GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1
Tu duy nhanh va cham - Daniel Kehlmann

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:05' 07-03-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 14h:05' 07-03-2024
Dung lượng: 2.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
DANIEL KAHNEMAN
TƯ DUY NHANH VÀ CHẬM
Bản quyền tiếng Việt © 2013 Công ty Sách Alpha
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net.com
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua
sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả,
người dịch và Nhà Xuất Bản
Những lời tán dương cuốn sách
“Với những ai quan tâm đến đầu tư hoặc hành vi con người,
cuốn sách của Kahneman là một cuốn đáng đọc. Trong cuốn
sách này, ông chỉ ra rằng trong khi chúng ta luôn cho rằng
những quyết định mà mình đưa ra là hợp lý, sự thực thì chúng
ta lại mắc phải những thành kiến. Ít nhất cuốn sách cũng đem
đến cho người đọc cơ hội tốt hơn để tránh những sai lầm hay
giảm thiểu chúng.”
_ Larry Swedroe, CBS News.
“Daniel Kahneman đã thể hiện một cách mạnh mẽ trong cuốn
sách mới của mình về việc làm thế nào để con người dễ dàng
tách khỏi sự hợp lý.”
_ Christopher Shea, The Washington Post.
“Lỗi lạc … Từ này không thể nói hết được tầm quan trọng của
những đóng góp của Daniel Kahnememan trong việc hiểu cách
thức chúng ta tư duy và lựa chọn. ông đứng giữa những người
khổng lồ, một tay thợ dệt với những sợi chỉ của Charles
Darwin, Adam Smith và Sigmund Freud. Giống như các nhà
tâm lý học quan trọng bậc nhất trong lịch sử nhân loại,
Kahneman đã định hình lại tâm lý học nhận thức, phân tích
tính hợp lý và lý trí, hiểu biết về nguy cơ, nghiên cứu về hạnh
phúc và an sinh… Một tác phẩm kiệt xuất, gây ấn tượng mạnh
mẽ trong chính tham vọng của nó, truyền tải rất nhiều kiến
thức, sự khôn ngoan với tâm thái hết sức khiêm tốn và nhân
văn sâu sắc. Nếu trong năm nay bạn chỉ được đọc một cuốn
sách, tôi khuyên bạn nên chọn cuốn này.”
_ Janice Gross Stein, The Globe and Mail.
“Một câu chuyện hết sức sâu sắc và hấp dẫn, là sự hòa quyện
giữa những nghiên cứu của mình và của các nhà tâm lý học,
kinh tế và chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác… Kahneman
đã mất hàng thập kỷ để nghiên cứu và chắt lọc những giá trị đó
để đem lại biết bao điều thú vị, hấp dẫn cho độc giả. Đây thực
sự là một cuốn sách rất đáng đọc. Bởi lẽ nó không phải là một
cuốn sách khoa học bình thường, chỉ có một vài chương đầu
tiên hữu ích, thú vị, còn các chương sau lại rất tẻ nhạt. Cuốn
sách này là một trường hợp ngoại lệ hiếm hoi. Toàn bộ cuốn
sách là sự hấp dẫn khó tả và chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng
những điều đó vào cuộc sống hàng ngày. Tất cả mọi người đều
nên đọc nó.”
_ Jesse Signal, Boston Globe.
“Quả thực, chúng tả cần phải biết ơn sâu sắc tác giả
Kahneman vì đã đem đến cho chúng ta một cuốn sách hết sức
thú vị. Nó giúp ta hiểu được các khía cạnh thực tế trong tính
cách, bản chất của chính mình.”
_ Freeman Dyson, The New York Review of Books.
“Có nhiều cuốn sách hay về nhận thức lý tính và cảm tính của
con người, nhưng chỉ có một kiệt tác. Kiệt tác đó chính là cuốn
sách “Tư duy nhanh và chậm” của Daniel Kahneman. Đây là
một trong những công trình nghiên cứu đồ sộ nhất, hấp dẫn về
nhận thức của con người mà tôi từng đọc”.
_ William Easterly, Financial Times.
Tôi có một ấn tượng đặc biệt với Tư duy Do Thái. Ai cũng cho
rằng người Do Thái thông minh đặc biệt. Những năm tôi học
tập tại trường đại học và làm nghiên cứu sinh, sinh viên Do
Thái dường như lúc nào cũng là những người đứng đầu lớp.
Cách tư duy của người Do Thái luôn khiến chúng ta bất ngờ
và luôn tự hỏi về đằng sau hệ thống tư duy đó là gì? Chúng tôi
có may mắn được làm việc với nhiều người Do Thái lỗi lạc.
Khi được hỏi, tại sao người Do Thái lại thông minh như vậy.
Tôi nhận được trả lời rằng đó chính là do nền văn hóa và cách
giáo dục đã đem lại hệ thống tư duy tốt chứ không phải gen di
truyền. Thật vậy, nếu bạn đến đất nước Israel, bạn sẽ thấy
người Do Thái cũng có đủ màu da, chủng tộc khác nhau.
Chính các yếu tố hệ thống trong tư duy được truyền lại qua
văn hóa và giáo dục đã khiến cho những người Do Thái trở
nên khác biệt.
Daniel Kahneman, một người Do Thái điển hình và là nhà tâm
lý học xuất chúng đã từng được trao giải Nobel kinh tế học
năm 2002. Qua tác phẩm này, Daniel Kahneman dẫn dắt
chúng ta về với quá trình khám phá, nghiên cứu hơn 30 năm
của ông và đồng nghiệp, với rất nhiều thí nghiệm được thiết kế
thông minh và chính xác. Thành quả của những năm tháng lao
động miệt mài đó chính lời giải về cách thức chúng ta cảm
nhận thế giới và tương tác với chúng như thế nào. Đó là cách
thức mà não chúng ta vận hành, với 2 hệ thống mà Daniel
Kahneman gọi là Hệ thống 1 và Hệ Thống 2. Nếu như Hệ
thống 1 với cơ chế nghĩ nhanh, tự động, cảm tính, rập khuôn
và tiềm thức thì Hệ thống 2 lại có cơ chế nghĩ chậm, đòi hỏi
nỗ lực, dùng logic, có tính toán và ý thức. Hệ thống 2 chính là
cách mà cá nhân chúng ta nghĩ về cái tôi, bản ngã. Và cơ chế 1
được não vận hành thường xuyên, trong khi đó cơ chế 2 lại ít
khi được sử dụng đến.
Cơ chế hoạt động của 2 hệ thống trong 1 con người, khi được
nhìn nhận trên quy mô lớn hơn, có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt
động kinh tế xã hội. Hai hệ thống này chính là con người Kinh
tế hư cấu sống trên mảnh đất lý thuyết và con người Hành
động trong thế giới thực tại. Các tổ chức, bằng cách nào đó
cũng đang áp dụng các hình thức tương tự như các hệ thống
này ở cấp độ cá nhân. Họ tránh đưa ra các quyết định sai lầm
bằng các quy trình đã được khoa học hóa & hệ thống hóa,
đồng thời cho phép phản biện mang tính xây dựng.
Tôi tin rằng cuốn sách này sẽ đem lại nhiều kiến thức bổ ích
giúp chúng ta hiểu được năng lực tư duy của chính mình và
phát huy nó.
Chủ tịch Tập đoàn FPT
Trương Gia Bình
Lời giới thiệu
Nguyễn Văn Tuấn
- Giáo sư y khoa, Viện nghiên cứu y khoa
và Đại học New South Wales, Sydney, Australia.
Bạn đọc đang cầm trên tay một cuốn sách hay. Hay từ nội
dung, hàm lượng thông tin học thuật, đến văn phong. Nếu có
một tác phẩm nào giúp cho chúng ta - bạn và tôi - hiểu hơn về
chính mình, thì đây là một tác phẩm như thế. Bằng một văn
phong đơn giản, trong sáng và có khi dí dỏm, Giáo sư Daniel
Kahneman dẫn dắt bạn qua hàng loạt thí nghiệm tâm lý xã hội
mà ông và đồng nghiệp đã thực hiện trong suốt bốn thập niên
qua. Kết quả của những thí nghiệm được đúc kết trong quyển
sách này. Những kết quả thí nghiệm đó sẽ thách thức suy nghĩ
của bạn, đồng thời cung cấp những kiến thức uyên bác để bạn
có thể hiểu về hành vi của mình và của những người xung
quanh. Cái hay của quyển sách không chỉ là hàm lượng tri
thức học thuật mà còn mang tính giải trí. Đọc đến chương cuối
cùng và gấp quyển sách lại, bạn đọc sẽ cảm thấy tiếc nuối rằng
tại sao mình không biết những thông tin này sớm hơn!
Nói đến sách mà không đề cập đến tác giả là một thiếu sót lớn.
Tác giả Daniel Kahneman là giáo sư tâm lý học thuộc Đại học
Princeton. ông được xem là một nhà tâm lý học vĩ đại nhất
trên thế giới còn sống. ông là người gốc Do Thái, tốt nghiệp
tâm lý học từ Đại học Jerusalem (1954), và phục vụ trong
quân đội Do Thái như một chuyên gia tâm lý. Năm 1958 ông
sang Mỹ học và tốt nghiệp tiến sĩ tâm lý học ở Đại học
California, Berkeley (1958). Cùng với người đồng nghiệp thân
thiết là Giáo sư Amos Tversky (Đại học Stanford), ông đã thực
hiện hàng loạt thí nghiệm tâm lý và có nhiều phát hiện rất
quan trọng về hành vi con người. Nhờ những công trình đột
phá đó, năm 2002, ông được trao giải thưởng Nobel về kinh tế
vì những phát kiến về lý thuyết viễn cảnh (Prospect Theory).
Giáo sư Tversky không may mắn qua đời vào năm 1996, nên
không có “duyên” với giải Nobel mà đáng lẽ ra ông đã cùng
Kahneman chia sẻ. Có thể nói không ngoa rằng cuốn sách bạn
đang cầm trên tay là một đúc kết những nghiên cứu đẳng cấp
Nobel.
Người viết bài này “làm quen” với những công trình nghiên
cứu của Kahneman và Tversky từ đầu thập niên 2000. Lúc đó,
tôi mới bắt đầu một dự án nghiên cứu về nguy cơ gãy xương
theo nguyên lý cá nhân hoá điều trị (personalized medicine).
Vấn đề được đặt ra là truyền đạt thông tin về nguy cơ đến
bệnh nhân như thế nào để có hiệu quả nhất, và tại sao dù có
nhiều thuốc điều trị loãng xương rất có hiệu quả và an toàn,
nhưng bệnh nhân không chịu dùng thuốc. Những thí nghiệm
cực kỳ sáng tạo và lý thú của Kahneman và Tversky đã soi
sáng và cung cấp cho tôi rất nhiều câu trả lời. Đọc những gì
Kahneman viết, tôi thấy hình như ông biết rất nhiều về tôi! Do
đó, khi cuốn sách được ấn hành, tôi đã viết bài điểm sách trên
Thời báo Kinh tế Sài Gòn vào tháng 11 năm 2012, và nay tôi
rất hân hạnh giới thiệu cuốn sách này đến bạn đọc.
Cuốn sách có tựa đề là Tư duy nhanh và chậm (Thinking, fast
and slow). Tuy là sách dành cho đại chúng, nhưng trong đó tác
giả thuật lại những nghiên cứu tâm lý và xã hội học được thiết
kế một cách thông minh và kết quả làm cho bạn phải suy nghĩ
lại chính mình. Chẳng hạn như chúng ta vẫn tưởng rằng con
người vốn đầy lý trí, quyết định có suy tính cẩn thận, nhưng
Daniel Kahneman và Amos Tversky đã chứng minh trong
cuộc sống hàng ngày và cả đời sống kinh tế, chúng ta thường
quyết định một cách thiếu nhất quán, cảm tính, và chủ quan.
Kahneman chứng minh rằng chúng ta tệ hơn những gì chúng
ta tưởng: đó là chúng ta không biết những gì chúng ta không
biết!
Trong tác phẩm Tư duy nhanh và chậm, Kahneman mô tả hai
cách thức (hay nói đúng hơn là hai hệ thống) mà não chúng ta
vận hành. ông gọi đó là Hệ thống 1 và Hệ thống 2. Hệ thống 1,
còn gọi là cơ chế nghĩ nhanh, tự động, thường xuyên được sử
dụng, cảm tính, rập khuôn, và tiềm thức. Hệ thống 2, còn gọi
là cơ chế nghĩ chậm, đòi hỏi nỗ lực, ít được sử dụng, dùng
logic, có tính toán, và ý thức. Trong một loạt thí nghiệm tâm
lý, Kahneman và Tversky chứng minh rằng con người chúng
ta thường đi đến quyết định theo cơ chế nghĩ nhanh hơn là
nghĩ chậm. Phần lớn nội dung của cuốn sách là để chỉ ra
những sai lầm trong hệ thống 1.
Suy nghĩ nhanh, theo cách nói ví von của người Việt chúng ta,
là trông mặt mà bắt hình dong. Tức là một cơ chế suy nghĩ dựa
vào những tín hiệu sơ khởi, thay vì tính toán cẩn thận và suy
đoán dựa vào logic. Có thể liên tưởng về cơ chế nghĩ nhanh
qua vài ví dụ cụ thể. Khi lái xe gắn máy đến một ngã tư, chúng
ta có khi chỉ cần nhìn vào ánh mắt người lái xe đối diện để
quyết định có băng qua đường hay không. Hoặc trước thông
tin rằng tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở vùng nông thôn cao hơn
vùng thành thị, chúng ta có thể nghĩ ngay rằng vì dịch vụ y tế
ở vùng nông thôn kém hơn vùng thành thị. Nhưng nếu có
thông tin cho rằng tỷ lệ mắc bệnh ung thư vùng nông thôn thấp
hơn vùng thành thị, có lẽ chúng ta nghĩ rằng cư dân nông thôn
không sống trong môi trường ô nhiễm như cư dân thành thị,
nên cư dân nông thôn có nguy cơ ung thư thấp hơn thành thị.
Việc người dân di tản khỏi khu vực Sông Tranh II có lẽ là một
quyết định theo cơ chế nghĩ nhanh. Chính cơ chế suy nghĩ
nhanh này giúp cho con người tồn tại qua hàng triệu năm, dù
trong thực tế cũng sai lầm rất nhiều.
Những sai lầm trong cơ chế 1 được “chứng minh” qua hàng
loạt thí nghiệm rất nổi tiếng. Có lẽ thí nghiệm nổi tiếng nhất là
Vấn đề Linda. Trong thí nghiệm này, các đối tượng tham gia
nghiên cứu được cung cấp thông tin về một phụ nữ (hư cấu)
tên là Linda, 31 tuổi, độc thân, tính tình thẳng thắn, rất thông
minh, và thời còn là sinh viên triết ở đại học cô thường hay
quan tâm đến những vấn đề kỳ thị chủng tộc và bất bình đẳng
xã hội. Những người tham gia nghiên cứu được hỏi rằng Linda
là:
(a) một nhân viên phục vụ khách hàng ở ngân hàng (bank
teller);
hay
(b) là một bank teller và đấu tranh cho nữ quyền (feminist).
Phần lớn (85%) người tham gia nghiên cứu chọn câu trả lời (b)
là khả năng cao nhất. Nhưng câu trả lời đó vi phạm quy luật
xác suất! Kahneman và Tversky gọi sai lầm này là nghịch lý
liên hợp (Conjunction fallacy).
Trong một thí nghiệm khác, Kahneman và Tversky tiến hành
với một nhóm bác sĩ có kinh nghiệm trên 15 năm về một vấn
đề rất đơn giản như sau. Trong một cộng đồng có 1% nữ bị
bệnh ung thư. Các nhà khoa học có một phương pháp xét
nghiệm rất chính xác để phát hiện ung thư. Với phương pháp
này đối với những người mắc bệnh, xét nghiệm sẽ cho ra kết
quả dương tính 95%; đối với những người không mắc bệnh,
xét nghiệm sẽ cho ra kết quả âm tính 80%. Nếu một phụ nữ
trong cộng đồng đó đi xét nghiệm và có kết quả dương tính,
khả năng mà người phụ nữ đó mắc bệnh ung thư là bao nhiêu?
Đại đa số các bác sĩ cho rằng khả năng mắc bệnh là 90%.
Nhưng câu trả lời đó sai. Sai là vì bác sĩ (hay chúng ta nói
chung) lẫn lộn giữa xác suất mắc bệnh nếu kết quả dương tính
với xác suất có kết quả dương tính nếu cá nhân mắc bệnh.
Kahneman gọi đây là nghịch lý tỷ suất nền, và hệ quả là nhiều
bệnh nhân bị chẩn đoán sai, vì bác sĩ dùng cơ chế suy nghĩ
nhanh.
Trong một thí nghiệm nổi tiếng, Kahneman và Tversky cho
các đối tượng chọn một trong hai bao thư. Bao thư thứ nhất có
chắc chắn 200 đô-la; và bao thư thứ hai đòi hỏi đối tượng phải
tung một đồng xu, nếu mặt sấp xuất hiện thì được 400 đô-la,
mặt ngửa thì không có đồng nào. Kết quả cho thấy phần lớn
đối tượng tham gia nghiên cứu lựa chọn bao thư thứ nhất (dù
hai lựa chọn này thật ra có giá trị kỳ vọng y chang nhau)! Kết
quả này cho thấy chúng ta thích sự chắc chắn. Xu hướng này
dẫn Kahneman và Tversky phát triển lý thuyết viễn cảnh, và là
một công trình được trao giải Nobel Kinh tế năm 2002.
Một thí nghiệm cực kỳ độc đáo cho thấy chúng ta rất dễ bị chi
phối bởi con số lớn. Đối tượng nghiên cứu được đưa cho 2 lựa
chọn: (a) với phẫu thuật A, 90% sống sót; (b) với phẫu thuật
B, 10% tử vong. Phần lớn đối tượng chọn phẫu thuật A. Một
thí nghiệm tương tự, mà theo đó một nhóm đối tượng được
cho biết rằng xác suất mà họ mắc bệnh là 1 trên 10, một nhóm
khác được cho biết xác suất mắc bệnh là 100 trên 1000. Kết
quả cho thấy nhóm thứ hai có xu hướng chấp nhận điều trị hơn
nhóm thứ nhất, dù nguy cơ mắc bệnh của hai nhóm y chang
nhau! Kahneman và Tversky gọi đó là hiệu ứng khung
(framing effect).
Chúng ta thường đánh giá vấn đề qua việc tham khảo kinh
nghiệm nổi bật vào thời điểm gần nhất, chứ không phải xem
xét đến toàn bộ quá trình theo thời gian. Viết đến đây tôi chợt
nhớ đến một nhận xét của Nhạc sĩ Đức Huy rằng người ca sĩ
có thể bắt đầu bài hát không đạt, nhưng khi đoạn cuối bài hát
được diễn tả thành công thì khán giả sẽ xem đó là một trình
diễn thành công. Kahneman xem đây là điểm mà chúng ta rất
giống… chuột.
Nếu một nhà khoa học rất giỏi về một lĩnh vực nào đó (như
được trao giải Nobel y học), người ta thường giả định rằng nhà
khoa học đó cũng am hiểu tất cả những vấn đề khác, dù bản
thân nhà khoa học không nghĩ vậy. Điều này giải thích tại sao
khi cần tranh thủ vận động một vấn đề xã hội nào đó, người ta
thường tìm đến những ngôi sao điện ảnh, khoa học, thể
thao,… Kahneman gọi đó là hiệu ứng hào quang (halo effect)
cũng là một cơ chế suy nghĩ theo hệ thống 1.
Cuốn sách hay công trình nghiên cứu của Kahneman có nhiều
ý nghĩa cho các nhà hoạch định chính sách. Bài học là khi ra
chính sách hay những quy định có ảnh hưởng đến nhiều người
trong cộng đồng, cần phải vận dụng chứng cứ một cách cẩn
thận, chứ không nên cảm tính và bồng bột (theo hệ thống suy
nghĩ nhanh) vì dễ dẫn đến sai lầm. Chúng ta còn nhớ vụ cấm
buôn bán mắm tôm chỉ vì niềm tin rằng nhiều bệnh nhân tả
từng ăn mắm tôm trước đó, và kết luận rằng mắm tôm là
nguyên nhân gây dịch tả. Có thể xem đó là một suy nghĩ theo
hệ thống 1.
Không chỉ có ý nghĩa cho các nhà hoạch định chính sách, cuốn
sách còn có ích cho những người hành pháp. ý nghĩa từ những
hiệu ứng Linda, hiệu ứng khung, nghịch lý tỉ suất nền,… là
không thể và không nên trông mặt mà bắt hình dong, hay chỉ
dựa vào tín hiệu bề ngoài mà đi đến kết án hay kì thị một cá
nhân. Có trường hợp người ta lí giải rằng 60% những ca tội
phạm thiếu niên xuất phát từ những gia đình ly dị hay đổ vỡ,
và đi đến kết luận rằng ly dị là một nguyên nhân hay nguồn
gốc của tội phạm thiếu niên. Nhưng kết luận đó không logic và
rất có thể sai. Đó cũng là một nguỵ biện rất phổ biến
(prosecutor fallacy). Ngụy biện xảy ra là vì người ta lười suy
nghĩ, và vì lười biếng suy nghĩ nên người ta chỉ sử dụng hệ
thống 1 (mà không sử dụng hệ thống 2).
Ngày nay, ra nhà sách, chúng ta dễ dàng thấy khá nhiều sách
về hành vi con người. Nhiều sách hay với những ví dụ rất sống
động kèm theo những thí nghiệm được xem là tiên phong, rồi
lý giải đòi thay đổi chính sách, luật pháp, và cách kinh doanh.
Nhưng cuốn Tư duy nhanh và chậm thì khác, vì đây là cuốn
sách chỉ tập trung vào khoa học, với những trải nghiệm cá
nhân của tác giả. Mục tiêu của cuốn sách, như Kahneman viết,
là “làm giàu ngữ vựng cho mọi người” khi đi đến một quyết
định trong cuộc sống. Tác giả còn viết rằng ông kỳ vọng cuốn
sách sẽ giúp ích cho độc giả trong những câu chuyện phiếm và
trao đổi - hay nói theo Nguyễn Du là mua vui cũng được một
vài trống canh. Tôi nghĩ tác giả đã vượt ra mục tiêu khiêm tốn
đó. Đây là cuốn sách mà bất kỳ ai đọc cũng sẽ thấy hào hứng
ngay từ chương đầu, và kết thúc với sự sảng khoái, làm cho
chúng ta hiểu về chính mình nhiều hơn. Một cuốn sách như
thế nên được có mặt trên giá sách của những ai quan tâm đến
hành vi và kinh tế.
Xin trân trọng giới thiệu!
Mở đầu
Tôi cho rằng bất kỳ tác giả nào, khi viết một cuốn sách đều
hình dung sẵn trong đầu những lợi ích mà độc giả sẽ lĩnh hội
được sau khi đọc nó. Với tôi, lợi ích của việc đọc sách được ẩn
dụ dưới hình ảnh chiếc bàn uống nước được đặt trong các văn
phòng - nơi mọi người thường ngồi trao đổi ý kiến, hay truyền
tai nhau những câu chuyện phiếm. Tôi hy vọng, cuốn sách này
sẽ làm giàu vốn ngữ vựng cho độc giả mỗi khi đi đến một vài
quyết định nhanh trong cuộc sống như: Khi chúng ta bàn về
những phán đoán và lựa chọn của người khác, hoặc những
chính sách mới của công ty, hay những quyết định đầu tư của
một đồng nghiệp. Tại sao chúng ta lại quan tâm đến những câu
chuyện phiếm? Bởi “kể tội” hay “nói xấu” người khác bao giờ
cũng dễ dàng và thích thú hơn là tự nhận ra lỗi lầm của chính
mình. Ngay cả trong những điều kiện thuận lợi nhất, đặt câu
hỏi đối với những gì ta hằng tin tưởng và ham muốn là vô
cùng khó khăn nhưng may mắn là chúng ta có thể tiếp thu
được những ý kiến từ người khác. Rất nhiều người trong số
chúng ta, tự nhiên đoán trước được phản ứng và dự đoán của
bạn bè, đồng nghiệp về các lựa chọn của mình; vì vậy giá trị
và nội dung của những câu chuyện phiếm lại trở thành những
chủ đề “nóng” xoay quanh chiếc bàn uống nước. Những câu
chuyện phiếm hữu ích là động cơ thúc đẩy con người ta tự phê
bình và nhìn nhận bản thân một cách nghiêm túc hơn, đôi khi
lợi ích mà những câu chuyện phiếm này mang lại còn có tác
dụng hơn cả bản kế hoạch đánh giá hàng năm của mỗi chúng
ta.
Muốn trở thành một bác sĩ giỏi thì người thầy thuốc phải hiểu
rõ rất nhiều loại bệnh với những triệu chứng kèm theo trước và
sau khi phát bệnh, cũng như phải phán đoán được nguyên
nhân và hậu quả của bệnh, thậm chí có thể đưa ra cả phác đồ
điều trị cho bệnh đó. Học nghề thuốc đòi hỏi người thầy thuốc
phải học cả thuật ngữ của y khoa. Càng hiểu sâu về các phán
đoán và lựa chọn sẽ càng đòi hỏi chúng ta phải sử dụng vốn từ
vựng phong phú hơn so với ngôn ngữ thường ngày. Mặt tích
cực của những câu chuyện phiếm là nó giúp chúng ta nhận biết
được những sai lầm mà con người thường mắc phải. Chúng
chính là những lỗi sai hệ thống và được lặp đi lặp lại một cách
có chủ đích trong một số hoàn cảnh nhất định. Ví dụ, khi một
diễn giả điển trai và tự tin bước lên sân khấu, bạn có thể dự
đoán được rằng khán giả sẽ dành cho bài diễn thuyết của anh
ta nhiều cảm tình hơn so với tài năng diễn thuyết của anh ta.
Khả năng chẩn đoán những sai lệch này còn gọi là Hiệu ứng
hào quang và nhờ có Hiệu ứng hào quang, những bàn luận và
những trao đổi xung quanh câu chuyện phiếm của chúng ta sẽ
trở nên dễ đoán, dễ nhận ra và dễ hiểu hơn.
Nếu có ai hỏi bạn đang nghĩ gì, bạn sẽ trả lời được câu hỏi đó
một cách dễ dàng. Bạn tin rằng bạn biết được trí não của mình
được vận hành bằng một ý nghĩ chủ đạo, tuần tự dẫn dắt bạn đi
từ suy nghĩ này sang suy nghĩ khác. Tuy nhiên, đó không phải
là cách hoạt động duy nhất, càng không phải là cách hoạt động
điển hình của trí não. Hầu hết mọi ấn tượng và suy nghĩ của
bạn thường diễn ra trong trí não theo cách mà bạn không sao
biết được. Bạn không thể lý giải được vì sao bạn lại tin là trên
mặt bàn có một chiếc đèn, hoặc làm sao bạn lại cảm thấy
giọng nói của người bạn đời trên điện thoại có thoáng chút hờn
ghen, hoặc xoay xở thế nào bạn có thể tránh một tai nạn trên
đường đi khi nó chưa thực sự xảy ra mà chỉ bằng linh cảm của
bạn. Rất nhiều những quyết định được hình thành một cách
lặng lẽ bên trong đầu óc của bạn và khi trí óc của bạn hoạt
động sẽ sinh ra những cảm xúc và những trực giác.
Cuốn sách này bàn rất nhiều về sự sai lệch của trực giác trong
trí óc của con người. Tuy vậy, tập trung vào sự sai lệch không
nhằm mục đích bôi nhọ nhận thức của loài người, giống như
các nghiên cứu y học, sự quan tâm nghiên cứu các căn bệnh
không nằm ngoài mục đích mang lại sức khỏe tốt hơn cho loài
người. Thông thường hầu hết chúng ta đều khỏe mạnh và hầu
hết những phán đoán và hành động của chúng ta đều đúng đắn.
Chúng ta làm chủ cuộc sống của mình, nên tự thân chúng ta
tuân theo những ấn tượng và cảm xúc của cá nhân và tự tin
rằng niềm tin bản năng, cũng như sở thích của bản thân
thường là đúng đắn. Nhưng không hẳn thế, chúng ta vẫn tự tin
ngay cả khi mắc sai lầm và thường những người khác dễ phát
hiện ra sai lầm đó hơn là bản thân chúng ta.
Những phát hiện này chính là mục đích của tôi khi đề cập tới
câu chuyện phiếm ở trên, nhằm nâng cao khả năng nhận thức
của bản thân khi đưa ra các dự đoán và lựa chọn của người
khác bằng việc cung cấp một thứ ngôn ngữ phong phú hơn,
chính xác hơn khi thảo luận. Bởi vì ít nhất trong một vài
trường hợp, một chẩn đoán chính xác có thể đưa ra một giải
pháp để giảm thiểu thiệt hại do những phán đoán và lựa chọn
sai lầm của chúng ta gây ra.
NGUỒN GỐC
Cuốn sách này trình bày những hiểu biết của tôi về sự phán
đoán và ra quyết định, vốn là những lĩnh vực đã được các nhà
tâm lý học nghiên cứu sâu trong vài thập kỷ trở lại đây. Tuy
nhiên, tôi bắt đầu theo đuổi ý tưởng nghiên cứu này vào một
ngày may mắn của năm 1969, khi tôi mời Amos - một đồng
nghiệp của tôi đến nói chuyện ở buổi thảo luận, tại khoa Tâm
lý học của trường Đại học Hebrew ở Jerusalem - nơi tôi dạy
học khi đó. Amos Tversky khi ấy được đánh giá là ngôi sao
mới nổi chuyên nghiên cứu về việc ra quyết định, mà thực ra
tôi nghĩ ông ấy là ngôi sao trong mọi lĩnh vực nghiên cứu mà
ông tham gia thì đúng hơn, vì thế tôi hình dung chúng tôi sẽ có
một buổi nói chuyện rất thú vị. Nhiều người biết Amos đều
nghĩ ông là người thông minh nhất mà họ từng gặp. ông xuất
sắc, linh hoạt và cuốn hút. ông được ban tặng một trí nhớ tuyệt
vời, cùng với cách nói chuyện hài hước và khả năng sử dụng
chúng một cách nhuần nhuyễn; sẽ không bao giờ cảm thấy
buồn chán khi có Amos ở bên cạnh. Vào thời điểm này Amos
mới 32 tuổi, còn tôi 35 tuổi.
Bài giảng của Amos hôm đó trình bày về một chương trình
nghiên cứu đang được tiến hành ở Đại học Michigan, nhằm trả
lời cho câu hỏi: Con người có phải là những nhà thống kê trực
quan tài ba? Như các bạn biết đấy, chúng ta vốn đều là những
nhà ngôn ngữ học tự nhiên: Một đứa trẻ bốn tuổi không cần cố
gắng cũng có thể tự thiết lập được những cấu trúc ngữ pháp
khi nói, mặc dù chúng chẳng có ý niệm gì về sự tồn tại của
những cấu trúc ngữ pháp ấy cả. Liệu con người có bản năng
trực giác tương tự đối với những nguyên tắc cơ bản của các
phép tính thống kê? Amos đã trả lời rằng, chắc chắn con người
có khả năng đó. Sau buổi hội thảo này, chúng tôi kết luận lại
không có câu trả lời nào hợp lý hơn câu trả lời trên, rằng con
người có khả năng làm phép tính thống kê.
Amos và tôi đều hứng thú với buổi thảo luận và kết luận rằng
thống kê trực quan là một chủ đề hấp dẫn và rất tuyệt nếu cả
hai cùng tiếp tục nghiên cứu. Thứ Sáu của tuần ấy, chúng tôi
ăn trưa tại quán Cafe Rimon - nơi gặp gỡ yêu thích của giới
nghệ sĩ và các giáo sư ở Jerusalem. Tại đây chúng tôi đã lên kế
hoạch nghiên cứu về khả năng thống kê trực quan của một số
nhà nghiên cứu thực nghiệm điển hình. Kết luận trong lần thảo
luận trước đó (tại buổi thảo luận ở Đại học Hebrew) chỉ bằng
trực giác của chúng tôi thôi là chưa đủ. Cho dù đã có nhiều
năm kinh nghiệm nghiên cứu và làm việc với các số liệu,
chúng tôi vẫn chưa có được nhạy cảm bản năng để đưa ra phán
đoán chuẩn xác cho những kết quả thống kê được quan sát dựa
trên nhóm mẫu quá nhỏ. Vẫn còn rất nhiều những sai lệch
trong những nhận định chủ quan của chúng tôi. Khi mà chúng
tôi quá hào hứng tin tưởng vào các kết quả nghiên cứu dựa
trên những chứng cứ không đầy đủ và quá đề cao hoạt động
thu thập dữ liệu dựa trên những quan sát của những nhóm mẫu
quá nhỏ. Mục tiêu của nghiên cứu này là để kiểm chứng xem
liệu những nhà nghiên cứu khác có chung những suy nghĩ như
chúng tôi không?
Chúng tôi đã chuẩn bị một cuộc điều tra trong đó đã phác thảo
bộ khung cho những vấn đề thường xuất hiện trong các nghiên
cứu. Amos đi thu thập các câu trả lời của một nhóm chuyên
gia trong một cuộc họp của Hiệp hội Tâm lý Toán học, trong
đó có cả hai nhà viết sách giáo khoa thống kê. Đúng như mong
đợi, chúng tôi phát hiện ra rằng những chuyên gia này cũng
như chúng tôi, đã phóng đại quá mức xác suất đúng các kết
quả gốc của một thí nghiệm chỉ dựa trên lượng mẫu quá nhỏ,
mà ngay cả khi nhân lên nhiều lần kết quả ấy cũng không thay
đổi. Các nhà khoa học này cũng khuyến cáo đến sinh viên cần
phải phân tích đủ mức tối thiểu lượng mẫu được quan sát trong
thí nghiệm, bởi vì ngay cả những chuyên gia của ngành Thống
kê học cũng không phải là những nhà thống kê trực quan tài
ba.
Trong khi viết báo cáo về phát hiện này, cả Amos và tôi đều
cảm nhận là thật thú vị khi được làm việc cùng nhau. Amos
luôn hài hước và nhờ sự có mặt của ông, tôi cũng trở nên vui
tính hơn, vì thế chúng tôi đã có nhiều thời gian làm việc
nghiêm túc trong bầu không khí vui nhộn. Chính niềm vui mà
chúng tôi tìm thấy trong việc hợp tác khiến cả hai trở nên kiên
nhẫn hơn; bạn cũng vậy - sẽ dễ dàng đặt toàn tâm vào công
việc hơn khi không bao giờ cảm thấy buồn chán. Cũng có thể,
điều quan trọng nhất là chúng tôi đã khám phá ra vũ khí bí
mật, chính là tính cách của cả hai đã hỗ trợ rất tốt cho nhau
trong công việc. Cả Amos và tôi cùng là những người vô cùng
hiếu thắng và hay lý lẽ, thậm chí ông ấy còn cực đoan hơn cả
tôi nhưng trong suốt những năm cộng tác, chưa bao giờ người
này bác bỏ bất cứ ý kiến nào của người kia. Thực vậy, một
trong những niềm hạnh phúc nhất mà tôi có được khi làm việc
cùng Amos, đó là những gì chúng tôi thu được đã trở thành tài
sản quý giá nhất mà cả hai cùng tích luỹ được.
Nghiên cứu của chúng tôi dưới dạng những cuộc đối thoại,
trong đó chúng tôi tạo ra những câu hỏi và cùng nhau kiểm
chứng chúng bằng những câu trả lời dựa trên trực giác. Mỗi
câu hỏi là một thí nghiệm nhỏ và mỗi ngày chúng tôi thực hiện
rất nhiều thí nghiệm như thế. Chúng tôi không thực sự đi tìm
đáp án đúng cho những câu hỏi thống kê mà mình đặt ra đó.
Mục tiêu của chúng tôi là nhận dạng và phân tích các câu trả
lời bằng trực giác - ập đến tức thì trong đầu, những đáp án nảy
sinh ngay lập tức, ngay cả khi chúng tôi biết đó là một đáp án
sai. Chúng tôi tin tưởng tuyệt đối rằng một khi có bất cứ đáp
án trực giác nào bật ra trong trí não của cả hai chúng tôi, thì
hẳn là cũng sẽ có rất nhiều người khác có chung những suy
nghĩ đó và từ kết luận này, sẽ dễ dàng chỉ ra những ảnh hưởng
của trực giác lên các phán đoán của chúng ta như thế nào.
Một lần, chúng tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận ra rằng, cả
hai cùng có những suy nghĩ ngốc nghếch liên quan đến nghề
nghiệp tương lai của những em bé mà cả hai cùng biết, như là
cả hai cùng nhận ra một “luật sư ba tuổi hay lý luận,” hoặc
một “giáo sư mọt sách,” hay một “nhà tâm lý học cảm thông
và dịu dàng”. Tất nhiên, những tiên đoán này rất ngớ ngẩn
nhưng chúng tôi vẫn thấy chúng thật hấp dẫn. Rõ ràng trực
giác của chúng ta đã bị dẫn dắt bởi tập hợp những khuôn mẫu
về một nghề nghiệp nhất định nào đó. Bài tập thú vị này đã
giúp chúng tôi phát triển một giả thuyết về vai trò của sự
tương đồng trong các dự đoán ở mỗi thực nghiệm mà chúng
tôi tiến hành. Chúng tôi quyết định kiểm tra và thử nghiệm giả
thuyết ấy bằng cách chia nhỏ giả thuyết ấy thành hàng tá
những thí nghiệm nhỏ, sau đây là một ví dụ:
Giả thuyết là cậu bé Steve được lựa chọn ngẫu nhiên trong số
những mẫu thí nghiệm:
Cậu bé được một người hàng xóm mô tả như sau: “Steve rất
bẽn lẽn và khép kín, sẵn lòng giúp đỡ người khác nhưng
không mấy quan tâm tới mọi người hay thế giới xung quanh.”
Vậy sau này Steve sẽ trở thành một anh thủ thư hay một anh
nông dân?
Những đặc điểm tương đồng trong tính cách của Steve khiến
mọi người lập tức nghĩ rằng cậu sẽ làm nghề thủ thư, dự đoán
này không hề dựa trên số liệu thống kê thực tế. Đã bao giờ bạn
quan tâm kết quả thống kê thực tế trên toàn nước Mỹ là tỷ lệ
những người nông dân là nam giới nhiều gấp 20 lần so với tỷ
lệ những người nam giới làm nghề thủ thư? Và bởi vì số người
làm nông dân nhiều hơn rất nhiều số người làm thủ thư, nên
chắc chắn những người “nhu mì và gọn ghẽ” ngồi trong xe kéo
được mô phỏng ở ví dụ trên sẽ nhiều hơn số người ngồi sau
bàn thủ thư. Tuy vậy, chúng tôi nhận thấy những người tham
gia thí nghiệm đều phớt lờ các con số thống kê thực tế và lệ
thuộc hoàn toàn vào các yếu tố tương đồng trong các dự đoán.
Chúng tôi đưa ra giả thuyết là họ đã biến sự tương đồng thành
một suy nghiệm đơn giản hóa (nói ngắn gọn là suy đoán dựa
theo kinh nghiệm) khi đưa ra một phán đoán khó khăn nhằm
chỉ ra các dự đoán của họ. Việc phụ thuộc vào kinh nghiệm cá
nhân chính là nguyên nhân tạo ra những sai lệch có thể đoán
trước (những lỗi sai hệ thống) trong các phỏng đoán của họ.
Trong một lần khác, Amos và tôi đặt vấn đề về tỷ lệ ly hôn
giữa các giảng viên trong trường Đại học của chúng tôi. Khi
đặt ra câu hỏi này chúng tôi bắt đầu rà soát trong trí nhớ về
những giảng viên đã ly hôn mà mình biết hoặc nghe nói tới, từ
đó dự đoán xem số lượng này có lớn không. Chúng tôi gọi sự
phụ thuộc vào khả năng rà soát của trí nhớ là một suy nghiệm
thực tế. Ở một số nghiên cứu khác, chúng tôi để người tham
gia trả lời một câu hỏi đơn giản về từ vựng trong một đoạn
ngữ văn Anh điển hình như sau:
Hãy nghĩ về chữ cái K.
Chữ cái K thường xuất hiện ở vị trí đầu tiên HAY vị trí thứ ba
trong một từ?
Bất cứ người nào hay chơi trò sắp chữ Scrabble đều biết, để
tìm một từ bắt đầu bằng một ch...
TƯ DUY NHANH VÀ CHẬM
Bản quyền tiếng Việt © 2013 Công ty Sách Alpha
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net.com
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua
sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả,
người dịch và Nhà Xuất Bản
Những lời tán dương cuốn sách
“Với những ai quan tâm đến đầu tư hoặc hành vi con người,
cuốn sách của Kahneman là một cuốn đáng đọc. Trong cuốn
sách này, ông chỉ ra rằng trong khi chúng ta luôn cho rằng
những quyết định mà mình đưa ra là hợp lý, sự thực thì chúng
ta lại mắc phải những thành kiến. Ít nhất cuốn sách cũng đem
đến cho người đọc cơ hội tốt hơn để tránh những sai lầm hay
giảm thiểu chúng.”
_ Larry Swedroe, CBS News.
“Daniel Kahneman đã thể hiện một cách mạnh mẽ trong cuốn
sách mới của mình về việc làm thế nào để con người dễ dàng
tách khỏi sự hợp lý.”
_ Christopher Shea, The Washington Post.
“Lỗi lạc … Từ này không thể nói hết được tầm quan trọng của
những đóng góp của Daniel Kahnememan trong việc hiểu cách
thức chúng ta tư duy và lựa chọn. ông đứng giữa những người
khổng lồ, một tay thợ dệt với những sợi chỉ của Charles
Darwin, Adam Smith và Sigmund Freud. Giống như các nhà
tâm lý học quan trọng bậc nhất trong lịch sử nhân loại,
Kahneman đã định hình lại tâm lý học nhận thức, phân tích
tính hợp lý và lý trí, hiểu biết về nguy cơ, nghiên cứu về hạnh
phúc và an sinh… Một tác phẩm kiệt xuất, gây ấn tượng mạnh
mẽ trong chính tham vọng của nó, truyền tải rất nhiều kiến
thức, sự khôn ngoan với tâm thái hết sức khiêm tốn và nhân
văn sâu sắc. Nếu trong năm nay bạn chỉ được đọc một cuốn
sách, tôi khuyên bạn nên chọn cuốn này.”
_ Janice Gross Stein, The Globe and Mail.
“Một câu chuyện hết sức sâu sắc và hấp dẫn, là sự hòa quyện
giữa những nghiên cứu của mình và của các nhà tâm lý học,
kinh tế và chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác… Kahneman
đã mất hàng thập kỷ để nghiên cứu và chắt lọc những giá trị đó
để đem lại biết bao điều thú vị, hấp dẫn cho độc giả. Đây thực
sự là một cuốn sách rất đáng đọc. Bởi lẽ nó không phải là một
cuốn sách khoa học bình thường, chỉ có một vài chương đầu
tiên hữu ích, thú vị, còn các chương sau lại rất tẻ nhạt. Cuốn
sách này là một trường hợp ngoại lệ hiếm hoi. Toàn bộ cuốn
sách là sự hấp dẫn khó tả và chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng
những điều đó vào cuộc sống hàng ngày. Tất cả mọi người đều
nên đọc nó.”
_ Jesse Signal, Boston Globe.
“Quả thực, chúng tả cần phải biết ơn sâu sắc tác giả
Kahneman vì đã đem đến cho chúng ta một cuốn sách hết sức
thú vị. Nó giúp ta hiểu được các khía cạnh thực tế trong tính
cách, bản chất của chính mình.”
_ Freeman Dyson, The New York Review of Books.
“Có nhiều cuốn sách hay về nhận thức lý tính và cảm tính của
con người, nhưng chỉ có một kiệt tác. Kiệt tác đó chính là cuốn
sách “Tư duy nhanh và chậm” của Daniel Kahneman. Đây là
một trong những công trình nghiên cứu đồ sộ nhất, hấp dẫn về
nhận thức của con người mà tôi từng đọc”.
_ William Easterly, Financial Times.
Tôi có một ấn tượng đặc biệt với Tư duy Do Thái. Ai cũng cho
rằng người Do Thái thông minh đặc biệt. Những năm tôi học
tập tại trường đại học và làm nghiên cứu sinh, sinh viên Do
Thái dường như lúc nào cũng là những người đứng đầu lớp.
Cách tư duy của người Do Thái luôn khiến chúng ta bất ngờ
và luôn tự hỏi về đằng sau hệ thống tư duy đó là gì? Chúng tôi
có may mắn được làm việc với nhiều người Do Thái lỗi lạc.
Khi được hỏi, tại sao người Do Thái lại thông minh như vậy.
Tôi nhận được trả lời rằng đó chính là do nền văn hóa và cách
giáo dục đã đem lại hệ thống tư duy tốt chứ không phải gen di
truyền. Thật vậy, nếu bạn đến đất nước Israel, bạn sẽ thấy
người Do Thái cũng có đủ màu da, chủng tộc khác nhau.
Chính các yếu tố hệ thống trong tư duy được truyền lại qua
văn hóa và giáo dục đã khiến cho những người Do Thái trở
nên khác biệt.
Daniel Kahneman, một người Do Thái điển hình và là nhà tâm
lý học xuất chúng đã từng được trao giải Nobel kinh tế học
năm 2002. Qua tác phẩm này, Daniel Kahneman dẫn dắt
chúng ta về với quá trình khám phá, nghiên cứu hơn 30 năm
của ông và đồng nghiệp, với rất nhiều thí nghiệm được thiết kế
thông minh và chính xác. Thành quả của những năm tháng lao
động miệt mài đó chính lời giải về cách thức chúng ta cảm
nhận thế giới và tương tác với chúng như thế nào. Đó là cách
thức mà não chúng ta vận hành, với 2 hệ thống mà Daniel
Kahneman gọi là Hệ thống 1 và Hệ Thống 2. Nếu như Hệ
thống 1 với cơ chế nghĩ nhanh, tự động, cảm tính, rập khuôn
và tiềm thức thì Hệ thống 2 lại có cơ chế nghĩ chậm, đòi hỏi
nỗ lực, dùng logic, có tính toán và ý thức. Hệ thống 2 chính là
cách mà cá nhân chúng ta nghĩ về cái tôi, bản ngã. Và cơ chế 1
được não vận hành thường xuyên, trong khi đó cơ chế 2 lại ít
khi được sử dụng đến.
Cơ chế hoạt động của 2 hệ thống trong 1 con người, khi được
nhìn nhận trên quy mô lớn hơn, có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt
động kinh tế xã hội. Hai hệ thống này chính là con người Kinh
tế hư cấu sống trên mảnh đất lý thuyết và con người Hành
động trong thế giới thực tại. Các tổ chức, bằng cách nào đó
cũng đang áp dụng các hình thức tương tự như các hệ thống
này ở cấp độ cá nhân. Họ tránh đưa ra các quyết định sai lầm
bằng các quy trình đã được khoa học hóa & hệ thống hóa,
đồng thời cho phép phản biện mang tính xây dựng.
Tôi tin rằng cuốn sách này sẽ đem lại nhiều kiến thức bổ ích
giúp chúng ta hiểu được năng lực tư duy của chính mình và
phát huy nó.
Chủ tịch Tập đoàn FPT
Trương Gia Bình
Lời giới thiệu
Nguyễn Văn Tuấn
- Giáo sư y khoa, Viện nghiên cứu y khoa
và Đại học New South Wales, Sydney, Australia.
Bạn đọc đang cầm trên tay một cuốn sách hay. Hay từ nội
dung, hàm lượng thông tin học thuật, đến văn phong. Nếu có
một tác phẩm nào giúp cho chúng ta - bạn và tôi - hiểu hơn về
chính mình, thì đây là một tác phẩm như thế. Bằng một văn
phong đơn giản, trong sáng và có khi dí dỏm, Giáo sư Daniel
Kahneman dẫn dắt bạn qua hàng loạt thí nghiệm tâm lý xã hội
mà ông và đồng nghiệp đã thực hiện trong suốt bốn thập niên
qua. Kết quả của những thí nghiệm được đúc kết trong quyển
sách này. Những kết quả thí nghiệm đó sẽ thách thức suy nghĩ
của bạn, đồng thời cung cấp những kiến thức uyên bác để bạn
có thể hiểu về hành vi của mình và của những người xung
quanh. Cái hay của quyển sách không chỉ là hàm lượng tri
thức học thuật mà còn mang tính giải trí. Đọc đến chương cuối
cùng và gấp quyển sách lại, bạn đọc sẽ cảm thấy tiếc nuối rằng
tại sao mình không biết những thông tin này sớm hơn!
Nói đến sách mà không đề cập đến tác giả là một thiếu sót lớn.
Tác giả Daniel Kahneman là giáo sư tâm lý học thuộc Đại học
Princeton. ông được xem là một nhà tâm lý học vĩ đại nhất
trên thế giới còn sống. ông là người gốc Do Thái, tốt nghiệp
tâm lý học từ Đại học Jerusalem (1954), và phục vụ trong
quân đội Do Thái như một chuyên gia tâm lý. Năm 1958 ông
sang Mỹ học và tốt nghiệp tiến sĩ tâm lý học ở Đại học
California, Berkeley (1958). Cùng với người đồng nghiệp thân
thiết là Giáo sư Amos Tversky (Đại học Stanford), ông đã thực
hiện hàng loạt thí nghiệm tâm lý và có nhiều phát hiện rất
quan trọng về hành vi con người. Nhờ những công trình đột
phá đó, năm 2002, ông được trao giải thưởng Nobel về kinh tế
vì những phát kiến về lý thuyết viễn cảnh (Prospect Theory).
Giáo sư Tversky không may mắn qua đời vào năm 1996, nên
không có “duyên” với giải Nobel mà đáng lẽ ra ông đã cùng
Kahneman chia sẻ. Có thể nói không ngoa rằng cuốn sách bạn
đang cầm trên tay là một đúc kết những nghiên cứu đẳng cấp
Nobel.
Người viết bài này “làm quen” với những công trình nghiên
cứu của Kahneman và Tversky từ đầu thập niên 2000. Lúc đó,
tôi mới bắt đầu một dự án nghiên cứu về nguy cơ gãy xương
theo nguyên lý cá nhân hoá điều trị (personalized medicine).
Vấn đề được đặt ra là truyền đạt thông tin về nguy cơ đến
bệnh nhân như thế nào để có hiệu quả nhất, và tại sao dù có
nhiều thuốc điều trị loãng xương rất có hiệu quả và an toàn,
nhưng bệnh nhân không chịu dùng thuốc. Những thí nghiệm
cực kỳ sáng tạo và lý thú của Kahneman và Tversky đã soi
sáng và cung cấp cho tôi rất nhiều câu trả lời. Đọc những gì
Kahneman viết, tôi thấy hình như ông biết rất nhiều về tôi! Do
đó, khi cuốn sách được ấn hành, tôi đã viết bài điểm sách trên
Thời báo Kinh tế Sài Gòn vào tháng 11 năm 2012, và nay tôi
rất hân hạnh giới thiệu cuốn sách này đến bạn đọc.
Cuốn sách có tựa đề là Tư duy nhanh và chậm (Thinking, fast
and slow). Tuy là sách dành cho đại chúng, nhưng trong đó tác
giả thuật lại những nghiên cứu tâm lý và xã hội học được thiết
kế một cách thông minh và kết quả làm cho bạn phải suy nghĩ
lại chính mình. Chẳng hạn như chúng ta vẫn tưởng rằng con
người vốn đầy lý trí, quyết định có suy tính cẩn thận, nhưng
Daniel Kahneman và Amos Tversky đã chứng minh trong
cuộc sống hàng ngày và cả đời sống kinh tế, chúng ta thường
quyết định một cách thiếu nhất quán, cảm tính, và chủ quan.
Kahneman chứng minh rằng chúng ta tệ hơn những gì chúng
ta tưởng: đó là chúng ta không biết những gì chúng ta không
biết!
Trong tác phẩm Tư duy nhanh và chậm, Kahneman mô tả hai
cách thức (hay nói đúng hơn là hai hệ thống) mà não chúng ta
vận hành. ông gọi đó là Hệ thống 1 và Hệ thống 2. Hệ thống 1,
còn gọi là cơ chế nghĩ nhanh, tự động, thường xuyên được sử
dụng, cảm tính, rập khuôn, và tiềm thức. Hệ thống 2, còn gọi
là cơ chế nghĩ chậm, đòi hỏi nỗ lực, ít được sử dụng, dùng
logic, có tính toán, và ý thức. Trong một loạt thí nghiệm tâm
lý, Kahneman và Tversky chứng minh rằng con người chúng
ta thường đi đến quyết định theo cơ chế nghĩ nhanh hơn là
nghĩ chậm. Phần lớn nội dung của cuốn sách là để chỉ ra
những sai lầm trong hệ thống 1.
Suy nghĩ nhanh, theo cách nói ví von của người Việt chúng ta,
là trông mặt mà bắt hình dong. Tức là một cơ chế suy nghĩ dựa
vào những tín hiệu sơ khởi, thay vì tính toán cẩn thận và suy
đoán dựa vào logic. Có thể liên tưởng về cơ chế nghĩ nhanh
qua vài ví dụ cụ thể. Khi lái xe gắn máy đến một ngã tư, chúng
ta có khi chỉ cần nhìn vào ánh mắt người lái xe đối diện để
quyết định có băng qua đường hay không. Hoặc trước thông
tin rằng tỷ lệ mắc bệnh ung thư ở vùng nông thôn cao hơn
vùng thành thị, chúng ta có thể nghĩ ngay rằng vì dịch vụ y tế
ở vùng nông thôn kém hơn vùng thành thị. Nhưng nếu có
thông tin cho rằng tỷ lệ mắc bệnh ung thư vùng nông thôn thấp
hơn vùng thành thị, có lẽ chúng ta nghĩ rằng cư dân nông thôn
không sống trong môi trường ô nhiễm như cư dân thành thị,
nên cư dân nông thôn có nguy cơ ung thư thấp hơn thành thị.
Việc người dân di tản khỏi khu vực Sông Tranh II có lẽ là một
quyết định theo cơ chế nghĩ nhanh. Chính cơ chế suy nghĩ
nhanh này giúp cho con người tồn tại qua hàng triệu năm, dù
trong thực tế cũng sai lầm rất nhiều.
Những sai lầm trong cơ chế 1 được “chứng minh” qua hàng
loạt thí nghiệm rất nổi tiếng. Có lẽ thí nghiệm nổi tiếng nhất là
Vấn đề Linda. Trong thí nghiệm này, các đối tượng tham gia
nghiên cứu được cung cấp thông tin về một phụ nữ (hư cấu)
tên là Linda, 31 tuổi, độc thân, tính tình thẳng thắn, rất thông
minh, và thời còn là sinh viên triết ở đại học cô thường hay
quan tâm đến những vấn đề kỳ thị chủng tộc và bất bình đẳng
xã hội. Những người tham gia nghiên cứu được hỏi rằng Linda
là:
(a) một nhân viên phục vụ khách hàng ở ngân hàng (bank
teller);
hay
(b) là một bank teller và đấu tranh cho nữ quyền (feminist).
Phần lớn (85%) người tham gia nghiên cứu chọn câu trả lời (b)
là khả năng cao nhất. Nhưng câu trả lời đó vi phạm quy luật
xác suất! Kahneman và Tversky gọi sai lầm này là nghịch lý
liên hợp (Conjunction fallacy).
Trong một thí nghiệm khác, Kahneman và Tversky tiến hành
với một nhóm bác sĩ có kinh nghiệm trên 15 năm về một vấn
đề rất đơn giản như sau. Trong một cộng đồng có 1% nữ bị
bệnh ung thư. Các nhà khoa học có một phương pháp xét
nghiệm rất chính xác để phát hiện ung thư. Với phương pháp
này đối với những người mắc bệnh, xét nghiệm sẽ cho ra kết
quả dương tính 95%; đối với những người không mắc bệnh,
xét nghiệm sẽ cho ra kết quả âm tính 80%. Nếu một phụ nữ
trong cộng đồng đó đi xét nghiệm và có kết quả dương tính,
khả năng mà người phụ nữ đó mắc bệnh ung thư là bao nhiêu?
Đại đa số các bác sĩ cho rằng khả năng mắc bệnh là 90%.
Nhưng câu trả lời đó sai. Sai là vì bác sĩ (hay chúng ta nói
chung) lẫn lộn giữa xác suất mắc bệnh nếu kết quả dương tính
với xác suất có kết quả dương tính nếu cá nhân mắc bệnh.
Kahneman gọi đây là nghịch lý tỷ suất nền, và hệ quả là nhiều
bệnh nhân bị chẩn đoán sai, vì bác sĩ dùng cơ chế suy nghĩ
nhanh.
Trong một thí nghiệm nổi tiếng, Kahneman và Tversky cho
các đối tượng chọn một trong hai bao thư. Bao thư thứ nhất có
chắc chắn 200 đô-la; và bao thư thứ hai đòi hỏi đối tượng phải
tung một đồng xu, nếu mặt sấp xuất hiện thì được 400 đô-la,
mặt ngửa thì không có đồng nào. Kết quả cho thấy phần lớn
đối tượng tham gia nghiên cứu lựa chọn bao thư thứ nhất (dù
hai lựa chọn này thật ra có giá trị kỳ vọng y chang nhau)! Kết
quả này cho thấy chúng ta thích sự chắc chắn. Xu hướng này
dẫn Kahneman và Tversky phát triển lý thuyết viễn cảnh, và là
một công trình được trao giải Nobel Kinh tế năm 2002.
Một thí nghiệm cực kỳ độc đáo cho thấy chúng ta rất dễ bị chi
phối bởi con số lớn. Đối tượng nghiên cứu được đưa cho 2 lựa
chọn: (a) với phẫu thuật A, 90% sống sót; (b) với phẫu thuật
B, 10% tử vong. Phần lớn đối tượng chọn phẫu thuật A. Một
thí nghiệm tương tự, mà theo đó một nhóm đối tượng được
cho biết rằng xác suất mà họ mắc bệnh là 1 trên 10, một nhóm
khác được cho biết xác suất mắc bệnh là 100 trên 1000. Kết
quả cho thấy nhóm thứ hai có xu hướng chấp nhận điều trị hơn
nhóm thứ nhất, dù nguy cơ mắc bệnh của hai nhóm y chang
nhau! Kahneman và Tversky gọi đó là hiệu ứng khung
(framing effect).
Chúng ta thường đánh giá vấn đề qua việc tham khảo kinh
nghiệm nổi bật vào thời điểm gần nhất, chứ không phải xem
xét đến toàn bộ quá trình theo thời gian. Viết đến đây tôi chợt
nhớ đến một nhận xét của Nhạc sĩ Đức Huy rằng người ca sĩ
có thể bắt đầu bài hát không đạt, nhưng khi đoạn cuối bài hát
được diễn tả thành công thì khán giả sẽ xem đó là một trình
diễn thành công. Kahneman xem đây là điểm mà chúng ta rất
giống… chuột.
Nếu một nhà khoa học rất giỏi về một lĩnh vực nào đó (như
được trao giải Nobel y học), người ta thường giả định rằng nhà
khoa học đó cũng am hiểu tất cả những vấn đề khác, dù bản
thân nhà khoa học không nghĩ vậy. Điều này giải thích tại sao
khi cần tranh thủ vận động một vấn đề xã hội nào đó, người ta
thường tìm đến những ngôi sao điện ảnh, khoa học, thể
thao,… Kahneman gọi đó là hiệu ứng hào quang (halo effect)
cũng là một cơ chế suy nghĩ theo hệ thống 1.
Cuốn sách hay công trình nghiên cứu của Kahneman có nhiều
ý nghĩa cho các nhà hoạch định chính sách. Bài học là khi ra
chính sách hay những quy định có ảnh hưởng đến nhiều người
trong cộng đồng, cần phải vận dụng chứng cứ một cách cẩn
thận, chứ không nên cảm tính và bồng bột (theo hệ thống suy
nghĩ nhanh) vì dễ dẫn đến sai lầm. Chúng ta còn nhớ vụ cấm
buôn bán mắm tôm chỉ vì niềm tin rằng nhiều bệnh nhân tả
từng ăn mắm tôm trước đó, và kết luận rằng mắm tôm là
nguyên nhân gây dịch tả. Có thể xem đó là một suy nghĩ theo
hệ thống 1.
Không chỉ có ý nghĩa cho các nhà hoạch định chính sách, cuốn
sách còn có ích cho những người hành pháp. ý nghĩa từ những
hiệu ứng Linda, hiệu ứng khung, nghịch lý tỉ suất nền,… là
không thể và không nên trông mặt mà bắt hình dong, hay chỉ
dựa vào tín hiệu bề ngoài mà đi đến kết án hay kì thị một cá
nhân. Có trường hợp người ta lí giải rằng 60% những ca tội
phạm thiếu niên xuất phát từ những gia đình ly dị hay đổ vỡ,
và đi đến kết luận rằng ly dị là một nguyên nhân hay nguồn
gốc của tội phạm thiếu niên. Nhưng kết luận đó không logic và
rất có thể sai. Đó cũng là một nguỵ biện rất phổ biến
(prosecutor fallacy). Ngụy biện xảy ra là vì người ta lười suy
nghĩ, và vì lười biếng suy nghĩ nên người ta chỉ sử dụng hệ
thống 1 (mà không sử dụng hệ thống 2).
Ngày nay, ra nhà sách, chúng ta dễ dàng thấy khá nhiều sách
về hành vi con người. Nhiều sách hay với những ví dụ rất sống
động kèm theo những thí nghiệm được xem là tiên phong, rồi
lý giải đòi thay đổi chính sách, luật pháp, và cách kinh doanh.
Nhưng cuốn Tư duy nhanh và chậm thì khác, vì đây là cuốn
sách chỉ tập trung vào khoa học, với những trải nghiệm cá
nhân của tác giả. Mục tiêu của cuốn sách, như Kahneman viết,
là “làm giàu ngữ vựng cho mọi người” khi đi đến một quyết
định trong cuộc sống. Tác giả còn viết rằng ông kỳ vọng cuốn
sách sẽ giúp ích cho độc giả trong những câu chuyện phiếm và
trao đổi - hay nói theo Nguyễn Du là mua vui cũng được một
vài trống canh. Tôi nghĩ tác giả đã vượt ra mục tiêu khiêm tốn
đó. Đây là cuốn sách mà bất kỳ ai đọc cũng sẽ thấy hào hứng
ngay từ chương đầu, và kết thúc với sự sảng khoái, làm cho
chúng ta hiểu về chính mình nhiều hơn. Một cuốn sách như
thế nên được có mặt trên giá sách của những ai quan tâm đến
hành vi và kinh tế.
Xin trân trọng giới thiệu!
Mở đầu
Tôi cho rằng bất kỳ tác giả nào, khi viết một cuốn sách đều
hình dung sẵn trong đầu những lợi ích mà độc giả sẽ lĩnh hội
được sau khi đọc nó. Với tôi, lợi ích của việc đọc sách được ẩn
dụ dưới hình ảnh chiếc bàn uống nước được đặt trong các văn
phòng - nơi mọi người thường ngồi trao đổi ý kiến, hay truyền
tai nhau những câu chuyện phiếm. Tôi hy vọng, cuốn sách này
sẽ làm giàu vốn ngữ vựng cho độc giả mỗi khi đi đến một vài
quyết định nhanh trong cuộc sống như: Khi chúng ta bàn về
những phán đoán và lựa chọn của người khác, hoặc những
chính sách mới của công ty, hay những quyết định đầu tư của
một đồng nghiệp. Tại sao chúng ta lại quan tâm đến những câu
chuyện phiếm? Bởi “kể tội” hay “nói xấu” người khác bao giờ
cũng dễ dàng và thích thú hơn là tự nhận ra lỗi lầm của chính
mình. Ngay cả trong những điều kiện thuận lợi nhất, đặt câu
hỏi đối với những gì ta hằng tin tưởng và ham muốn là vô
cùng khó khăn nhưng may mắn là chúng ta có thể tiếp thu
được những ý kiến từ người khác. Rất nhiều người trong số
chúng ta, tự nhiên đoán trước được phản ứng và dự đoán của
bạn bè, đồng nghiệp về các lựa chọn của mình; vì vậy giá trị
và nội dung của những câu chuyện phiếm lại trở thành những
chủ đề “nóng” xoay quanh chiếc bàn uống nước. Những câu
chuyện phiếm hữu ích là động cơ thúc đẩy con người ta tự phê
bình và nhìn nhận bản thân một cách nghiêm túc hơn, đôi khi
lợi ích mà những câu chuyện phiếm này mang lại còn có tác
dụng hơn cả bản kế hoạch đánh giá hàng năm của mỗi chúng
ta.
Muốn trở thành một bác sĩ giỏi thì người thầy thuốc phải hiểu
rõ rất nhiều loại bệnh với những triệu chứng kèm theo trước và
sau khi phát bệnh, cũng như phải phán đoán được nguyên
nhân và hậu quả của bệnh, thậm chí có thể đưa ra cả phác đồ
điều trị cho bệnh đó. Học nghề thuốc đòi hỏi người thầy thuốc
phải học cả thuật ngữ của y khoa. Càng hiểu sâu về các phán
đoán và lựa chọn sẽ càng đòi hỏi chúng ta phải sử dụng vốn từ
vựng phong phú hơn so với ngôn ngữ thường ngày. Mặt tích
cực của những câu chuyện phiếm là nó giúp chúng ta nhận biết
được những sai lầm mà con người thường mắc phải. Chúng
chính là những lỗi sai hệ thống và được lặp đi lặp lại một cách
có chủ đích trong một số hoàn cảnh nhất định. Ví dụ, khi một
diễn giả điển trai và tự tin bước lên sân khấu, bạn có thể dự
đoán được rằng khán giả sẽ dành cho bài diễn thuyết của anh
ta nhiều cảm tình hơn so với tài năng diễn thuyết của anh ta.
Khả năng chẩn đoán những sai lệch này còn gọi là Hiệu ứng
hào quang và nhờ có Hiệu ứng hào quang, những bàn luận và
những trao đổi xung quanh câu chuyện phiếm của chúng ta sẽ
trở nên dễ đoán, dễ nhận ra và dễ hiểu hơn.
Nếu có ai hỏi bạn đang nghĩ gì, bạn sẽ trả lời được câu hỏi đó
một cách dễ dàng. Bạn tin rằng bạn biết được trí não của mình
được vận hành bằng một ý nghĩ chủ đạo, tuần tự dẫn dắt bạn đi
từ suy nghĩ này sang suy nghĩ khác. Tuy nhiên, đó không phải
là cách hoạt động duy nhất, càng không phải là cách hoạt động
điển hình của trí não. Hầu hết mọi ấn tượng và suy nghĩ của
bạn thường diễn ra trong trí não theo cách mà bạn không sao
biết được. Bạn không thể lý giải được vì sao bạn lại tin là trên
mặt bàn có một chiếc đèn, hoặc làm sao bạn lại cảm thấy
giọng nói của người bạn đời trên điện thoại có thoáng chút hờn
ghen, hoặc xoay xở thế nào bạn có thể tránh một tai nạn trên
đường đi khi nó chưa thực sự xảy ra mà chỉ bằng linh cảm của
bạn. Rất nhiều những quyết định được hình thành một cách
lặng lẽ bên trong đầu óc của bạn và khi trí óc của bạn hoạt
động sẽ sinh ra những cảm xúc và những trực giác.
Cuốn sách này bàn rất nhiều về sự sai lệch của trực giác trong
trí óc của con người. Tuy vậy, tập trung vào sự sai lệch không
nhằm mục đích bôi nhọ nhận thức của loài người, giống như
các nghiên cứu y học, sự quan tâm nghiên cứu các căn bệnh
không nằm ngoài mục đích mang lại sức khỏe tốt hơn cho loài
người. Thông thường hầu hết chúng ta đều khỏe mạnh và hầu
hết những phán đoán và hành động của chúng ta đều đúng đắn.
Chúng ta làm chủ cuộc sống của mình, nên tự thân chúng ta
tuân theo những ấn tượng và cảm xúc của cá nhân và tự tin
rằng niềm tin bản năng, cũng như sở thích của bản thân
thường là đúng đắn. Nhưng không hẳn thế, chúng ta vẫn tự tin
ngay cả khi mắc sai lầm và thường những người khác dễ phát
hiện ra sai lầm đó hơn là bản thân chúng ta.
Những phát hiện này chính là mục đích của tôi khi đề cập tới
câu chuyện phiếm ở trên, nhằm nâng cao khả năng nhận thức
của bản thân khi đưa ra các dự đoán và lựa chọn của người
khác bằng việc cung cấp một thứ ngôn ngữ phong phú hơn,
chính xác hơn khi thảo luận. Bởi vì ít nhất trong một vài
trường hợp, một chẩn đoán chính xác có thể đưa ra một giải
pháp để giảm thiểu thiệt hại do những phán đoán và lựa chọn
sai lầm của chúng ta gây ra.
NGUỒN GỐC
Cuốn sách này trình bày những hiểu biết của tôi về sự phán
đoán và ra quyết định, vốn là những lĩnh vực đã được các nhà
tâm lý học nghiên cứu sâu trong vài thập kỷ trở lại đây. Tuy
nhiên, tôi bắt đầu theo đuổi ý tưởng nghiên cứu này vào một
ngày may mắn của năm 1969, khi tôi mời Amos - một đồng
nghiệp của tôi đến nói chuyện ở buổi thảo luận, tại khoa Tâm
lý học của trường Đại học Hebrew ở Jerusalem - nơi tôi dạy
học khi đó. Amos Tversky khi ấy được đánh giá là ngôi sao
mới nổi chuyên nghiên cứu về việc ra quyết định, mà thực ra
tôi nghĩ ông ấy là ngôi sao trong mọi lĩnh vực nghiên cứu mà
ông tham gia thì đúng hơn, vì thế tôi hình dung chúng tôi sẽ có
một buổi nói chuyện rất thú vị. Nhiều người biết Amos đều
nghĩ ông là người thông minh nhất mà họ từng gặp. ông xuất
sắc, linh hoạt và cuốn hút. ông được ban tặng một trí nhớ tuyệt
vời, cùng với cách nói chuyện hài hước và khả năng sử dụng
chúng một cách nhuần nhuyễn; sẽ không bao giờ cảm thấy
buồn chán khi có Amos ở bên cạnh. Vào thời điểm này Amos
mới 32 tuổi, còn tôi 35 tuổi.
Bài giảng của Amos hôm đó trình bày về một chương trình
nghiên cứu đang được tiến hành ở Đại học Michigan, nhằm trả
lời cho câu hỏi: Con người có phải là những nhà thống kê trực
quan tài ba? Như các bạn biết đấy, chúng ta vốn đều là những
nhà ngôn ngữ học tự nhiên: Một đứa trẻ bốn tuổi không cần cố
gắng cũng có thể tự thiết lập được những cấu trúc ngữ pháp
khi nói, mặc dù chúng chẳng có ý niệm gì về sự tồn tại của
những cấu trúc ngữ pháp ấy cả. Liệu con người có bản năng
trực giác tương tự đối với những nguyên tắc cơ bản của các
phép tính thống kê? Amos đã trả lời rằng, chắc chắn con người
có khả năng đó. Sau buổi hội thảo này, chúng tôi kết luận lại
không có câu trả lời nào hợp lý hơn câu trả lời trên, rằng con
người có khả năng làm phép tính thống kê.
Amos và tôi đều hứng thú với buổi thảo luận và kết luận rằng
thống kê trực quan là một chủ đề hấp dẫn và rất tuyệt nếu cả
hai cùng tiếp tục nghiên cứu. Thứ Sáu của tuần ấy, chúng tôi
ăn trưa tại quán Cafe Rimon - nơi gặp gỡ yêu thích của giới
nghệ sĩ và các giáo sư ở Jerusalem. Tại đây chúng tôi đã lên kế
hoạch nghiên cứu về khả năng thống kê trực quan của một số
nhà nghiên cứu thực nghiệm điển hình. Kết luận trong lần thảo
luận trước đó (tại buổi thảo luận ở Đại học Hebrew) chỉ bằng
trực giác của chúng tôi thôi là chưa đủ. Cho dù đã có nhiều
năm kinh nghiệm nghiên cứu và làm việc với các số liệu,
chúng tôi vẫn chưa có được nhạy cảm bản năng để đưa ra phán
đoán chuẩn xác cho những kết quả thống kê được quan sát dựa
trên nhóm mẫu quá nhỏ. Vẫn còn rất nhiều những sai lệch
trong những nhận định chủ quan của chúng tôi. Khi mà chúng
tôi quá hào hứng tin tưởng vào các kết quả nghiên cứu dựa
trên những chứng cứ không đầy đủ và quá đề cao hoạt động
thu thập dữ liệu dựa trên những quan sát của những nhóm mẫu
quá nhỏ. Mục tiêu của nghiên cứu này là để kiểm chứng xem
liệu những nhà nghiên cứu khác có chung những suy nghĩ như
chúng tôi không?
Chúng tôi đã chuẩn bị một cuộc điều tra trong đó đã phác thảo
bộ khung cho những vấn đề thường xuất hiện trong các nghiên
cứu. Amos đi thu thập các câu trả lời của một nhóm chuyên
gia trong một cuộc họp của Hiệp hội Tâm lý Toán học, trong
đó có cả hai nhà viết sách giáo khoa thống kê. Đúng như mong
đợi, chúng tôi phát hiện ra rằng những chuyên gia này cũng
như chúng tôi, đã phóng đại quá mức xác suất đúng các kết
quả gốc của một thí nghiệm chỉ dựa trên lượng mẫu quá nhỏ,
mà ngay cả khi nhân lên nhiều lần kết quả ấy cũng không thay
đổi. Các nhà khoa học này cũng khuyến cáo đến sinh viên cần
phải phân tích đủ mức tối thiểu lượng mẫu được quan sát trong
thí nghiệm, bởi vì ngay cả những chuyên gia của ngành Thống
kê học cũng không phải là những nhà thống kê trực quan tài
ba.
Trong khi viết báo cáo về phát hiện này, cả Amos và tôi đều
cảm nhận là thật thú vị khi được làm việc cùng nhau. Amos
luôn hài hước và nhờ sự có mặt của ông, tôi cũng trở nên vui
tính hơn, vì thế chúng tôi đã có nhiều thời gian làm việc
nghiêm túc trong bầu không khí vui nhộn. Chính niềm vui mà
chúng tôi tìm thấy trong việc hợp tác khiến cả hai trở nên kiên
nhẫn hơn; bạn cũng vậy - sẽ dễ dàng đặt toàn tâm vào công
việc hơn khi không bao giờ cảm thấy buồn chán. Cũng có thể,
điều quan trọng nhất là chúng tôi đã khám phá ra vũ khí bí
mật, chính là tính cách của cả hai đã hỗ trợ rất tốt cho nhau
trong công việc. Cả Amos và tôi cùng là những người vô cùng
hiếu thắng và hay lý lẽ, thậm chí ông ấy còn cực đoan hơn cả
tôi nhưng trong suốt những năm cộng tác, chưa bao giờ người
này bác bỏ bất cứ ý kiến nào của người kia. Thực vậy, một
trong những niềm hạnh phúc nhất mà tôi có được khi làm việc
cùng Amos, đó là những gì chúng tôi thu được đã trở thành tài
sản quý giá nhất mà cả hai cùng tích luỹ được.
Nghiên cứu của chúng tôi dưới dạng những cuộc đối thoại,
trong đó chúng tôi tạo ra những câu hỏi và cùng nhau kiểm
chứng chúng bằng những câu trả lời dựa trên trực giác. Mỗi
câu hỏi là một thí nghiệm nhỏ và mỗi ngày chúng tôi thực hiện
rất nhiều thí nghiệm như thế. Chúng tôi không thực sự đi tìm
đáp án đúng cho những câu hỏi thống kê mà mình đặt ra đó.
Mục tiêu của chúng tôi là nhận dạng và phân tích các câu trả
lời bằng trực giác - ập đến tức thì trong đầu, những đáp án nảy
sinh ngay lập tức, ngay cả khi chúng tôi biết đó là một đáp án
sai. Chúng tôi tin tưởng tuyệt đối rằng một khi có bất cứ đáp
án trực giác nào bật ra trong trí não của cả hai chúng tôi, thì
hẳn là cũng sẽ có rất nhiều người khác có chung những suy
nghĩ đó và từ kết luận này, sẽ dễ dàng chỉ ra những ảnh hưởng
của trực giác lên các phán đoán của chúng ta như thế nào.
Một lần, chúng tôi đã vô cùng hạnh phúc khi nhận ra rằng, cả
hai cùng có những suy nghĩ ngốc nghếch liên quan đến nghề
nghiệp tương lai của những em bé mà cả hai cùng biết, như là
cả hai cùng nhận ra một “luật sư ba tuổi hay lý luận,” hoặc
một “giáo sư mọt sách,” hay một “nhà tâm lý học cảm thông
và dịu dàng”. Tất nhiên, những tiên đoán này rất ngớ ngẩn
nhưng chúng tôi vẫn thấy chúng thật hấp dẫn. Rõ ràng trực
giác của chúng ta đã bị dẫn dắt bởi tập hợp những khuôn mẫu
về một nghề nghiệp nhất định nào đó. Bài tập thú vị này đã
giúp chúng tôi phát triển một giả thuyết về vai trò của sự
tương đồng trong các dự đoán ở mỗi thực nghiệm mà chúng
tôi tiến hành. Chúng tôi quyết định kiểm tra và thử nghiệm giả
thuyết ấy bằng cách chia nhỏ giả thuyết ấy thành hàng tá
những thí nghiệm nhỏ, sau đây là một ví dụ:
Giả thuyết là cậu bé Steve được lựa chọn ngẫu nhiên trong số
những mẫu thí nghiệm:
Cậu bé được một người hàng xóm mô tả như sau: “Steve rất
bẽn lẽn và khép kín, sẵn lòng giúp đỡ người khác nhưng
không mấy quan tâm tới mọi người hay thế giới xung quanh.”
Vậy sau này Steve sẽ trở thành một anh thủ thư hay một anh
nông dân?
Những đặc điểm tương đồng trong tính cách của Steve khiến
mọi người lập tức nghĩ rằng cậu sẽ làm nghề thủ thư, dự đoán
này không hề dựa trên số liệu thống kê thực tế. Đã bao giờ bạn
quan tâm kết quả thống kê thực tế trên toàn nước Mỹ là tỷ lệ
những người nông dân là nam giới nhiều gấp 20 lần so với tỷ
lệ những người nam giới làm nghề thủ thư? Và bởi vì số người
làm nông dân nhiều hơn rất nhiều số người làm thủ thư, nên
chắc chắn những người “nhu mì và gọn ghẽ” ngồi trong xe kéo
được mô phỏng ở ví dụ trên sẽ nhiều hơn số người ngồi sau
bàn thủ thư. Tuy vậy, chúng tôi nhận thấy những người tham
gia thí nghiệm đều phớt lờ các con số thống kê thực tế và lệ
thuộc hoàn toàn vào các yếu tố tương đồng trong các dự đoán.
Chúng tôi đưa ra giả thuyết là họ đã biến sự tương đồng thành
một suy nghiệm đơn giản hóa (nói ngắn gọn là suy đoán dựa
theo kinh nghiệm) khi đưa ra một phán đoán khó khăn nhằm
chỉ ra các dự đoán của họ. Việc phụ thuộc vào kinh nghiệm cá
nhân chính là nguyên nhân tạo ra những sai lệch có thể đoán
trước (những lỗi sai hệ thống) trong các phỏng đoán của họ.
Trong một lần khác, Amos và tôi đặt vấn đề về tỷ lệ ly hôn
giữa các giảng viên trong trường Đại học của chúng tôi. Khi
đặt ra câu hỏi này chúng tôi bắt đầu rà soát trong trí nhớ về
những giảng viên đã ly hôn mà mình biết hoặc nghe nói tới, từ
đó dự đoán xem số lượng này có lớn không. Chúng tôi gọi sự
phụ thuộc vào khả năng rà soát của trí nhớ là một suy nghiệm
thực tế. Ở một số nghiên cứu khác, chúng tôi để người tham
gia trả lời một câu hỏi đơn giản về từ vựng trong một đoạn
ngữ văn Anh điển hình như sau:
Hãy nghĩ về chữ cái K.
Chữ cái K thường xuất hiện ở vị trí đầu tiên HAY vị trí thứ ba
trong một từ?
Bất cứ người nào hay chơi trò sắp chữ Scrabble đều biết, để
tìm một từ bắt đầu bằng một ch...
 





