới như: thưởng thức ca nhạc cung đình,
thả thơ, uống trà... Giới quý tộc và quan lại ở cố đô Huế đã học
hỏi, bắt chước những trò chơi được ghi chép trong sách vở viết
về đời sống cung đình Trung Hoa, rồi cải chế ít nhiều, tạo thành
những trò chơi hay thú tiêu khiển mới để phục vụ cho nhu cầu
giải trí của giai cấp mình như: đầu hồ, xăm hường... Theo thời
gian, nhiều trò chơi cung đình đã vượt khỏi chốn cung cấm, lan
ra phố phường và thôn xóm ngoại thành, được tầng lớp bình
dân tiếp nhận, rồi cải biên hoặc bổ sung một vài chi tiết cho phù
hợp với địa vị và lối sống của họ. Cũng có những thú vui không
rõ do ai khởi xướng nhưng lại được người Huế, từ sang đến hèn,
chấp nhận thưởng thức.
Ðến thời thuộc Pháp, nhiều trò chơi có nguồn gốc châu Âu, được
du nhập vào Huế như: domino, billard, bài Tây... cùng tồn tại với
những trò chơi có từ trước. Ngoài ra, một số trò chơi truyền
thống cũng có những thay đổi cho phù hợp xu thế của thời đại:
ví dụ trò thả thơ, thay vì dùng thơ chữ Hán các đời Ðường - Tống
- Minh bên Tàu, người ta chuyển sang dùng thơ chữ Nôm của
Trần Tế Xương, Tản Ðà, Ưng Bình, Nguyễn Khoa Vy... để thả thơ;
hay như trò tài bàn, mạt chược, vốn du nhập từ Trung Quốc,
nguyên thủy chỉ có 136 quân cờ, sau phát sinh thêm bốn “bộ
hoa”, gồm các quân cờ: mai-lan-cúc-trúc; xuân-hạ-thu- đông;
tổng-đồng-vạn-sách; hoa-nguyên-hỷ-hợp, nâng tổng số quân cờ
thành 152.
Trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế luôn có hai thuộc tính: dân dã
và bác học; dân gian và cung đình.
Chẳng hạn như trò thả diều: con diều Huế vốn gốc gác từ những
con diều đơn sơ của đám con nít nơi thôn quê; về sau được
người lớn phát triển thành con diều có hình dáng phức tạp hơn;
cuối cùng, nó được lớp người thượng kinh biến thành những
nhân vật của bộ môn “múa rối trên không”, dựa theo nhân vật
trong các tích tuồng xưa, với kỹ thuật tinh xảo và lộng lẫy sắc
màu. Hay như trong bộ môn ca Huế, có khi ca từ bắt nguồn từ
những bài ca dao, những bài vè trong dân gian, nhưng cũng có
những làn điệu, những khúc ca có ca từ là những bài thơ do các
thi sĩ chuyên nghiệp, hay các bậc thức giả sáng tác như bài Phẩm
tiết, do công chúa Mai Am sáng tác, bài Tứ đại cảnh, do vua Tự
Ðức đặt ra. Có nơi, có lúc mặt này trội hơn mặt kia, nhưng rất
khó tách bạch rõ ràng, ngược lại, các mặt này thường đan xen,
bổ sung cho nhau, tạo nên những nét đặc thù trong các trò giải
trí ở Huế.
Những thú vui ở Huế, ngoài mục đích tiêu khiển, giải trí, còn
nhằm để khoa trương tài nghệ, óc thẩm mỹ tinh tế, sự tinh xảo,
khéo léo và cả tri thức, học vấn của người dự cuộc. Ðể thỏa mãn
thú đỏ đen hay thử vận hên xui, ngoài những trò cờ bạc diễn ra
trong các sòng tổ tôm, tứ sắc... người Huế còn tìm đến các trò thả
thơ, đố thơ, nơi mà sự uyên bác quyết định sự thắng thua chứ
không phải là tính sát phạt. Tương tự, người ta tìm đến các hội
bài chòi, bài thai là để được thưởng thức những câu hò, giọng
hát, để đắm mình trong không khí rộn ràng của cuộc vui hơn là
để thử vận may rủi.
Một đặc điểm khác trong các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế là
dường như có một sự phân định vô hình trong việc tổ chức và
thưởng ngoạn giữa những lớp người có địa vị khác nhau trong
xã hội: đầu hồ là một trò chơi phổ biến trong cung vua, phủ
chúa, nhưng không thấy lan truyền trong dân gian. Người ta
cũng chỉ thấy trò thả thơ, đố thơ diễn ra nơi các vương phủ và
thành phần tham dự đều là những bậc phong lưu, có học vấn
chứ không phải là những tay trọc phú lắm tiền ít chữ. Cũng
chưa bao giờ có một quan chức nào, dù là võ quan, so tài trong
các sới vật đầu năm ở các hội làng, cho dù họ là người đã từng tỉ
thí trong các kỳ thi võ do triều đình tổ chức. Ðiều này là hệ quả
của sự khác biệt địa vị, học vấn và tình hình kinh tế của từng bộ
phận dân cư trong xã hội.
Ở Huế có những thú vui dành cho đám đông như: đua ghe, thả
diều, đấu vật... song cũng có nhiều thú giải khuây chỉ dành cho
một nhóm người, thậm chí một người như: thưởng trà, đánh cờ
hay sưu tầm cổ vật… Có những trò chơi nhằm phô diễn sức
mạnh cơ bắp như: đua ghe, đấu vật…; có thú vui dùng trí như
đánh cờ, hay khoe tài học vấn như thả thơ, đố thơ…; có trò chơi
thể hiện sự khéo léo như chơi đầu hồ, hay khoe sự sáng tạo như
làm diều và thả diều; nhưng có thú vui lại thể hiện một ước mơ
về học vấn cho bản thân và gia đình như đổ xăm hường hay thể
hiện một khát vọng liên lạc giữa cõi dương với cõi âm, giữa hư
với thực như trò cầu tiên.
Thú vui xứ Huế không chỉ phong phú về dạng thức, loại hình
mà còn hợp thời, hợp cảnh. Dương Văn An trong Ô châu cận lục
từng viết: “Xuân sang thì mở hội đua thuyền với nhiều trai
thanh gái lịch, hạ đến thì bày cuộc viếng thăm với nhiều chốn
múa nơi ca”.1 Không ai thả diều hay du thuyền trên sông Hương
vào những ngày mưa dầm gió bấc, cũng như các cuộc trà chỉ
thực sự mang đến cho ẩm khách cảm giác khinh khoái trong
những ngày đông giá rét, chứ không phải trong những trưa hè
oi bức. Thiên nhiên và thời tiết vừa giúp vào việc sản sinh ra các
trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế, đồng thời, vừa ảnh hưởng trực
tiếp đến thời điểm diễn ra các cuộc vui ấy.
1. Dương Văn An, Ô châu cận lục (Bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh và Nguyễn Văn
Nguyên), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, tr. 47.
Có một cảm nhận khác khi tìm hiểu về các trò chơi và thú tiêu
khiển ở Huế là có nhiều trò vui gắn liền với những dòng sông.
Ðó là dòng Hương Giang ở Huế; là sông Bồ Ðiền ở Quảng Ðiền, là
dòng Ô Lâu ở Phong Ðiền, là vùng đầm phá Tam Giang, Cầu Hai,
Lăng Cô... ở vùng duyên hải phía đông. Những trò đua ghe, đua
trải, các cuộc vui trong các cuộc lễ cầu ngư; thú đi câu, ca Huế
trên sông, ngủ đò... đều gắn liền với sông nước và cả những trò
vui, tuy trên cạn, nhưng lại có gốc gác gắn bó với sông nước như
hát tập chèo, hò bả trạo... Ngay như thú thả diều cũng thế. Ðừng
tưởng cánh diều bay lượn trên bầu trời kia thì không có quan hệ
gì với sóng nước của những dòng sông xứ Huế. Vị trí được các
tay chơi diều ưa thích là những bãi đất ven sông, vì ở những nơi
này mới có một khoảng không thoáng đãng để nâng bổng cánh
diều. Dòng sông xanh, bầu trời xanh và cánh diều đủ màu sắc
đang vi vu giữa hai tấm phông xanh tự nhiên kia sẽ trở nên lộng
lẫy hơn, quyến rũ hơn. Vì thế mà trong những trưa hè cháy
bỏng, ngang qua cầu Trường Tiền hay cầu Phú Xuân, người ta
thường thấy những cánh diều chao lượn trên bầu trời, in bóng
xuống dòng Hương trong xanh. Sông Hương đã đọng lại trong
tâm thức người dân xứ Huế một tình cảm dịu dàng, quyến rũ,
thì cũng in dấu lên những trò tiêu khiển ở Huế như nguồn cội
của niềm hứng khởi và lạc thú, mà thiếu nó, hẳn những thú vui
của miền đất này sẽ không trọn vẹn và phong phú đến vậy.
Theo tôi, có thể tạm phân các trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế
thành ba nhóm nhỏ, dựa trên quy mô tổ chức và số người tham
dự cuộc tiêu khiển.
- Những trò chơi và thú tiêu khiển mang tính cộng đồng như các
trò: đua ghe, vật võ, đu tiên...
- Những trò chơi và thú tiêu khiển mang tính hội nhóm như: ngâm
vịnh,đối họa thi văn,thưởng thức ca múa nhạc, thưởng trà, thả thơ,
đố thơ, đổ xăm hường, đầu hồ, hay các trò cờ bạc khác như: tứ sắc,
bài xẹp, tổ tôm, kiệu, tài bàn, mạt chược...
- Những trò giải trí và tiêu khiển mang tính cá nhân như: chơi non
bộ, chơi hoa kiểng, chơi chim, chơi sách, chơi cổ vật, ngủ đò...
Tuy nhiên, sự phân định này chỉ có tính tương đối vì có những
thú vui xếp vào nhóm này hay nhóm kia đều được. Ví dụ: uống
trà có thể là thú vui của một người nhưng khi có một nhóm
người thường xuyên tụ họp để thưởng trà, bình thơ thì thú vui
đã mang tính tập thể, hội nhóm; hay như trò chơi đầu hồ, khi
một người chơi thì ngoài mục đích thư giãn, đó còn là việc tập
luyện tính kiên trì, khéo léo của cá nhân, nhưng khi có hai hay
ba người cùng tham gia thì trò này đã mang tính hội nhóm và
cần phải có luật chơi để phân định thắng thua...
Trò chơi và thú tiêu khiển
mang tính cộng đồng
ĐUA GHE
T
rò đua ghe, đua trải diễn ra ở hầu hết các địa phương
trong tỉnh Thừa Thiên Huế. Ðó là một trong những là trò
chơi và cũng là môn thể thao tồn tại lâu đời, có mặt ở
Thuận Hóa từ buổi đầu người Việt theo chân các chúa Nguyễn
vào Nam mở cõi và vẫn tiếp diễn trong các lễ hội, các dịp kỷ
niệm hằng năm hiện nay. Những ghi chép của các tác giả:
Dương Văn An, Nguyễn Khoa Chiêm, Lê Quý Ðôn về vùng đất
Thuận Hóa xưa đều có nói về việc người dân nơi đây tổ chức đua
ghe trong các dịp xuân về hay trong các lễ hội, hoặc do phủ chúa
đứng ra tổ chức nhân một dịp đại lễ nào đó. Sau này, việc tổ
chức đua ghe ở Huế thường gắn liền với các lễ hội nông nghiệp
hay ngư nghiệp. Người dân ở các làng quê thường tổ chức đua
ghe trước khi bước vào vụ mùa mới, như là một phần của
những hoạt động mang tính tâm linh nhằm cầu cho mưa thuận
gió hòa, cho mùa màng được phong đăng hòa cốc.
Đua ghe trên sông Hương. Ảnh: Đào Hoa Nữ.
Chiếc ghe đua xứ Huế thường là loại ghe thân dài; lườn ghe đan
bằng cật tre; mũi và lái cong vút. Ngày trước, thân ghe chỉ được
phủ lớp dầu rái màu nâu để chống thấm nước. Về sau, chiếc ghe
đua được sơn vẽ nhiều màu hơn. Hầu như mỗi thôn, làng đều có
chiếc ghe đua và một đội đua, tuyển chọn từ những tráng đinh
khỏe mạnh, dẻo dai nhất. Vài tuần trước khi diễn ra cuộc đua,
đội đua được tập trung để bắt đầu tập luyện nhằm đạt đến sự
nhuần nhuyễn của toàn đội và tăng cường sức bền bỉ, dẻo dai
cho từng thành viên. Việc luyện tập chủ yếu vào ban đêm và
thực hiện ở trên cạn, thường là nơi đình làng. Thời gian này
cũng là lúc người ta hạ thổ chiếc ghe có từ những mùa đua
trước, bấy lâu vẫn được cất giữ ở nơi cao ráo trong đình, để sửa
chữa, tu bổ hay trang trí lại, chuẩn bị cho cuộc đua mới. Khi việc
luyện tập trên cạn đã khá nhịp nhàng, người ta hạ thủy chiếc
ghe vừa tu sửa xong để đội đua tập chèo trên sông, trên phá một
vài lần, trước khi vào hội. Với dân chúng, sự thú vị của trò đua
ghe đã bắt đầu ngay từ những ngày tập luyện này. Họ kéo đến
xem đội đua luyện tập, phụ họa theo tiếng hô giữ nhịp của đội
đua. Mấy người phụ nữ còn lo việc nấu các món ăn, úy lạo đội
đua để bồi bổ sức khỏe cho họ. Người ta luôn luôn làm một lễ
cúng ghe rất trang trọng trước khi đưa ghe gia nhập hội đua.
Ngày đua đến, những chiếc ghe đủ màu sắc, từ các thôn làng tập
hợp về một quãng sông, cùng những đội đua mặc đồng phục,
sẵn sàng bước vào cuộc tranh tài. Hai bên bờ sông, dân chúng tụ
tập đông đúc, luôn miệng hò reo cổ vũ cho đội nhà trong tiếng
trống dồn dập, náo nức. Cuộc đua thường diễn ra từ sáng sớm,
đến giữa trưa thì chấm dứt. Mỗi lượt tranh tài, đội đua phải bơi
đủ “ba vòng, sáu tráo” trên một khúc sông được giới hạn bởi hai
cọc tre tươi làm cọc tiêu, gọi là vè, trước khi lái chính tháo mái
chèo mang lên bờ nộp cho ban giám khảo. Mỗi cuộc đua thường
có bốn giải thưởng:
- Giải cúng:là giải thưởng cho đội thắng trong lượt đua đầu tiên
vào buổi sáng. Phần thưởng của giải cúng là một mâm cau trầu
và một chai rượu.
- Giải phá: là giải thưởng cho đội thắng trong lượt đua cuối cùng
vào buổi chiều. Phần thưởng của giải là một lá cờ đỏ, không có
hiện vật kèm theo. Lá cờ này vốn là biểu tượng của cuộc đua, sẽ
được đội thắng mang về treo trong đình làng như một niềm
vinh dự của đội đua làng ấy.
- Giải tam liên thắng: là giải thưởng dành cho đội nào về nhất ba
lần trong một cuộc đua. Phần thưởng thường là một con bò để
xẻ thịt ăn mừng.
- Giải nhất, nhì, ba: là giải thưởng dành cho ba đội có thành tích
cao nhất trong cuộc đua. Phần thưởng bằng tiền mặt, tùy theo
thứ hạng mà số tiền mặt được thưởng nhiều hay ít.
Đua ghe ở Cầu Ngói Thanh Toàn. Ảnh: Nguyễn Phong.
Ðua ghe là một trò giải trí mang tính đồng đội cao, vừa giúp vào
việc rèn luyện sức khỏe, vừa để giúp vui cho cộng đồng. Ðó cũng
là một phần trong các hoạt động lễ hội thể hiện tín ngưỡng
nông nghiệp của người dân xứ Huế. Một số làng ngư nghiệp ven
phá Tam Giang như các làng: Thai Dương Thượng thượng giáp
(xã Hải Dương), Thai Dương Thượng hạ giáp (xã Thuận An),
Hòa Duân (xã Phú Thuận)... cũng tổ chức các cuộc đua ghe trong
dịp lễ cầu ngư.
Hiện nay, vào các dịp kỷ niệm ngày giải phóng tỉnh Thừa Thiên
Huế (26.3) và Quốc khánh (2.9), chính quyền thường tổ chức
đua ghe trên sông Hương như một hoạt động thể thao chào
mừng các sự kiện này. Còn tại Cầu Ngói Thanh Toàn (xã Thủy
Thanh, thị xã Hương Thủy), dân địa phương thường tổ chức đua
ghe trong chương trình Hương xưa làng cổ để hưởng ứng các kỳ
Festival Huế từ năm 2004 đến nay. Là thú vui, đồng thời là hoạt
động thể thao lành mạnh, nên các cuộc đua ghe thường niên
trên sông Hương và ở Cầu Ngói Thanh Toàn luôn thu hút đông
đảo dân chúng và du khách đến xem và cổ vũ nhiệt thành.
VẬT VÕ
Một trong những nơi có truyền thống vật võ nổi tiếng nhất ở
tỉnh Thừa Thiên Huế là làng Sình, tên chữ là Lại Ân (nay thuộc
xã Phú Mậu, huyện Phú Vang). Làng Sình nằm bên ngã ba sông,
nơi con sông Bồ hợp lưu với sông Hương trước khi xuôi về phá
Tam Giang để thông ra biển. Ðây là một làng nghề, chuyên làm
tranh mộc bản để thờ cúng. Ðối diện làng Sình, bên kia sông là
làng Thanh Phước, nơi có ngôi đền, thờ một phù điêu Champa,
từng được triều Nguyễn sắc phong là Kỳ Thạch phu nhân chi
thần. Nơi đây còn có vết tích một trại thủy quân thời các chúa
Nguyễn. Khi mới đến Ðàng Trong, để tăng cường sự phòng thủ
mặt đông cho thủ phủ, chúa Nguyễn đã lập nơi đây một xưởng
đóng thuyền và một trại thủy binh đêm ngày luyện tập võ nghệ
và nghề sông nước. Những hoạt động của trại thủy binh đã
mang đến cho vùng này một truyền thống vật võ còn lưu
truyền đến nay. Trước tiên, người ta tổ chức đấu vật trong lực
lượng thủy binh nhằm tuyển chọn những người có sức khỏe, để
lên rừng tìm gỗ đóng thuyền, để đương đầu với kẻ thù lúc cận
chiến. Sau thời các chúa Nguyễn, các sới vật ở làng Sình được tổ
chức hàng năm nhằm tuyển chọn và tưởng thưởng những
thanh niên có lòng can đảm, sức mạnh và mưu trí, để lên rừng
lấy cây vang, cây hòe về chế màu; xuống biển lấy vỏ sò, vỏ điệp
về nung thành bột, đem trộn với hồ, quét lên giấy dó để in
tranh.
Hội vật tổ chức ngày mồng 10 tháng Giêng hàng năm. Sới vật
được đắp bằng đất, ngay trước sân đình. Tuy diễn ra ở làng Sình
nhưng hội vật thu hút nhiều võ sĩ đến từ những vùng phụ cận
như: Vĩnh Lại, Quy Lai, Dương Nỗ, Thanh Phước... Có cả những
võ sĩ từ các làng quê ven biển như Thuận An, Hải Dương... đến
đua tài.
Hội vật diễn ra trong một ngày. Sau khi vị tiên chỉ trong làng
đọc lời khai cuộc và công bố luật lệ hội vật, người ta đốt lửa
trong một chiếc đèn thăng thiên làm bằng vải theo nguyên lý
hoạt động của một khinh khí cầu, rồi thả nó bay lên trời, báo
hiệu hội vật bắt đầu.
Hội vật làng Sình (xã Phú Mậu, huyện Phú Vang).
Ảnh: Trần Tuấn Anh.
Sau hiệp đấu khai hội mang tính nghi thức của hai bậc lão
trượng trong làng là cuộc đua tài của thiếu nhi, kế đến mới là
các hiệp đấu của người lớn. Người nào thắng liên tiếp ba đối thủ
thì được dự vòng bán kết buổi chiều. Buổi chiều ai thắng được
ba trận thì sẽ được vào vòng chung kết. Người vật bị đối phương
nhấc bổng lên hoặc làm cho “lấm lưng trắng bụng” thì thua trận
và bị loại trực tiếp, không được tham dự trận đấu thứ hai mà
phải đợi đến sang năm mới được so tài trở lại.
Các lão đấu thủ thi đấu ở hội vật làng Thủ Lễ (thị trấn Sịa, huyện
Quảng Điền). Ảnh: Nguyễn Phong.
Các nam đấu thủ thi đấu ở hội vật làng Thủ Lễ (thị trấn Sịa,
huyện Quảng Điền). Ảnh: Nguyễn Phong.
Các nữ đấu thủ thi đấu ở hội vật làng Thủ Lễ (thị trấn Sịa, huyện
Quảng Điền). Ảnh: Nguyễn Phong.
Ngoài hội vật làng Sình, trên địa bàn Thừa Thiên Huế còn có hội
vật ở làng Thủ Lễ (thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền) cũng là nơi
quy tụ khá nhiều tay vật từ các địa phương khác đến dự hội. Mỗi
địa phương có một trường phái, một phong cách đấu vật riêng,
chứng tỏ xứ Huế là một nơi giàu truyền thống vật võ. Truyền
thống đó vẫn được duy trì tới nay, như là một hoạt động thể
thao và là trò giải trí được công chúng ưa thích.
ĐU TIÊN
Ðu tiên là một trò vui có gốc gác từ miền Bắc, được du nhập vào
Thuận Hóa từ rất sớm. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Ất
tị, năm thứ 8 niên hiệu Ðại Trị đời Trần Dụ Tông (1363)... mùa
xuân, tháng Giêng, người Chiêm Thành đến bắt dân ở châu Hóa.
Hằng năm, cứ đến mùa xuân tháng Giêng, con trái, con gái họp
nhau đánh đu ở Bà Dương. Người Chiêm Thành khoảng tháng
Chạp năm trước, nấp sẵn ở nơi đầu nguồn của châu Hóa, đến khi
ấy ụp đến cướp bắt lấy người đem về”.1 Chuyện này xảy ra chỉ
sau khi người Chiêm cắt đất Ô, Lý cho Ðại Việt chưa đầy 60 năm,
mà lại thành lệ đến nỗi người Chiêm biết mà phục sẵn chờ bắt
người mang về, chứng tỏ trò chơi này rất hấp dẫn dân chúng và
được tổ chức thường xuyên ngay từ buổi đầu họ đặt chân đến
đây.
1. Ngô Sĩ Liên, Ðại Việt sử ký toàn thư (Bản dịch của Viện Sử học), Quyển 7, Tập II,
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1967, tr. 150.
Ở nhiều vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, đánh đu là một trò
chơi phổ biến trong những ngày Tết với rất nhiều loại cây đu và
lối chơi đu khác nhau. Song phổ biến nhất vẫn là hình thức đu
đôi, vẫn được gọi là đu tiên, gồm một cặp thanh niên nam nữ
cùng lên đu so tài. Bên cạnh cây đu, người ta treo một chiếc
khăn hồng ở độ cao xấp xỉ chiều cao giá đu. Người dự cuộc phải
đưa cánh đu bay cao, giật cho được chiếc khăn kia, mới được coi
là thắng cuộc. Ngoài việc đu cao, họ còn phải nhún sao cho đẹp
mắt, thì mới được tán thưởng như trong câu ca:
Nhún mình như thể nhún đu
Càng nhún càng đẹp, càng đu, càng mềm1
1. Nguyễn Thành Luông - Nguyễn Thị Thanh Bình, Văn hóa dân gian cổ truyền. Những
phong tục lý thú, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr. 65.
Những cuộc đu tiên ở Huế vẫn được tổ chức cho đến trước năm
1945. Trong các dịp lễ lượt quan trọng, chính phủ Nam triều
thường tổ chức các cuộc đu tiên ở trước Phu Văn Lâu để mua
vui. Mỗi dịp như thế, người ta thường dựng từ 2 - 3 cây đu. Thời
này, giá đu đã làm bằng gỗ, rất vững chắc, nhưng cánh đu và
đòn đu thì vẫn làm từ những gốc tre đực. Cánh đu và đòn đu liên
kết với nhau bằng những đoạn tre đập dập và được bện lại nhằm
tăng độ đàn hồi cho đòn đu, giúp động tác nhún mềm mại và
uyển chuyển hơn. Giải thưởng trong các cuộc đu lúc này là bằng
tiền và người ta không còn treo chiếc khăn hồng cho các tay đu
đoạt lấy như trước. Phần lớn các tay đu bấy giờ là nam giới,
hiếm khi có nữ giới tham gia, vì phụ nữ Huế lúc ấy đã theo nếp
gia phong Nho giáo, khác với phụ nữ thời các chúa Nguyễn, say
trò đu tiên đến độ bị người Champa đến rình bắt mà không hay
biết. Vì thế mà tính chất lãng mạn, quyến rũ của trò đu tiên đã
phôi pha dần.
Đu tiên ở làng Phước Yên
(xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền). Ảnh: Nguyễn Phong.
Bay bổng trên đu. Ảnh: Nguyễn Phong.
Ngày nay, trò đu tiên
 





