LỜI CHÚC

BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT WEBSITE

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU SÁCH THÁNG 1

    Vũ Trụ trong vỏ Hạt Dẻ - Stephen Hawking

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 19h:48' 09-03-2024
    Dung lượng: 5.0 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin ebook
    Tên sách: Vũ Trụ Trong Một Vỏ Hạt
    Nguyên tác: The Universe In A Nutshell
    Tác giả: Stephen Hawking
    Dịch giả: Dạ Trạch (Nguyễn Hoàng Hải, GVĐH Quốc Gia,
    Hà Nội)
    Hiệu đính: Võ Quang Nhân
    Thể loại : Khoa học
    Nhà xuất bản: Bantam, 2001
    Số quyển/1 bộ: 1
    –––––––––––Nguồn: datrach@gmail.com
    Chuyển sang ebook (TVE): santseiya
    Ngày hoàn thành: 04/06/2009
    Nơi hoàn thành: Hà Nội
    http://www.thuvien-ebook.com

    MỤC LỤC
    GIỚI THIỆU CỦA VIETSCIENCES
    GIỚI THIỆU CỦA NHÀ XUẤT BẢN
    LỜI NÓI ĐẦU
    CHƯƠNG 1
    LƯỢC SỬ VỀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI
    CHƯƠNG 2
    HÌNH DÁNG CỦA THỜI GIAN
    CHƯƠNG 3
    VŨ TRỤ TRONG MỘT VỎ HẠT
    CHƯƠNG 4
    TIÊN ĐOÁN TƯƠNG LAI
    CHƯƠNG 5
    BẢO VỆ QUÁ KHỨ
    CHƯƠNG 6
    TƯƠNG LAI CỦA CHÚNG TA? CÓ THỂ LÀ STAR TREK
    HAY KHÔNG?
    CHƯƠNG 7
    MÀNG VŨ TRỤ MỚI
    THUẬT NGỮ
    CHỈ MỤC

    Thân tặng annsuri ebook này!
    Santseiya
    (^_^)

    GIỚI THIỆU CỦA VIETSCIENCES
    Thời gian gần đây các ngành khoa học đặc biệt ngành vật lý
    đã làm được một bước tiến rất dài. Kiến thức của ngành vật lý
    đã không còn rời rạc, xa vời mà nó đã dần trở thành một khoa
    học thống nhất. Các lý thuyết đã và đang kết nối với nhau
    thành một bản trường ca. Bản trường ca này không chỉ nhằm
    giải thích các quan điểm triết học cao siêu của con người với
    vũ trụ mà nó lại còn thâm nhập vào mọi lĩnh vực mọi ngõ
    ngách ứng dụng trong đời sống.
    Một trong những nhà vật lý nổi bật nhất sau Newton và
    Einstein sống ở cuối thiên niên kỷ thứ hai của nhân loại không
    ai khác hơn là Stephen Hawking (sinh năm 1942). Ngoài
    những đóng góp vĩ đại của ông trong nỗ lực thống nhất các qui
    luật của vật lý thì ông còn có một khả năng truyền đạt tư tưởng
    tuyệt vời. Các sách của ông viết nhằm giới thiệu về triết học,
    vật lý cũng như về vũ trụ quan sinh động và dễ hiểu đến nỗi có
    nhiều lần những sách này đã dược dịch ra nhiều thứ tiếng và
    chúng còn bán chạy hơn cả những tiểu thuyết hay ho hấp dẫn
    nhất.
    Vietsciences xin giới thiệu với các bạn tác phẩm “Vũ Trụ
    Trong Một Vỏ Hạt” của dịch giả Dạ Trạch từ nguyên bản Anh
    ngữ “The Universe in a Nutshell” (2001). Vì là người làm
    việc nghiên cứu trong chuyên ngành vật lý nên anh Dạ Trạch
    hiểu rất sâu, chính xác, và rõ ràng các tư tưởng mà Hawking
    nêu ra trong cuốn sách mới này của ông.
    Chúng tôi tin rằng bản dịch Việt ngữ mà anh Dạ Trạch đã
    dày công dịch thuật sẽ mang đến cho các bạn đúng những cảm
    giác và các kiến thức lý thú, hấp dẫn, bất ngờ mà Hawking đã
    đem lại cho hàng triệu độc giả bằng tiếng mẹ đẻ là Anh ngữ.
    Trân Trọng
    Võ Quang Nhân
    Vietsciences: http://vietsciences.free.fr

    GIỚI THIỆU CỦA NHÀ XUẤT BẢN
    Cuốn Lược sử thời gian (A Brief History of Time), cuốn sách
    đã bán ra hàng triệu bản của Stephen Hawking đã đưa những
    tư tưởng của nhà vật lý lý thuyết thiên tài này tới bạn đọc trên
    toàn thế giới. Còn đây, trong lần xuất bản này, Hawking trở lại
    với phần tiếp theo với một cuốn sách có rất nhiều hình minh
    họa hé mở bí mật về những khám phá quan trọng đã đạt được
    trong những năm kể từ khi cuốn sách đầu tiên của ông ra đời.
    VŨ TRỤ TRONG MỘT VỎ HẠT
    Một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời đại chúng
    ta là Stephen Hawking, một biểu tượng của trí tuệ, ông được
    biết đến không chỉ qua những ý tưởng bất ngờ mà còn vì sự
    trong sáng và thông minh trong cách ông diễn giải các ý tưởng
    đó. Cuốn sách mới này sẽ đưa chúng ta đến những vấn đề mới
    nhất của vật lý lý thuyết, ở đó, theo những nguyên tắc điều
    khiển thế giới của người bình thường, sự thật còn kỳ lạ hơn cả
    trí tưởng tượng.
    Giống như nhiều nhà vật lý lý thuyết khác, giáo sư Hawking
    đang tìm kiếm điều cốt lõi của khoa học - “Lý thuyết về vạn
    vật” (Theory of Everything) nằm ở trái tim của vũ trụ. Với
    phong cách dễ tiếp cận và hài hước, ông đưa chúng ta vào lĩnh
    vực nghiên cứu để hé mở những bí mật của vũ trụ - từ hấp dẫn
    đến siêu hấp dẫn, từ lượng tử đến thuyết-M, từ ảnh đa chiều
    đến lưỡng tính. Ông đưa chúng ta đến biên giới của khoa học,
    ở đó thuyết siêu dây và các màng-p có thể là đầu mối cuối
    cùng cho bài toán. Ông cho phép chúng ta đi cùng một trong
    những chuyến thám hiểm trí tuệ thú vị nhất của ông khi ông
    tìm cách “kết hợp thuyết tương đối rộng của Einstein và ý
    tưởng lấy tổng theo các lịch sử của Feynman vào một lý thuyết
    thống nhất mô tả tất cả mọi sự kiện xảy ra trong vũ trụ”.
    Với lời văn đầy nhiệt huyết, giáo sư Hawking mời chúng ta
    đi theo bước chân của những nhà du hành trong không thời
    gian. Cuốn sách với các hình minh họa màu giúp làm sáng tỏ
    chuyến du hành vào thế giới siêu thực của các hạt, các dây, các
    màng chuyển động trong không thời gian mười một chiều này,

    ở đó các hố đen bốc hơi và biến mất và mang những bí mật đi
    theo chúng; và ở đó hạt giống vũ trụ nguyên thủy mà từ đó vũ
    trụ của chúng ta xuất hiện chính là một cái hạt nhỏ bé.
    Vũ trụ trong một vỏ hạt là một cuốn sách cần thiết với tất cả
    chúng ta để hiểu vũ trụ chúng ta đang sống. Giống như tập
    trước của cuốn sách - Lược sử về thời gian, cuốn sách này
    truyền tải điều thú vị trong khoa học khi các bí mật tự tiết lộ
    bản thân chúng.

    Stephen Hawking năm 2001

    LỜI NÓI ĐẦU
    Tôi không ngờ cuốn sách khoa học phổ thống Lược sử về
    thời gian lại thành công đến thế. Nó nằm trong danh sách
    những cuốn sách bán chạy nhất của tờ báo Sunday Times trong
    hơn bốn năm, lâu hơn bất kỳ cuốn sách bán chạy khác, và đặc
    biệt là sách về khoa học lại không phải dễ dàng gì. Sau đó,
    mọi người hỏi tôi có tiếp tục kéo dài cuốn sách đó hay không.
    Tôi từ chối vì tôi không muốn viết Đứa con của lược sử về
    thời gian hay Lịch sử dài hơn về thời gian và bởi vì tôi bận rộn
    với công việc nghiên cứu. Nhưng tôi đã nhận ra rằng có những
    vấn đề cho một loại sách khác có thể hiểu một cách dễ dàng.
    Lược sử về thời gian được viết theo kiểu trình tự, phải đọc các
    chương đầu mới tiếp tục các chương tiếp. Một số người thích
    kiểu đọc này nhưng một số khác nếu bị tắc ở các chương đầu
    sẽ không bao giờ đọc những phần thú vị hơn của chương tiếp
    theo. Ngược lại, cuốn sách này giống như một cái cây: chương
    một và hai là cái thân và các chương sau là các cành lá.
    Các cành lá khá độc lập với nhau và có thể tóm được sau khi
    đọc xong phần thân chính. Chúng liên quan đến những vấn đề
    tôi đã nghiên cứu trong khoảng thời gian từ sau khi xuất bản
    cuốn Lược sử về thời gian đến nay. Do đó chúng mô tả những
    vấn đề nóng bỏng nhất của khoa học hiện nay. Trong chương
    một tôi cố tránh cấu trúc trình tự. Các minh họa và các chú
    thích cho các hình được thể hiện khá độc lập với lời viết giống
    như Lược sử về thời gian: ấn bản minh họa xuất bản năm
    1996, các thông tin bổ sung cung cấp thêm cơ hội đào sâu
    thêm chủ đề được chương sách đề cập.
    Năm 1988, khi cuốn Lược sử thời gian ra đời thì Lí thuyết về
    tất cả (Theory of Everything) vừa mới được phát triển. Từ đó
    đến nay thì hiện trạng thay đổi thế nào? Chúng ta đã tiến đến
    gần mục đích của chúng ta chưa? Cuốn sách này mô tả, từ đó
    đến nay chúng ta đã đi được rất xa. Nhưng quãng đường phía
    trước vẫn còn dài chưa biết bao giờ có thể kết thúc được.
    Nhưng như người ta thường nói, đi trong hy vọng tốt hơn là
    đến đích. Mong muốn khám phá chính là nhiên liệu cho sự
    sáng tạo của chúng ta, không chỉ trong khoa học. Nếu chúng ta

    đến đích thì tinh thần của chúng ta sẽ teo lại và chết. Nhưng
    tôi không nghĩ rằng chúng ta chịu dẫm chân tại chỗ: chúng ta
    sẽ làm tăng độ phức tạp, không theo chiều sâu thì chúng ta
    cũng là theo chiều rộng đang gia tăng.
    Tôi muốn chia sẻ niềm vui sướng khi các tạo ra phát minh và
    bức tranh hiện thực đang hợp lại với nhau. Chi tiết về các công
    trình mang tính kỹ thuật nhưng tôi tin các ý tưởng chính được
    chuyển tải mà không cần đến các công cụ toán học. Tôi hy
    vọng tôi sẽ thành công.
    Tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ khi viết cuốn sách này. Tôi
    đặc biệt muốn nhắc đến Thomas Hertog và Neel Shearer vì đã
    giúp đỡ soạn thảo các hình vẽ, chú thích, thông tin tham khảo,
    Ann Harris và Kitty Ferguson vì chuẩn bị bản thảo (đúng hơn
    là các file máy tính vì tất cả những điều tôi viết đều ở dưới
    dạng điện tử) Philip Dunn ở Book Lab và Moonrunner Design
    vì chuẩn bị các hình minh họa. Ngoài ra tôi muốn cám ơn tất
    cả những người đã giúp đỡ tôi có một cuộc sống bình thường
    và tiếp tục nghiên cứu khoa học. Không có họ tôi không bao
    giờ có thể viết được cuốn sách này.
    Stephen Hawking
    Cambridge, 2/5/2001

    CHƯƠNG 1
    LƯỢC SỬ VỀ THUYẾT TƯƠNG ĐỐI
    Eistein thiết lập hai lý thuyết căn bản của thế kỷ hai mươi:
    Lý thuyết tương đối rộng và lý thuyết lượng tử như thế nào?

    Albert Einstein, cha đẻ của thuyết tương đối hẹp và thuyết tương
    đối rộng sinh ra ở Ulm, Đức vào năm 1879. Một năm sau đó gia
    đình ông chuyển đến Munich, tại đó, cha ông - Herman và cậu
    ông - Jacob khởi sự kinh doanh về đồ điện nhưng không mấy
    thành công. Einstein không phải là thần đồng nhưng có người cho
    rằng ông là một học sinh cá biệt ở phổ thông thì lại là một sự
    cường điệu. Năm 1894 công việc làm ăn của cha ông bị đổ bể nên
    gia đình chuyển đến Milan. Gia đình quyết định ông nên ở lại để
    hoàn thành bậc học phổ thông, nhưng ông không thích chủ nghĩa
    độc đoán của trường học nên chỉ sau đó mấy tháng ông đoàn tụ
    với gia đình ở Ý. Sau đó ông tốt nghiệp phổ thông ở Zurich và tốt

    nghiệp đại học trường Bách khoa liên bang vào năm 1900. Bản
    tính hay tranh luận và và ác cảm với quyền lực đã không mang
    cho ông một chân giáo sư ở trường Bách khoa liên bang và không
    một giáo sư nào của trường mời ông làm trợ giảng, mà thời bấy
    giờ đó là con đường bình thường để theo đuổi sự nghiệp khoa
    học. Cuối cùng thì hai năm sau ông cũng xoay sở được một việc ở
    Văn phòng sáng chế ở Bern. Ông làm việc tại đó trong thời gian
    ông viết ba bài báo, trong đó hai bài đã đưa ông trở thành nhà
    khoa học hàng đầu thế giới và bắt đầu hai cuộc cách mạng về tư
    tưởng làm thay đổi hiểu biết của chúng ta về không gian, thời
    gian và bản thân thực tại vào năm 1905.
    Gần cuối thế kỷ thứ 19, các nhà khoa học tin rằng họ gần như đã
    mô tả vũ trụ một cách toàn vẹn. Họ cho rằng không gian được lấp
    đầy bởi một loại vật chất liên tục gọi là Ê-te. Ánh sáng và các tín
    hiệu vô tuyến là các sóng lan truyền trong ê-te giống như sóng âm
    lan truyền trong không khí. Và tất cả các điều cần làm cho một lý
    thuyết hoàn thiện là phép đo chính xác để xác định tính đàn hồi
    của ê-te. Thực ra các phép đo như thế đã được xây dựng hoàn
    chỉnh tại phòng thí nghiệm Jefferson ở trường đại học Harvard
    mà không dùng đến một cái đinh sắt nào để tránh làm nhiễu các
    phép đo từ trường yếu. Tuy vậy những người xây dựng hệ đo đã
    quên rằng các viên gạch nâu đỏ xây nên phòng thí nghiệm và
    phần lớn các tòa nhà ở Harvard đều chứa một lượng lớn sắt. Ngày
    nay các tòa nhà đó vẫn được sử dụng, nhưng họ vẫn không chắc
    là nếu không có các đinh sắt thì sàn thư viện của trường có thể
    nâng đỡ được sức nặng là bao nhiêu.

    Albert Einstein năm 1920
    Vào cuối thế kỷ 19, các ý tưởng trái ngược nhau về sự có mặt
    của ê-te bắt đầu xuất hiện. Người ta tin rằng ánh sáng chuyển
    động với một tốc độ xác định so với ê-te và nếu bạn chuyển động
    cùng hướng với ánh sáng trong ê-te thì bạn sẽ thấy ánh sáng
    chuyển động chậm hơn, và nếu bạn chuyển động ngược hướng
    với ánh sáng thì bạn sẽ thấy ánh sáng di chuyển nhanh hơn. (hình
    1.1)

    (Hình 1.1)
    LÝ THUYẾT Ê-TE CỐ ĐỊNH
    Nếu ánh sáng là sóng trong một loại vật chất đàn hồi được gọi
    là ê-te thì vận tốc của ánh sáng đối với người ở trên tàu vũ trụ
    chuyển động ngược hướng ánh sáng (a) sẽ nhanh hơn vận tốc của
    ánh sáng đối với người trong con tàu chuyển động cùng hướng
    với ánh sáng (b).

    (Hình 1.2)
    Người ta không thấy sự khác biệt về vận tốc ánh sáng theo các
    hướng trong mặt phẳng quỹ đạo của trái đất và hướng vuông góc
    với mặt phẳng quỹ đạo đó.
    Và một loạt các thí nghiệm để chứng minh điều đó đã thất bại.
    Albert Michelson và Edward Morley của trường khoa học ứng
    dụng ở Cleveland, bang Ohio đã thực hiện các thí nghiệm cẩn
    thận và chính xác nhất vào năm 1887. Họ so sánh tốc độ ánh sáng
    của hai chùm sáng vuông góc với nhau. Vì trái đất tự quay quanh
    mình và quay quanh mặt trời nên dụng cụ thí nghiệm sẽ di chuyển
    trong ê-te với tốc độ và hướng thay đổi. Nhưng Michelson và
    Morley cho thấy rằng không có sự khác biệt giữa hai chùm sáng

    đó. Hình như là ánh sáng truyền với tốc độ như nhau đối với
    người quan sát, không phụ thuộc vào tốc độ và hướng của người
    chuyển động. (hình 1.3)

    (Hình 1.3)
    ĐO VẬN TỐC ÁNH SÁNG
    Trong giao thoa kế Michenson-Morley, ánh sáng từ nguồn sáng
    được tách thành hai chùm bằng một gương bán mạ. Hai chùm
    sáng đi theo hai hướng vuông góc với nhau sau đó lại kết hợp
    thành một chùm sáng sau khi đập vào gương bán mạ một lần nữa.
    Sự sai khác về tốc độ ánh sáng của hai chùm sáng đi theo hai
    hướng có thể làm cho các đỉnh sóng của chùm sáng này trùng với
    đáy sóng của chùm sáng kia và chúng triệt tiêu nhau.

    Hình phải: sơ đồ thí nghiệm được vẽ lại từ sơ đồ được in trên
    tạp chí Scientific American năm 1887.
    Dựa trên thí nghiệm Michelson-Morley, một nhà vật lý người
    Ai-len tên là George Fitzgerald và nhà vật lý người Hà Lan tên là
    Hendrik Lorentz giả thiết rằng các vật thể chuyển động trong ê-te
    sẽ co lại và thời gian sẽ bị chậm đi. Sự co và sự chậm lại của
    đồng hồ làm cho tất cả mọi người sẽ đo được một tốc độ ánh sáng
    như nhau không phụ thuộc vào việc họ chuyển động như thế nào
    đối với ê-te (George Fitzgerald và Hendrik Lorentz vẫn coi ê-te là
    một loại vật chất có thực). Tuy vậy, năm 1905, Eistein đã viết một
    bài báo chỉ ra rằng nếu người ta không thể biết được người ta
    chuyển động trong không gian hay không thì khái niệm ê-te
    không còn cần thiết nữa. Thay vào đó, ông bắt đầu bằng một giả
    thuyết rằng các định luật khoa học xuất hiện như nhau đối với tất
    cả những người quan sát chuyển động tự do. Đặc biệt là họ sẽ đo
    được tốc độ ánh sánh như nhau không phụ thuộc vào tốc độ
    chuyển động của họ. Tốc độ của ánh sáng độc lập với chuyển
    động của người quan sát và như nhau theo tất cả các hướng.

    Ý tưởng này đòi hỏi phải từ bỏ ý nghĩ cho rằng tồn tại một đại
    lượng phổ quát được gọi là thời gian có thể đo được bằng tất cả
    các đồng hồ. Thay vào đó, mỗi người có một thời gian riêng của
    họ. Thời gian của hai người sẽ giống nhau nếu hai người đó đứng
    yên tương đối với nhau, nhưng thời gian sẽ khác nhau nếu hai
    người đó chuyển động tương đối với nhau.
    Giả thuyết này được khẳng định bằng rất nhiều thí nghiệm,
    trong đó có một thí nghiệm gồm hai đồng hồ chính xác bay theo
    hướng ngược nhau vòng quanh trái đất và quay lại cho thấy thời
    gian có sai lệch chút ít. Giả thuyết gợi ý rằng nếu ai đó muốn
    sống lâu hơn thì người đó nên bay về hướng đông vì như thế thì
    tốc độ của trái đất sẽ bổ sung vào tốc độ của máy bay. Tuy vậy
    các bữa ăn trên máy bay sẽ rút ngắn cuộc sống của bạn nhiều hơn
    nhiều lần một phần nhỏ của giây mà bạn có được.

    (Hình 1.4)
    Một phiên bản về nghịch lý anh em sinh đôi (hình 1.5) đã được
    kiểm tra bằng thực nghiệm từ hai chiếc đồng hồ chính xác bay
    ngược chiều nhau vòng quanh Trái Đất.
    Khi chúng gặp nhau thì đồng hồ bay về hướng đông đã ghi lại
    thời gian ngắn hơn chút ít.

    (Hình 1.5)
    NGHỊCH LÝ ANH EM SINH ĐÔI
    Trong thuyết tương đối, mỗi người quan sát sẽ đo thời gian khác
    nhau. Điều này có thể dẫn đến nghịch lý anh em sinh đôi (twin
    paradox).
    Một người trong cặp anh em sinh đôi (a) trong một phi thuyền
    thám hiểm không gian chuyển động với vận tốc gần bằng vận tốc
    ánh sáng (c) trong khi người anh em của anh ta (b) vẫn trên mặt
    đất.
    Vì thời gian của (a) trong phi thuyền chậm hơn thời gian của (b)
    trên trái đất. Nên khi người (a) trở về (a2) anh ta sẽ thấy người

    anh em của anh ta trên trái đất (b2) già hơn anh ta.
    Mặc dù nó có vẻ chống lại cảm nhận chung của chúng ta, rất
    nhiều thí nghiệm chứng minh trong kịch bản này, người du hành
    vũ trụ sẽ trẻ hơn người còn lại.

    (Hình 1.6)
    Một phi thuyền đi ngang qua trái đất từ trái sang phải với vận
    tốc bằng bốn phần năm vận tốc ánh sáng. Một xung ánh sáng
    phát ra từ cabin và phản xạ lại ở đầu kia (a).
    Người trên trái đất nhìn ánh sáng trên phi thuyền. Vì phi thuyền
    chuyển động nên hai người sẽ quan sát khoảng cách mà ánh sáng
    đã đi được khi phản xạ lại không bằng nhau (b).
    Và với họ thời gian mà ánh sáng dùng để truyền cũng không
    bằng nhau, vì theo giả thuyết của Einstein, tốc độ ánh sáng là
    như nhau đối với tất cả các người quan sát chuyển động tự do.
    Giả thuyết của Einstein cho rằng các định luật khoa học xuất
    hiện như nhau đối với tất cả các người quan sát chuyển động tự
    do là cơ sở của thuyết tương đối. Gọi như vậy vì nó ngụ ý rằng

    chỉ có chuyển động tương đối là quan trọng. Vẻ đẹp và sự đơn
    giản của giả thuyết này đã thuyết phục rất nhiều các nhà tư tưởng,
    tuy nhiên, vẫn có rất nhiều các ý kiến trái ngược. Einstein đã vứt
    bỏ hai khái niệm tuyệt đối của khoa học thế kỷ 19: đứng yên tuyệt
    đối - đại diện là ê-te và thời gian tuyệt đối và phổ quát mà tất cả
    các đồng hồ đo được. Rất nhiều người thấy rằng đây là một khái
    niệm không bình thường. Họ hỏi, giả thuyết ngụ ý rằng tất cả mọi
    thứ đều tương đối, rằng không có một tiêu chuẩn đạo đức tuyệt
    đối? Sự bứt rứt này tiếp diễn trong suốt những năm 20 và 30 của
    thế kỷ 20. Khi Einstein được trao giải Nobel vào năm 1921 về
    một công trình kém quan trọng hơn cũng được ông cho ra đời vào
    năm 1905. Lúc đó, thuyết tương đối không được nhắc đến vì nó
    vẫn còn gây nhiều tranh cãi (đến bây giờ tôi vẫn nhận được vài ba
    bức thư hàng tuần nói rằng Einstein đã sai). Tuy vậy, hiện nay,
    các nhà vật lý hoàn toàn chấp nhận thuyết tương đối, và các tiên
    đoán của nó đã được kiểm chứng trong vô vàn ứng dụng.

    (Hình 1.7)
    Một hệ quả quan trọng của thuyết tương đối là hệ thức giữa khối
    lượng và năng lượng. Giả thiết của Einstein về tốc độ của ánh
    sáng là như nhau đối với tất cả các người quan sát ngụ ý rằng
    không có gì có thể chuyển động nhanh hơn ánh sáng. Nếu ta dùng
    năng lượng để gia tốc một vật nào đó, dù là một hạt hay một tàu
    vũ trụ, thì khối lượng của vật đó sẽ gia tăng cùng với tốc độ và do
    đó sẽ khó có thể gia tốc thêm được nữa. Ta không thể gia tốc một
    hạt đến tốc độ ánh sáng vì ta cần một năng lượng lớn vô cùng để
    làm điều đó. Khối lượng và năng lượng là tương đương và điều
    đó được tổng kết trong một phương trình nổi tiếng E = mc2 (hình

    1.7). Có lẽ đây là phương trình vật lý duy nhất mà chúng ta có thể
    nhìn thấy nó được viết trên đường phố. Một trong số các hệ quả
    của phương trình trên là hạt nhân của nguyên tử Uranium phân rã
    thành 2 hạt nhân nhỏ hơn có tổng khối lượng nhỏ hơn khối lượng
    của hạt nhân ban đầu, việc này sẽ giải tỏa một năng lượng vô
    cùng lớn. (hình 1.8)

    (Hình 1.8)
    NĂNG LƯỢNG LIÊN KẾT HẠT NHÂN
    Hạt nhân được tạo thành từ proton và neutron liên kết với nhau
    nhờ lực hạt nhân mạnh. Nhưng khối lượng của hạt nhân luôn nhỏ
    hơn tổng khối lượng của các proton và neutron riêng lẻ tạo nên
    chúng. Sự khác nhau chính là một phép đo năng lượng liên kết
    hạt nhân mà giữ hạt nhân lại với nhau.
    Năng lượng liên kết này có thể được tính từ hệ thức Einstein:
    năng lượng liên kết hạt nhân = ∆mc2 trong đó ∆m là sự khác
    nhau giữa khối lượng hạt nhân và tổng các thành phần.

    Nó giải thoát một lượng năng lượng đủ để tạo nên một sức công
    phá khổng lồ.
    Vào năm 1939, khi mà khả năng một cuộc chiến tranh thế giới
    nữa đang lờ mờ xuất hiện, một nhóm các nhà khoa học đã nhận ra
    tầm quan trọng và đã thuyết phục Einstein vượt qua sự lưỡng lự
    của bản thân để điền tên của ông vào một bức thư gửi Tổng thống
    Roosevelt nhằm thúc giục Hoa Kỳ khởi động chương trình nghiên
    cứu hạt nhân.

    Bức thư tiên đoán của Einstein gửi tổng thống Roosevelt năm
    1939:
    “Trong thời gian bốn tháng qua, thông qua các công trình của
    Joliot ở Pháp cũng như Fermi và Szilard ở Hoa Kỳ, chúng ta có
    thể xây dựng một phản ứng hạt nhân với một khối lượng lớn
    Uranium, nhờ đó mà sinh ra một nguồn năng lượng lớn. Bây giờ,
    chúng ta có thể làm điều này trong một tương lai gần.
    Mặc dù chưa chắc chắn, nhưng hiện tượng mới này có khả năng
    dẫn đến việc tạo ra các quả bom có sức công phá cực lớn.”

    Việc này dẫn đến dự án Manhattan và kết quả của nó là 2 quả
    bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima và Nagasaki vào năm
    1945. Một số người đã đổ tội cho Einstein về bom nguyên tử bởi
    vì ông đã khám phá ra mối liên hệ giữa khối lượng và năng
    lượng; nhưng điều này giống như là đổ tội cho Newton đã gây ra
    các vụ tai nạn máy bay vì đã phát hiện ra định luật hấp dẫn.
    Sau các bài báo gây chấn động vào năm 1905, Einstein trở lên
    nổi tiến trên thế giới. Nhưng đến tận năm 1909 ông mới được mời
    vào làm việc tại trường đại học Zurich và do đó, ông có thể từ bỏ
    công việc ở văn phòng sáng chế Thụy Sỹ. Hai năm sau ông
    chuyển sang đại học Đức ở Prague, nhưng ông quay trở lại Zurich
    vào năm 1912, nhưng lần này ông về trường Bách khoa liên bang.
    Mặc dù chủ nghĩa chống bài Do thái (anti-semitism) đang phổ
    biến ở châu Âu, ngay cả ở trong các trường đại học, nhưng ông
    vẫn là một tài sản quý của trường đại học. Có nhiều đề nghị làm
    việc đến từ Vienna và Utrecht, nhưng ông đã chấp nhận một vị trí
    ở Viện hàn lâm khoa học Prussian ở Berlin vì ở đó ông không

    phải đảm nhiệm công việc giảng dạy. Ông chuyển đến Berlin vào
    tháng 4 năm 1914 và sau đó ít lâu vợ và hai con của ông cũng
    chuyển đến đó với ông. Cuộc hôn nhân của ông gặp nhiều sóng
    gió, do vậy, vợ và các con ông nhanh chóng trở lại Zurich. Mặc
    dầu thỉnh thoảng ông vẫn trở lại thăm họ nhưng cuối cùng cuộc
    hôn nhân của họ cũng tan vỡ. Sau đó Einstein lấy một người em
    họ tên là Elsa sống ở Berlin. Trong những năm chiến tranh ông đã
    sống độc thân và không có ràng buộc về gia đình, có lẽ chính vì
    thế đây là thời kỳ thăng hoa nhất của ông về mặt khoa học.
    Mặc dầu thuyết tương đối rất phù hợp với các định luật điện và
    từ nhưng nó lại không tích hợp với định luật hấp dẫn của Newton.
    Định luật của Newton nói rằng nếu một lượng vật chất trong một
    vùng của không gian bị thay đổi thì trường hấp dẫn mà nó tạo ra
    trong toàn vũ trụ cũng thay đổi ngay lập tức. Điều này có nghĩa là
    người ta có thể gửi các tín hiệu nhanh hơn ánh sáng (mâu thuẫn
    với thuyết tương đối); để hiểu tức thời có nghĩa là gì, người ta lại
    cần đến khái niệm thời gian tuyệt đối và phổ quát, chính điều này
    lại loại bỏ thời gian cá nhân.
    Năm 1907, Einstein nhận ra khó khăn này khi ông còn làm việc
    ở văn phòng sáng chế ở Bern, nhưng phải đến khi ông ở Prague
    vào năm 1911 ông mới suy nghĩ về vấn đề này một cách nghiêm
    túc. Ông nhận ra rằng có một mối liên hệ mật thiết giữa gia tốc và
    trường hấp dẫn. Một người nào đó ở trong một cái hộp đóng kín
    như là trong một cái thang máy chẳng hạn không thể nhận biết
    được cái hộp đó đang đứng yên trong trường hấp dẫn của trái đất
    hay đang bị gia tốc bởi một tên lửa trong không gian (tất nhiên
    lúc này là trước kỷ nguyên của Star Trek, và Einstein nghĩ về
    những người đứng trong thang máy hơn là về những con tàu vũ
    trụ). Nhưng người ta không thể gia tốc hoặc rơi tự do lâu được
    trong cái thang máy trước khi tai nạn xảy ra! (hình 1.9)

    (Hình 1.9)
    Một người quan sát đứng trong một cái hộp không thể nhận ra
    sự khác nhau khi đứng trong một chiếc thang máy tĩnh trên trái
    đất (a) hoặc bị gia tốc bởi một tên lửa trong không gian tự do (b).
    Nếu người ta tắt động cơ của tên lửa (c) cảm giác sẽ giống như
    trong một chiếc thang máy rơi tự do xuống đất.
    Nếu trái đất phẳng thì ta có thể nói rằng quả táo rơi xuống đầu
    Newton là do hấp dẫn hoặc Newton và bề mặt trái đất bị gia tốc
    lên trên, hai cách nói trên là tương đương (hình 1.10). Sự tương
    ứng giữa gia tốc và hấp dẫn không sẽ còn đúng khi trái đất là hình
    cầu, tuy vậy - người ở mặt kia trái đất có thể bị gia tốc theo các
    chiều ngược lại nhưng vẫn đứng ở những khoảng cách không đổi
    với nhau. (hình 1.11)

    Nhưng khi ông quay lại Zurich vào năm 1912, ông đã có một
    bước đột phá khi nhận ra rằng sự tương ứng đó là đúng nếu hình
    dáng của không thời gian bị bẻ cong chứ không thẳng như người
    ta vẫn nghĩ cho tới thời điểm đấy. Ý tưởng của ông là khối lượng
    và năng lượng đã làm cong không thời gian theo một cách có thể
    xác định được. Các vật thể như là quả táo hoặc là hành tinh sẽ cố
    gắng chuyển động thẳng trong không thời gian, nhưng quỹ đạo
    của chúng sẽ bị bẻ cong bởi một trường hấp dẫn do không thời
    gian bị cong. (hình 1.12)

    (Hình 1.12)
    ĐỘ CONG CỦA KHÔNG THỜI GIAN
    Gia tốc và hấp dẫn chỉ có thể tương đương với nhau nếu một vật
    thể có khối lượng lớn bẻ cong không thời gian, do đó bẻ cong cả
    lộ trình của các vật thể xung quanh nó.
    Nếu trái đất phẳng (hình 1.10) thì người ta có thể giải thích
    bằng một trong hai cách tương đương sau: quả táo rơi xuống đầu
    Newton do lực hấp dẫn hoặc do Newton gia tốc lên phía trên. Sự
    tương đương này không còn đúng khi trái đất hình cầu (hình
    1.11) vì những người ở mặt kia của trái đất sẽ rời xa nhau.
    Einstein đã giải quyết bài toán này bằng việc giả thiết không gian
    và thời gian bị cong.
    Với sự giúp đỡ của Marcel Grossmann, Einstein nghiên cứu lý
    thuyết không gian và mặt phẳng cong do George Friedrich
    Riemann phát triển trước đó. Tuy vậy, Riemann nghĩ rằng chỉ có
    không gian bị bẻ cong. Điều đó làm cho Einstein nghĩ rằng không
    thời gian cũng bị bẻ cong. Einstein và Grossmann đã viết chung
    một bài báo vào năm 1913, trong đó họ đã đẩy ý tưởng mà chúng
    ta nghĩ về lực hấp dẫn chỉ là những biểu hiện của sự cong của
    không thời gian. Tuy vậy, vì một sai lầm do Einstein gây ra
    (Einstein cũng rất con người và có thể nhầm lẫn), họ không thể

    tìm ra các phương trình liên hệ độ cong của không gian với khối
    lượng và năng lượng trong đó. Einstein vẫn tiếp tục nghiên cứu
    vấn đề này ở Berlin, không bị ảnh hưởng bởi các vấn đề gia đình
    và chủ yếu là không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, cho đến khi
    ông tìm thấy các phương trình đó vào tháng 11 năm 1915. Ông đã
    trao đổi các ý tưởng của ông với nhà toán học David Hilbert trong
    chuyến thăm trường đại học Gottingen vào mùa hè năm 1915, và
    Hilbert cũng tìm ra các phương trình tương tự một cách độc lập
    trước Einstein vài ngày. Tuy nhiên, ngay cả bản thân Hilbert cũng
    thừa nhận, tác quyền của lý thuyết mới là thuộc về Einstein. Ý
    tưởng liên hệ hấp dẫn với độ cong của không thời gian chính là
    của ông. Đây cũng là một lời khen cho nước Đức vào thời điểm
    đó khi các cuộc trao đổi và thảo luận khoa học có thể diễn ra mà
    không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Điều này hoàn toàn trái
    ngược với kỷ nguyên Đức quốc xã (Nazi) 20 năm sau đó.
    Lý thuyết mới về sự cong của không thời gian được gọi là
    thuyết tương đối rộng để phân biệt với lý thuyết ban đầu không có
    lực hấp dẫn được mọi người biết đến với cái tên là thuyết tương
    đối hẹp. Lý thuyết này được khẳng định trong một thí nghiệm rất
    ấn tượng vào năm 1919, trong một cuộc thám hiểm của các nhà
    khoa học người Anh về phía Tây châu Phi đã quan sát được độ
    lệch rất nhỏ của ánh sáng đến từ một ngôi sao đi gần mặt trời
    trong quá trình nhật thực (hình 1.13). Đây là một bằng chứng trực
    tiếp cho thấy rằng không thời gian bị bẻ cong, và nó đã khích lệ
    sự thay đổi lớn nhất của con người trong nhận thức của chúng ta
    về vũ trụ mà chúng ta đang sống từ khi Euclid viết cuốn sách
    Hình học cơ sở vào khoảng 300 năm trước Công nguyên.

    (Hình 1.13)
    ÁNH SÁNG BỊ BẺ CONG
    Ánh sáng từ các ngôi sao đi đến gần mặt trời lệch hướng do khối
    lượng của mặt trời làm cong không thời gian (a). Điều này làm
    dịch chuyển vị trí biểu kiến của ngôi sao khi nhìn từ trái đất (b).
    Hiện tượng này có thể quan sát khi nhật thực.
    Thuyết tương đối rộng của Einstein đã biến không thời gian từ
    vai trò là một khung nền thụ động trong đó các hiện tượng xảy ra
    trở thành một tác nhân chủ động trong chuyển động của vũ trụ.
    Điều đó dẫn tới một bài toán rất lớn và là mối quan tâm hàng đầu
    của vật lý ở thế kỷ 20. Vũ trụ tràn đầy vật chất và vật chất bẻ
    cong không thời gian theo một cách làm cho các vật thể rơi vào
    nhau. Einstein thấy rằng các phương trình của ông không có
    nghiệm mô tả một vũ trụ tĩnh tại và không thay đổi theo thời gian.

    Thay vì việc từ bỏ một vũ trụ vĩnh cửu mà ông và phần lớn những
    người khác tin, ông đã thêm vào một số hạng gọi là hằng số vũ trụ
    một cách khiên cưỡng. Hằng số này làm cong không thời gian
    theo hướng ngược lại, do đó các vật thể sẽ chuyển động ra xa
    nhau. Hiệu ứng đẩy của hằng số vũ trụ có thể cân bằng với hiệu
    ứng hút của vật chất, cho phép ông thu được một vũ trụ tĩnh tại.
    Đây là một trong những cơ may bị mất đáng tiếc nhất trong vật lý
    thuyết. Nếu Einstein dừng lại ở các phương trình ban đầu của
    ông, ông có thể tiên đoán rằng vũ trụ sẽ giãn nở hoặc co lại. Khả
    năng vũ trụ thay đổi theo thời gian chỉ được xem xét một cách
    nghiêm túc cho đến khi có được những quan sát thu được từ kính
    thiên văn 2,5 m đặt trên đỉnh Wilson vào những năm 1920.
    Những quan sát này cho thấy rằng các thiên hà ở càng xa nhau
    thì chuyển động ra xa nhau càng nhanh. Vũ trụ đang giãn nở với
    khoảng cách giữa 2 thiên hà tăng dần theo thời gian (hình 1.14).
    Phát hiện này đã loại bỏ sự có mặt của hằng số vũ trụ để có được
    một vũ trụ tĩnh. Sau này Einstein nói rằng hằng số vũ trụ là sai
    lầm lớn nhất của đời ông. Tuy vậy, ngày nay, người ta thấy rằng
    hằng số vũ trụ hoàn toàn không phải là một sai lầm: những quan
    sát gần đây sẽ được mô tả trong chương 3 gợi ý rằng thực ra là có
    một hằng số vũ trụ rất nhỏ.

    (Hình 1.14)
    Quan sát về các thiên hà chỉ ra rằng vũ trụ đang giãn nở:
    khoảng cách giữa hầu hết các cặp thiên hà đang gia tăng.

    Thuyết tương đối rộng đã thay đổi hoàn toàn việc bàn luận
    nguồn gốc và số phận của vũ trụ. Một vũ trụ tĩnh tại có thể tồn tại
    mãi mãi hoặc có thể được tạo ra với hình dạng hiện nay của nó tại
    một thời điểm trong quá khứ. Tuy vậy, nếu bây giờ các thiên hà
    đang rời xa nhau, điều đó có nghĩa là trong quá khứ chúng đã
    từng rất gần nhau. Khoảng 15 tỷ năm trước đây, chúng đã từng
    chập lại với nhau và mật độ rất lớn. Trạng thái này được một linh
    mục Công giáo tên là Georges Lemaitre, người đầu tiên nghiên
    cứu về nguồn gốc của vũ trụ gọi là “nguyên tử nguyên thủy” mà
    ngày nay chúng ta gọi là vụ nổ lớn.

    Kính viễn vọng 100-inch tại đài quan sát Mount Wilson.
    Dường như Einstein chưa bao giờ nghiên cứu vụ nổ lớn một
    cách nghiêm túc. Rõ ràng là ông nghĩ rằng mô hình đơn giản về
    vũ trụ giãn nở đồng nhất sẽ không đúng nếu người ta theo dõi
    chuyển động của các thiên hà trong quá khứ và rằng các vận tốc
    biên của các thiên hà có thể làm cho chúng không chạm vào nhau.
    Ông nghĩ rằng trước đó vũ trụ ở pha co lại và trượt qua nhau để
    chuyển sang pha dãn nở hiện nay với một mật độ trung bình. Tuy
    vậy, bây giờ chúng ta biết rằng để cho các phản ứng hạt nhân ở
    trong vũ trụ ban đầu tạo ra một lượng lớn các nguyên tố nhẹ mà
    chúng ta quan sát được xung quanh, thì mật độ cần phải lớn hơn
    0.64 tấn/cm3 và nhiệt độ...
     
    Gửi ý kiến

    vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Việt Nam